Bài ca Trường Quảng Trạch


DẠY VÀ HỌC. Như một điều tâm nguyện sâu xa, tôi  đã dành trọn chiều và suốt đêm nay tại phòng đợi máy bay để đưa lên mạng Bài ca Trường Quảng Trạch. Bốn mươi lăm năm trước, Thầy Trần Đình Côn đã khóc đưa chiếc áo máu cha tôi bị bom Mỹ giết hại vào phòng truyền thống của Trường và viết nên những câu thơ cháy lòng: “Thương em cảnh gieo neo mẹ mất/ Lại cha già giặc giết hôm qua/ Tình thầy, tình bạn, tình cha/ Áy là tình Đảng thiết tha mặn nồng” Thầy ơi ! các Thầy Cô và bạn bè đã giúp em nghị lực vượt lên mồ côi, đói nghèo để biết sống phúc hậu, nghị lực  và lảm người có ích . Em nay đọc thơ Thầy mà rưng rưng nước mắt biết ơn KÝ ỨC THỜI GIAN. Lời của thầy theo mãi bước em đi. “Hồi tưởng lại những mùa thu ấy/ Bao ngày qua biết mấy buồn vui/ Đắng cay nay mới ngọt bùi/ Đường đi muôn dặm đã ngời mai sau”.

Quảng Bình Quê Ta Ơi

Sáng tác : Hoàng Vân
Trình bày :NSND Thu Hiền

BÀI CA TRƯỜNG QUẢNG TRẠCH

Trần Đình Côn
Hiệu trưởng đầu tiên của Trường

Hồi tưởng lại một mùa thu ấy
Mấy thu rồi biết mấy đổi thay
Khởi công ròng rã tháng ngày
Dốc lòng , dốc sức dựng xây trường mình

Vùng các trắng biến thành ao cá
Rừng dương xanh lộng gió vi vu
Giếng thơi trong suốt ngọt ngào
Cổng trường cao rộng đón chào anh em

Trường Quảng Trạch trên miền Quảng Thọ
Tên trường ta chữ đỏ vàng son
Tên Tổ Quốc, tên yêu thương
Thơm dòng sữa mẹ quê hương xa gần

Phòng học mới cửa xanh, ngói đỏ
Lá cờ sao trước gió tung bay
Tình em, tình bạn, tình thầy
Mỗi ngày thêm nặng, mỗi ngày thêm sâu.

Lòng những tưởng khởi đầu vất vả
Để năm sau tất cả tiến lên
Ai ngờ giặc Mỹ đê hèn
Tường vôi tan nát, khói hoen mặt người.

Cuộc sống đã sáng ngời lửa thép
Đạn bom nào uy hiếp được ta
Cổng trường, mái ngói, tường hoa
Đã thành gạch vụn xót xa hận thù

Đã đến lúc thầy trò sơ tán
Xa thị thành về tận xóm thôn
Bầu Mây, Phù Hợp, Đồng Dương
Trắng trong cồn cát mái trường thêm xinh

Phá trường ngói trường tranh ta dựng
Đắp luỹ dày, hầm vững, hào sâu
Khiêng bàn, vác gỗ đêm thâu
Lưng trời đạn xé, ngang đầu bom rơi.

Nơi Hầm Cối 3 xa vời em đến
Qua Khe Sâu 4 đá nghiến nát chân
Nhớ khi bụng đói lạc đường
Càng căm giặc Mỹ, càng thương chúng mình.

Chí đã quyết hi sinh chẳng quản
Lòng đã tin vào Đảng , vào dân
Kết liền lưc lượng Công Nông
Ghi sâu tình bạn Hải quân anh hùng

Sông Gianh đó vẫy vùng một cõi
Thép hạm tàu chói lọi chiến công
Đôi ta chiến đấu hợp đồng 5
Vít đầu giặc Mỹ xuôi dòng nước xanh.

Ngày thêm nặng mối tình kết nghĩa
Nơi “vườn đào” đất mẹ Phù Lưu 6
Cùng nhau chung một chiến hào
Trao quà chiến thắng vui nào vui hơn

Từ ấy đã nghìn đêm có lẽ
Có phút nào giặc Mỹ để yên
Chất chồng tội ác ngày đêm
Lửa thù rực cháy đốt tim muôn người

Ôi những cảnh rụng rời thê thảm
Mái nhà tranh giáo án thành tro
Mẹ già, anh chị, em thơ
Xương bay, thịt nát, cửa nhà tan hoang

Lớp học đó chiến trường em đó
Nín đi em hãy cố học chăm
Giành điểm bốn, giành điểm năm
Ấy là diệt Mỹ chiến công hàng ngày.

Đã có bạn có thầy giúp đỡ
Khó khăn nào lại khó vượt qua
Miếng khi đói gói khi no
Lưng cơm hạt muối giúp cho bạn nghèo

Thương em cảnh gieo neo mẹ mất
Lại cha già giặc giết hôm qua
Tình thầy tình bạn tình cha
Ấy là tình Đảng thiết tha mặn nồng.

Có những lúc đêm đông giá rét
Thầy bên em ai biết ai hay
Hầm luỹ thép, ngọn đèn khuya
Mùa đông sưởi ấm, mùa hè mát sao.

Nào Văn học lại nào Toán Lý
Giảng cho em nhớ kỹ từng lời
Cho em học một biết mười
Cho em học chóng nên người tài cao

Dắt em tận năm châu bốn biển
Mắt nhìn xa nghĩ đến mai sau
Đây Lạng Sơn đó Cà Mau
Giang sơn hùng vĩ, địa cầu lừng danh

Đưa em lên sao Kim sao Hoả
Để em nhìn cho rõ nước ta
Hiểu ngày nay ,hiểu ngày xưa
Hùng Vương, Nguyễn Trãi gần là Quang Trung

Em càng hiểu anh hùng thời đại
Có Bác Hồ chỉ lối ta đi
Dù địch phá, dù gian nguy
Trường ta vững lái cứ đi cứ về

Tuổi thanh niên sơ gì việc khó
Khó khăn nhiều tiến bộ càng nhanh
Đã nuôi chí lớn ắt thành
Có thầy, có bạn, có mình, có ta.

Thiếu phấn viết làm ra phấn viết
Sách giáo khoa ta chép thâu đêm
Sản xuất kết hợp học học hành
Như chim đủ cánh cất mình bay cao.

Ruộng tăng sản bèo dâu xanh biếc
Cấy thẳng hàng buốt thịt xương đau
Độ pH cách trừ sâu
Chiêm mùa sau trước trước sau khác gì.

Sổ tay đó em ghi phân bón
Ước mơ sao năm tấn thành công
Bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông
Bức tranh tuyệt đẹp ruộng đồng bao la

Những đêm sáng trăng ngà trong suốt
Vút lên cao thánh thót lời ca
“Hoa Pơ lang” 7 ấy bông hoa
Tây Nguyên đẹp nhất thiết tha gửi lời
“Nổ trống lên rừng núi ơi” 8
“Bài ca may áo” 9 “Mặc người dèm pha” 10

Thân múa dẽo kết “Hoa Sen” 11 trắng
Giữa hội trường rực sáng đèn xanh
Tưởng chừng lạc đến cảnh tiên
Tưởng chừng thiếu nữ ở miền Thiên Thai.

Ai biết đó con người nghèo khổ
Con Công Nông bỗng hoá thành tiên
Rũ bùn em bước đi lên
Bùn tanh mà đã lọc nên hương trời.

Trường ta đó ấy nơi rèn luyện
Mấy năm qua bao chuyện anh hùng
Ngày xưa Phù Đổng Thiên Vương
Ta nay lớn mạnh phi thường lạ chưa?

Trong chiến đấu xông pha diệt Mỹ
Lập công đầu dũng sĩ tiền phương
Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan
Châu Âu châu Á từ trường mà ra

Dù ở tận Cu Ba châu Mỹ
Vẫn ngày đêm suy nghĩ về ta
Dú cho ở lại quê nhà
Xóm thôn xã vắng vẫn lo sớm chiều

Lo nước đủ phân nhiều lúa tốt
Cảnh ruộng đồng hợp tác vui thay
Mỗi khi bưng bát cơm đầy
Dẽo thơm một hạt nhớ thầy năm xưa

Ôi có những phút giờ sung sướng
Là những khi cờ Đảng trao tay 12
Anh em bè bạn sum vầy
Tiếng cười xen tiếng vỗ tay kéo dài

Có những lúc nghe đài Hà Nội
Vang truyền đi thế giới gần xa
Tin trường ta, tin chúng ta
Hả lòng, hả dạ ước mơ nào bằng

Có những lúc báo Đoàn báo Đảng
Đăng tin trường khai giảng thành công
Tin một năm, tin ba năm
Như luồng gió mới lửa hồng bùng lên

Trên màn bạc giữa nền ánh điện
Phim trường ta chiếu rạng khắp mơi  13
Châu Âu châu Mỹ xa xôi
Năm câu bốn biển rõ mười tin vui

Hay biết mấy xem người trong ảnh
Ta xem ta xem cảnh trường ta
Này hầm, này luỹ, này nhà
Kìa thầy kìa bạn kìa là xã viên

Phù Lưu đó ruộng liền thẳng cánh
Bầu Mây đây đúng cảnh trong phim
Sáng bừng như mặt trời lên
Chói ngời như một niềm tin tuyệt trần.

Chào 68 mùa xuân tuyệt đẹp
Cả trường đang vang nhịp tiến công
Đón xuân với cả tấm lòng
Đầy trời lửa đạn súng giòn chào ta

Duyên thiên lý một nhà sum họp
Người tuy đông mà một lòng son
Nào khách quý nào tri âm
Bốn phương quy tụ xa gần về đây

Thời gian hỡi dừng ngay cánh lại
Giờ vui ơi xin hãy khoan thai
Rượu nồng chưa uống mà say
Bữa ăn quên đói, chuyện dài thâu canh

Vui gặp chị gặp anh thân thiết
Chuyện xa gần khôn xiết nói sao
Yêu nhau xin nhớ lời nhau
Thù chung đã nặng càng sâu thù nhà

Con khôn lớn mẹ cha đẹp mặt
Trường vững vàng Đảng ắt mừng vui
Cờ hồng bạn lại trao tay 14
Phất cao cho đến tầng mây xa vời

Sức ta ước chọc trời khuấy nước
Khó khăn nào chặn bước ta đi
Mỗi năm xuân đến một thì
Xuân này hơn hẵn mấy kỳ xuân qua.

Có nghe chăng Bác Hồ ra lệnh
“Tiến lên toàn thắng ắt về ta”
Tiến lên giành lấy tự do
Tiến lên giành lấy thời cơ diệt thù

Hồi tưởng lại những mùa thu ấy
Bao ngày qua biết mấy buồn vui
“Đắng cay nay mới ngọt bùi
Đường đi muôn dặm đã ngời mai sau”

Lời Bác dạy ghi sâu trong dạ
Ngọn đèn pha chiếu toả muôn nơi
Trang sách rộng nghĩa đường đời
Học hành kết hợp nên người tài ba

Nay sum họp mai đà li biệt
Tiễn người đi lại tiếp người vào
Kể sao vui sướng dạt dàoào
Người sao vương vấn ra vào băn khoăn

Đã vì Đảng vì Dân vì Nước
Tiến lên đi nhanh bước tiến lên
Lòng thầy luôn ở bên em
Đường lên sao Hoả, sao Kim xa gì?

Đi đâu cũng hướng về Quảng Trạch
Cũng có ngày gặp mặt các em
Nhắc bao kỷ niệm êm đềm
Báo công nghi tiếp nên thiên sử vàng …

7.11.1968

TĐC

1) Xã trường đóng từ 9/1962- 6/1965
2) Những tên đất, tên làng trường sơ tán từ 1965 đến1968
3) Tên rú nơi các em đi lấy gỗ
4) Tên khe nơi các em đi qua
5) Trận chiến đấu hợp đồng giữa Trường và đơn vị kết nghĩa Hải quân sông Gianh
6)  Nơi làm lễ kết nghĩa giữa ba đơn vị 11/1965
7, 8, 9, 10) Tên các ca khúc mà các em thường hát
11) Điệu múa truyền thống của Trường
12) Lễ tiếp nhận lần thứ nhất Cờ Lao động XHCN của Hội đồng Chính phủ trao tại Cao Mại ngày 30/8/1967
13)Bộ phim Trường Quảng Trạch do nhà quay phim Ma Văn Cường dựng 5/12/1965
14) Lễ treo tặng lần thứ nhất Cờ Lao động XHCN của Hội đồng Chính phủ và Bằng Khen của Tổng Công Đoàn tại Phù Lưu ngày 4/1/1968

Xem tiếp

Về lại mái trường bên dòng Gianh

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Về lại mái trường bên dòng Gianh

NGỌC PHƯƠNG NAM Kỷ niệm 50 năm thành lập Trường Cấp 3 Bắc Quảng Trạch / Phổ thông Trung học số 1 Quảng Trạch.. Một số hình ảnh và cảm nhận.

Bài ca Người giáo viên nhân dân – Lan Anh


Sáng tác : Hoàng Vân
Trình bày : Lan Anh



Ảnh tư liệu và biên tập:
Trần Văn Minh, Hoàng Kim
Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Cây Lương thực trong văn hoá Việt

Food Crops in Vietnam’s culture

VietNam Airlines Commercial

I love VietNam Airlines Commercial.
I love how they show Vietnam’s culture in this video.
I love the view of the lotus field.
I love the idea of steaming rice in the lotus leaf.

Anthony Bourdain: No R…: Anthony Bourdain – Banh Mi in Vietnam

Anthony Bourdain returns to Vietnam, a food destination like none other in the world, where he samples Banh Mi — a hearty sandwich loaded with ham, cucumbers, dressing, and topped off with a fried egg. New episodes of Anthony Bourdain: No Reservations air Monday nights at 10PM ET, only on the Travel Channel. http://www.travelchannel.com/TV_Shows/Anthony_Bourdain

Cây Lương thực Việt Nam hiện trạng và định hướng phát triển

 

CÂY LƯƠNG THỰC. Khái quát hiện trạng sản xuất cây lương thực ở Việt Nam. Định hướng nghiên cứu phát triển cây lương thực. “Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011-2020 của Bộ Nông nghiệp và PTNT. “Kế hoạch tổng thể nghiên cứu nông nghiệp Việt Nam tầm nhìn đến năm 2020”xem tiếp

 

Trở về trang chính

 

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC


Vua Hùng là vua Lúa ?

NGỌC PHƯƠNG NAM Trang “Blog của 5 xu” có bài viết Vua Hùng tên thật là gì? Chữ Hùng (trong Hùng vương, Hùng điền) hay chữ Lạc (trong Lạc vương, Lạc điền, Lạc hầu, Lạc tướng) chữ nào có trước? Trích dẫn văn bản “Giao Châu ngoại vực ký” và “Nam Việt chí”, tác giả đưa ra ý kiến lý thú: Lạc có trước , Hùng có sau. Lạc là sự đọc chệch đi của Lúa, chim Lạc là chim Lúa, vua Hùng là vua Lúa. Người Mường, cùng ngôn ngữ với người Việt cổ, gọi Lúa là Ló là Lọ. Tục ngữ người Mường có câu “Cơm mường Vó, Ló mường Vang”. Tôi (HK) trước đây đã biết về câu tục ngữ này, nay chuyên dạy và học cây lương thực. Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa nên rất thú vị với kiến giải độc đáo “vua Hùng là vua Lúa”. Xin lưu lại tư liệu này v Trống đồng Việt Nam Trống đồng Đông Sơn để tiếp tục nghiên cứu (ảnh Trống đồng Đông Sơn, trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử, Hà Nội, Việt Nam)

1. Hùng và Lạc

Chữ Hùng (trong Hùng vương, Hùng điền) hay chữ Lạc (trong Lạc vương, Lạc điền, Lạc hầu, Lạc tướng) chữ nào có trước?

Chữ Lạc có trước, xuất hiện trong văn bản Giao Châu ngoại vực kí [交州外域記, Jiaozhou waiyu ji]. Cụ thể như sau:

交州外域記曰,交趾昔未有郡縣之時,土地有雒田,其田從潮水上下,民墾食其田,因名為雒民。設雒王雒侯主諸郡縣。縣多為雒將。雒將銅印青綬。

Giao châu ngoại vực kí viết: “Giao Chỉ tích vị hữu quận huyện chi thời, thổ địa hữu lạc điền, kì điền tòng triều thủy thượng hạ/thướng há, dân khẩn thực kì điền, nhân danh vi lạc dân. Thiết lạc vương lạc hầu chủ chư quận huyện. Huyện đa vi lạc tướng. Lạc tướng đồng ấn thanh viện.”

Giao châu ngoại vực kí nói rằng: ‘Jiaozhi/ Giao Chỉ thời xưa khi chưa có quận huyện, đất đai (thì) có ruộnglạc. Những ruộng này theo (sự) lên xuống của con nước, và người dân cày cấy lấy cái ăn [ở] ruộng đó vì thế được gọi là dân lạc. Đặt các ông hoàng lạc (lạc vương), các ông quanlạc (lạc hầu) cai quản ở các quận huyện. Nhiều huyện có tướng lạc (lạc tướng). Các tướng lạc có dấu đồng và dải xanh.’

Chữ Hùng có sau, xuất hiện trong Nam Việt Chí. Cụ thể như sau:

交趾之地頗爲膏腴,徙民居之,始知播植,厥土惟黑壤,厥氣惟雄,故今稱其田為雄田,其民為雄民,有君長亦曰雄王,有輔佐焉亦曰雄侯,分其地以為雄將。(出南越志)

Giao Chỉ chi địa phả vi cao du, tỉ dân cư chi, thủy tri bá thực, quyết thổ duy hắc nhưỡng, quyết khí duy hùng, cố kim xưng kì điền vi hùng điền, kì dân vi hùng dân, hữu quân trưởng diệc viết hùng vương, hữu phụ tá yên diệc viết hùng hầu, phân kì địa dĩ vi hùng tướng.

Vùng đất Jiaozhi/ Giao Chỉ tương đối màu mỡ. Di dân đến sống ở đó, mới bắt đầu biết gieo trồng. Đất ở đây rặt là đất phì nhiêu đen. Khí ở đây mạnh (hùng). Cho nên bây giờ gọi những ruộng ở đây là ruộng hùng, dân ở đây là dân hùng. Có người lãnh đạo tối cao (quân trưởng) cũng gọi là vua hùng (hùng vương). Có những người phụ tá ông ấy [tức ông vuahùng] thì cũng gọi là quan hùng (hùng hầu). Chia đất ở đây để cho các tướng hùng (hùng tướng).

Chi tiết, xin xem bài dịch cực hay “Có các vua “Lạc” hoặc có các vua “Hùng” hay không? Hay là chẳng có cả hai?”.

2.Hùng hay Lạc

Nam Việt Chí ra đời sau Giao Châu ngoại vực ký hàng trăm năm. Quan trọng hơn, chữ Lạc (雒) chữ chỉ là để phiên âm từ tiếng Việt cổ qua chữ Hán cổ. Còn chữ Hùng (雄) là một chữ có nghĩa.

3. Chữ Lạc từ đâu mà có.

Người Việt cổ không có họ. Tên đặt theo nghề. Đến đời Trần vẫn đặt tên theo nghề cá. Lần ngược lên thời Hai Bà, tên người được đặt theo nghề nuôi tằm (Trứng Chắc, Trứng Nhì, rồi được người Tàu văn bản hóa bằng hán tự, rồi được các nhà sử học ngày xưa của VN dịch về tiếng ta thành Trưng Trắc, Trưng Nhị. Có rất nhiều ví dụ về tên nôm của danh nhân được người Tàu hán tự hóa rồi dịch ngược ra tiếng ta. Ai đọc Tạ Chí Đại Trường sẽ nhớ trường hợp rất thú vị của Lý Thường Kiệt – Thằng Kặc. Ngay cả trong lịch sử cận đại, nhiều tên riêng do phiên âm qua chữ latin rồi sau này dịch ngược lại qua tiếng Việt cũng có những biến thể thú vị như Chí Hòa – Kỳ Hòa, Vũng Quýt – Dung Quất).

Quay trở lại với văn bản Giao Châu Ngoại Vực Ký đã nói ở trên, thời cổ người dân sống bằng nghề nông, trồng cây lạc, trên các thửa ruộng lạc, tưới tiêu bằng thủy lợi tự nhiên, dân sống trên ruộng lạc, gọi là dân lạc, thủ lĩnh của dân lạc gọi là lạc vương, dưới lạc vương là các lạc hầu, lạc tướng.

Chữ Lạc chính là chữ lúa. Ruộng lạc là ruộng lúa. Dân lạc là dân (trồng) lúa. Tiếng Việt cổ gọi lúa là Lọ. Phiên âm qua tiếng Hán rồi phiên âm ngược lại tiếng Việt mà trở thành Lạc.

Người Mường (cùng ngôn ngữ với người Việt cổ) gọi Lúa là Lọ hoặc Ló. Tục ngữ người Mường có câu “Cơm mường Vó, Lọ mường Vang” (cám ơn chú Huy Tâm đã dạy cháu từ này).

Qua bao năm lạc lối, tên riêng Lúa của cha ông chúng ta, chạy qua bên Tàu, quay về với các nhà viết sử Việt thời cổ, lạc tiếp vài lần nữa, thành chữ Lạc. Nay nhờ 5xu biết google nghiên cứu mà tìm ra nghĩa gốc của từ. Chúc mừng Vua Lúa (nước) tục gọi Hùng Vương. Chúng con xin trả tên đúng về cho cụ.

Xem thêm “Con chim Lạc là con chim gì?”Biển Đông. và 16 cảm nhận

Nguồn: http://5xublog.org/2012/01/06/vua-hung-ten-th%E1%BA%ADt-la-gi/

Những bài liên quan:

Trống đồng Việt Nam

Trống đồng Việt Nam phân bố ở nhiều nơi  Trên đất nước ta, từ Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn… đến Thanh Hóa, Nghệ An, Đồng Nai, Sông Bé, Khánh Hòa, Vũng Tàu… vào tận vùng hải đảo xa xôi Phú Quốc. Ngoài ra, bằng con đường giao lưu văn hóa hoặc trao đổi, trống đồng Việt Nam vượt biên giới đến những nước lân cận trong khu vực Đông Nam Á như Indonesia, Thailand, Malaysia…

Trống đồng Việt Nam có nhiều loại hình, nhưng tất cả khởi nguồn từ trống Đông Sơn mà đỉnh cao là sự hoàn thiện kỹ thuật chế tạo là trống đồng Ngọc Lũ.

Trống đồng Việt Nam có niên đại khởi đầu khoảng thiên niên kỷ I trước Công nguyên cho đến một vài thế kỷ sau công nguyên. Nó là sản phẩm đầy trí tuệ của người Việt cổ, cộng đồng cư dân đã chinh phục vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã, một vùng đất chứa nhiều sản vật thiên nhiên nhưng cũng đầy thử thách. Tổ tiên ta đã vượt lên những khắc nghiệt của thiên nhiên bằng sự dũng cảm, thông minh và sáng tạo hiếm có đã tạo nên kỹ thuật luyện kim đồng thau bản địa, nền văn hóa đồng thau vào loại bậc nhất Đông Nam Á.

Trống đồng là biểu hiện tập trung nhất những thành tựu trong sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội và quyền uy của một nhà nước được xác lập đầu tiên trên đất nước ta – Nhà Nước Hùng Vương. Trống đồng và những hình khắc họa trên trống đã giúp chúng ta ngày nay hình dung được đôi nét về cuộc sống của người Việt cổ ở thời xa xưa ấy. Hoa văn trên trống đồng có nhiều loại, kiểu bố trí hợp lý trên các phần mặt, tang và thân trống. Nó được các nhà nghiên cứu tìm hiểu, phân tích để làm một trong những cơ sở khoa học trong phân loại trống và khắc họa những nét sinh hoạt kinh tế, xã hội, văn hóa Đông Sơn thời bấy giờ.

Trống Đồng Đông Sơn: là một loại nhạc cụ dùng trong các buổi lễ hay khi đi đánh nhau. Trống đồng được tìm thấy ở nhiều nơi trên đất Việt Nam, như Thanh Hóa (Đông Sơn, 24 trống), Hà Đông (9 trống), Bắc Ninh, Cao Bằng (mỗi tỉnh 3 trống), Hà Nam, Hà Nội, Hoà Bình, Kiến An (mỗi nơi 2 trống), Nam Định, Lào Cai, Sơn Tây, Yên Bái, Hải Dương, Nghệ An, Thủ Dầu Một, Kontum (mỗi nơi một trống). Ở Hoa Nam thì tìm thấy nhiều nhất, ở Vân Nam (5 trống). Các tỉnh khác thì Quế Châu, Quảng Tây, Tứ Xuyên (mỗi tỉnh tìm thấy 3 trống), Quảng Đông (2 trống). Tại Cam bốt, Lào, Thái Lan, Miến Điện, MãLai, Nam Dương cũng thấy nhiều trống đồng cổ. Riêng Thái Lan và Lào cũng như ở xứ Mường (thượng du Việt Nam) ngày nay người ta vẫn còn dùng trống đồng. Trống đồng đẹp nhất phải kể đến các trống Ngọc Lũ, Hoà Bình, và Hoàng Hạ.

Trống Đồng Ngọc Lũ: 

 

Tìm thấy ở chùa Ngọc Lũ (Hà Nam) vào năm 1901. Trống này cao 0,63 mét (1.8 ft), đường kính mặt trống 0,86 mét (2.5 ft), được trang trí bằng các hình chạm sâu xuống cả trên mặt trống lẫn tang trống. Chính giữa mặt trống là một hình ngôi sao (hay mặt trời) 14 cánh. Chung quanh ngôi sao này là 16 vòng tròn đồng tâm có trang trí bằng nhiều hình kỷ hà hay hình vẽ khác nhau. Giữa vòng thứ 5 và thứ 6 có khắc hình 2 căn nhà mái cong, có sàn, trong có người tóc dài ngồi. Trước nhà là 4 dàn trống và đoàn vũ nhạc nhảy múa, thổi khèn. Sau nhà có 2 người đang giã gạo. Xen kẽ với 2 nhà sàn trên là 2 nhà sàn mái tròn trong có người cầm kiếm. Trước nhà này có một người tay phải cầm kiếm, tay trái cầm một con chim. Sau nhà là một đoàn võsĩ cầm lao, cầm kiếm đang múa. Giữa vòng thứ 7 và thứ 8 có chạm hình 2 đàn hươu (10 con mỗi đàn) và xen kẽ với 2 đàn chim đang bay (mỗi đàn 8 con). Giữa vòng thứ 8 và thứ 9 có khắc 18 con chim mỏ dài đang bay, xen kẽ với 18 con chim đang đậu dưới đất. Trên tang trống, phần phình ra có khắc hình thuyền trên có những người cầm lao, kiếm, cung, đang chuẩn bị chiến đấu, hoặc đang nhảy múa hoặc chèo thuyền. Trên phần thẳng đứng có những đường trang trí kỷ hà thẳng đứng hay nằm ngang đóng khung lấy những hình người cầm rìu và lá chắn.

 

Trống Đồng Hòa Bình: 

Tìm thấy ở Mường Dâu, Hòa Bình. Trống này được gọi là trống Moulié (tên người mua được và tặng lại cho Viện Bảo Tàng). Trống này được tàng trữ trong Bảo Tàng Quân Đội Pháp, rồi được chuyển cho Bảo Tàng Viện Guimet (Paris).

Trống Đồng Hoàng Hạ : 

 

Tìm thấy ở làng Hoàng Hạ (Hà Đông), cao 0,615 mét (1.84 ft) và đường kính mặt trống là 0,78 mét (2.3 ft). Mặt trống đồng Hoàng Hạ cũng trang trí bằng các vòng tròn đồng tâm trong đó có khắc hình nhà sàn, người, chim bay. Tang trống chỗ phình ra cũng khắc hình thuyền. Các nhân vật trên thuyền tương tự như ở trống Ngọc Lũ, nhưng thứ tự bố trí hơi thay đổi một chút. Các trống đồng tìm thấy ở Hoa Nam, Lào, Cam bốt, Mã Lai tuy về hình thức (hình dáng và trang trí) có giống trống đồng Lạc Việt, nhưng những nét chạm trổ còn thô sơ vô cùng. Có thể đấy chỉ là những trống bắt chước trống Lạc Việt một cách vụng về mà thôi. Trống đồng Hoàng Hạ là một di vật rất quý.

Trống là một cổ vật của chung miền Nam Á, gồm cả Tàu, Việt, Miên, Thái, Phi, Miến, Mã Lai, Nam Dương… mà trung tâm phát xuất lớn nhất là Việt Nam. Trống đã xuất hiện lu bù ngay từ thời khuyết sử, dưới rất nhiều hình thức như trống đất, trống gỗ, trống đồng, trống cầu mưa, trống sấm, trống vu hích, trống cầm canh… kể ra không hết. Huyền thoại có nói đến trống da quì (giao long) của Hoàng Đế, trống một chân của nhà Hạ (túc cổ), trống có lỗ thông giữa của nhà Thương (doanh cổ)… lịch sử Tư Mã Thiên có nhắc tới vụ vua nhà Chu cho Tần Mục Công một chiếc trống đồng vào năm 623 trước công nguyên. Riêng với Việt Nam, năm 43, lúc Mã Viện sang đánh Trưng Nữ Vương đã thu hết trống đồng đưa về tặng bạn bè, hoặc phá ra đúc ngựa mẫu. Từ đấy, trống bị quên lãng dần dưới ách ngoại bang… Trong Lĩnh Nam Trích Quái, có truyện “Minh chủ Đồng cổ sơn thần truyện” nhắc tới trống theo khía cạnh này. Đến thời Pháp thuộc, vào lối 1885- 1895, thực dân mới nhận ra trống đồng là một di vật rất quý, nên tìm mua khắp nơi. Xin ghi lại đây mấy chiếc nổi tiếng. Trước hết là 2 chiếc loại thời danh nhất: Một do Moulié lấy được của bà góa quan lang người Mường ở miền Sông Đài tỉnh Hoà Bình. Chiếc này được đem trưng bày ở Hội Chợ Quốc Tế Paris 1889 rồi mất tích. Đến năm 1936 thấy xuất hiện ở bảo tàng viện Guimet. Hai, là chiếc trống Khai Hóa, do Gillet lấy được ở một tù trưởng Miêu tộc trên Vân Nam, cũng đưa đi đấu xảo ở Paris, rồi mất tích. Sau thấy xuất hiện ở bên Đức, tại bảo tàng viện dân tộc học thành Vienne. Chiếc trống đồng thứ ba là trống Ngọc Lũcủa chùa Long Đại Sơn, làng Ngọc Lũ, tỉnh Hà Nam. Năm 1901, trường Viễn Đông Pháp đã nhờ trung gian chánh sứ Phủ Lý lấy trống ấy về Viễn Đông Bác Cổ, nay ở Hà Nội. Chiếc trống thứ tư là trống Hoàng Hạ, tìm được vào năm 1932, nhân lúc khai sông gần làng Hoàng Hạ, tỉnh Hà Đông. Trống được trao cho trường Viễn Đông Pháp, để ở bảo tàng viện Finot, nay cũng ở Hà Nội. Đó là cặp trống đẹp nhất, cổ nhất, hơn cả 2 trống Sông Đà và Khai Hóa… Có thể kể ở đây chiếc trống thứ năm, gọi là Trống Hà Nội, được Anderson mua, đưa về Stockhom. Và chiếc thứ sáu là trống Lào, tìm được bên đường cái Oubon bên Lào vào năm 1924. Theo Goloubew, chiếc trống này rất đẹp, cũng vào hạng cổ nhất, vì ít bị kiểu thức hóa. Mặt trống rộng 86 cm, cao 54 cm. Vòng 1 có 5 cặp vật giống giao long châu đầu vào nhau. Có nai và cả cá nữa. Về loại to nhất có trống Đông Hiếu (Nghệ An) rộng 89 cm, hiện ở Hà Nội. Theo Goloubew, còn một chiếc trống rộng tới 1 mét (3 ft) của một tay chơi người Pháp tên là Nelson trước ở Bắc Xế, Lào. Nghe nói ở bên Mỹ có một trống to cả thước mặt, hay là chiếc trống nói ở đây chăng? (Chúng tôi thấy có một trống rất lớn ở bảo tàng Chicago. Hay là chính nó?). Phân Loại Trống Đồng Bên Tây Âu có dấu vết đã biết về trống đồng từ năm 1682 (xem Asie du Sud Asiatique, Tome II Le Vietnam, L. Bezacier, Paris, Picard 1972). Nhưng mãi tới cuối thếkỷ 19 mới có học giả bàn về trống đồng như Hirth (1890) mà ông cho là bởi Tầu. Rồi De Grooth (1901) cho là của Việt Tộc. Ông Franz Heger, một học giả người Đức làm cố vấn trong hội nghị nghiên cứu về Viễn Đông ở Hà Nội năm 1902 đã cho xuất bản tại Leipzig 2 quyển về trống đồng cổ ở Đông Nam Á. Sách in khổ lớn, có 45 hình và một bản mục lục về tất cả các diễn đề. Ông Heger chống lại ý kiến của Hirth cho trống đồng là sản phẩm của Tầu, ủng hộ ý kiến của Grooth cho là của Việt Tộc, quả quyết trung tâm các cuộc tìm kiếm sau này về trống đồng phải là ở Bắc Việt, và xin người Pháp chú ý đến di vật đầy tính chất văn hóa này. Ông Heger phân chia 165 chiếc trống được biết đến lúc ấy thành 4 loại. Vì sự phân chia này được các học giả công nhận, nên chúng ta cần duyệt qua để có một ý niệm khái quát:

 

Loại I thường lớn, thân trống hình trụ thẳng đứng. Mặt dưới để trống, mặt trên có hình sao đúc nổi với 12 cánh. Trên một số trống, chỉ có 8 cánh sao, như trống Quảng Xương. Hoặc 14 cánh như trống Ngọc Lũ, Sông Đà, Thượng Lâm. Hoặc 16 cánh như trống Hoàng Hạ, Salayar. Loại I này tìm được nhiều nhất ở Việt Nam, tiêu biểu nhất là trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, và Sông Đà.

 

Loại II thân trống chỉ có 2 phần, không có hình người hay vật nữa, thay vào đó toàn là hoa văn hình học. Trên mặt trống thường có hình khối 4 con cóc, đôi khi 6 con. Mặt trời có 8 tia. Loại này tìm thấy nhiều ở Việt Nam cũng như mạn Nam Trung Hoa.

 

Loại III quai nhỏ đẹp. Mặt trời có 12 cánh. 4 góc mặt có cóc, thường là 3 con chồng lên nhau thành 12. Trang trí toàn bằng đồ án hình học và hoa văn. Dưới chân có đoàn voi đúc nổi đi chung quanh cây “đời sống”. Đôi khi ốc thay voi. Người ta tìm thấy loại này ở Miên. Loại IV riêng của Tầu như được chứng tỏ bằng hồi văn gẫy khúc. Kích thước thường nhỏ, không có cóc. Ngôi sao bao giờ cũng 12 tia, nhiều khi nói rõtên 12 con vật địa chi. Loại này cũng như loại III, đều xuất hiện muộn, nhưng chưa xác định được niên đại. Ngoài 4 loại trên có thể kể thêm loại trống Trấn Ninh (Vân Nam) mới tìm được hồi năm 1955, trên mặt có những khối hình người và thú (bò, ngựa, chó) diễn lại những cảnh sống: săn, chiến, lễ… Loại này khác hẳn ở chỗ thân trống cao, trên mặt thêm nhà cùng hình khối, quai là 2 con hổ.

Nguồn: http://vietsciences.free.fr/vietnam/phongtuctapquan/trongdongvietnam.htm


Thanh Hóa ngày nay, vùng đất Cửu Chân xưa với lưu vực sông Mã là một trong những trung tâm thời đại kim khí, địa bàn trọng yếu của Quốc gia Văn Lang – Âu Lạc thời các vua Hùng, là một trong những trung tâm quan trọng trong việc chế tạo, sử dụng, giao lưu, trao đổi trống đồng cổ của Việt Nam.



Lưu vực sông Mã là nơi phát hiện, sớm khai quật di tích văn hoá Đông Sơn phân bố dày đặc từ đồng bằng, trung du đến miền núi Thanh Hóa (trên 100 địa điểm). Đây cũng là nơi sưu tầm được trống loại I Heger, được mệnh danh là trống Đông Sơn. Trống Đông Sơn phát hiện ở Thanh Hoá nhiều nhất so với các địa phương trên toàn quốc (trên 60 trống) loạiI Heger. Thanh Hoá còn là nơi tìm thấy 26 trống loại II Heger tính đến năm 1999 (sau tỉnh Hoà Bình) và là nơi có 2 di tích thờ trống đồng cổ làm thành hoàng.Nghệ thuật trống Đông Sơn ở Thanh Hoá không tách rời nghệ thuật Đông Sơn nói chung và nghệ thuật trống đồng ở Việt Nam nói riêng. Nền nghệ thuật ấy có cội nguồn từ nghệ thuật tạo hoa văn trên đồ gốm Tiền Đông Sơn và có sự thống nhất, ổn định ở chính địa bàn Thanh Hoá.

Ngoài những nét chung, nghệ thuật trống Đông Sơn Thanh Hoá có những nét riêng.Về hình dáng, dòng trống lưng thẳng không chỉ ổn định trên trống Đông Sơn ở Thanh Hoá giai đoạn sớm mà còn xuyên suốt các loại trống muộn sau này, nhất là những trống loại II Heger ở Thanh Hoá. Tỷ lệ giữa chiều cao và đường kính mặt của trống Đông Sơn ở Thanh Hoá chưa ổn định.
Tư liệu đã khảo sát cho thấy, người Việt cổ ở Thanh Hoá có xu thế muốn mở rộng bề mặt trống, tạo nên dáng trống thấp bè. Điều này về mặt nghệ thuật người Việt cổ đã khắc phục bằng cách tạo cho mặt trống chờm ra khỏi tang dung hoà được hai yêu cầu về mỹ thuật và âm nhạc. Dưới góc độ nghệ thuật trang trí, ngoài những nét chung so với những trống cùng loại phát triển ở nước ta, trống đồng Thanh Hóa có một số nét riêng độc đáo.

Như chúng ta đều biết, những mô típ trang trí chủ đạo của trống loại I Heger là hình người hoá trang lông chim, hình thuyền, nhà sàn, những vòng tròn có tiếp tuyến và tượng động vật. Những mô típ đó được trang trí trên trống Đông Sơn Thanh Hoá nhưng có nét riêng dễ nhận biết.Hình tượng con thuyền trên trống Đông Sơn ở Thanh Hóa, nhìn chung được khái quát cao. Thuyền có dáng cánh cung, gần với dáng thuyền “thúng” được đan bằng tre nứa, có chiều dài chỉ gấp 2 lần chiều cao.

Trong khi đó, trống Đông Sơn ở các nơi khác có hình thuyền thuôn dài, gợi lại thuyền đua bơi chải, tỷ lệ chiều dài thường gấp 4 đến 8 lần chiều cao. Thuyền được hoá trang hình lông chim là một đặc điểm của trống loại I Heger Thanh Hoá. Ở đây, đầu chim có mỏ dài được trang trí không chỉ đầu thuyền, đuôi thuyền mà cả bánh lái.

Điểm đặc thù nữa là trên thuyền không có mái chèo như các thuyền trên các trống khác. Trang trí đầu chim mỏ dài trên bánh lái thuyền và sự thiếu vắng mái chèo là nét riêng biệt của trống Thanh Hoá.

Người trên thuyền được hoá trang lông chim là đặc điểm chung của trống loại I Heger, song trên trống Thanh Hoá số lượng người trên một thuyền không đông, thường chỉ có 2 người; trong khi đó trống loại I ở các nơi khác số lượng người khá đông, thường là 5 hoặc 7 người, thậm chí đông hơn. Bố cục người trên thuyền ở trống Thanh Hoá cũng có nét riêng đáng ghi nhận.Do số người ít (2 người) và trên thuyền không mái chèo, nên thường bố cục một người đứng ở mũi và một người đứng ở cuối thuyền, mặt hướng về phía trước (mũi thuyền) và cùng nâng một cái “neo”.

Bên cạnh đặc điểm riêng : thuyền hình cánh cung, không mái chèo, bánh lái trang trí đầu chim, người trên rùa trên trống Cẩm Quý, con khỉ trên trống Thạch Thành và đặc biệt hơn cả là chim thiên nga trên trống Hoằng Phụ và con trâu trên trống Vĩnh Hùng phát hiện mới đây. Hình tượng chim thiên nga và con trâu trên cặp trống này chưa hề gặp trên trống đồng phát hiện ở nước ta trước đây. Thân trống Hoằng Phụ (Hoằng Hoá) có 4 vành hoa văn : 2 vành hoa văn hình chim xen 2 vành hoa văn đường tròn có chấm giữa.

Đáng chú ý là hình chim khắc trên trống đồng.Mỗi vành có 4 chim, 2 chim đầu quay lên, 2 chim đầu quay xuống, giãn cách giữa các chim không đều nhau. Chim đầu quay lên mỏ hướng thuận chiều kim đồng hồ, còn chim đầu quay xuống mỏ ướng ngược chiều kim đồng hồ.

Khác với hình chim Lạc thường thấy trên trống Đông Sơn (mỏ dài và nhọn, cổ dài và vươn thẳng, cánh sải rộng và gần vuông góc với thân, chân cao và gấp khúc), chim trên trống Hoằng Phụ mỏ ngắn, cổ cong, hai cánh xoè cong sải về 2 phía, đuôi và lông chim tả thực.

Điểm đáng chú ý là hình chim thiên nga ở đây được diễn tả trong tư thế đang hạ cánh xuống mặt nước. Nghệ nhân xưa đã quan sát khá tinh tế đối tượng miêu tả bằng những nét đơn giản mang tính khái quát cao, bố cục chặt chẽ giữa chim và mặt nước, cánh chim khép hờ dần dần hạ mình xuống, chân ở tư thế chạm nhẹ vào mặt nước gợn sóng, vài tia nước bắn lên. Hình ảnh chim thiên nga sà mặt nước gợi cho người xem cảm giác ấm cúng, thanh bình của đồng quê vùng sông nước.

Trống Vĩnh Hùng (huyện Vĩnh Lộc) thân cao 25,5 cm; đường kính mặt 40cm; đường kính đáy 45cm. Mặt trống không chờm khỏi tang, không có tượng. Tang trống có 3 vành hoa văn (từ trên xuống) : vành 1 hoa văn đường tròn có chấm giữa không tiếp tuyến, vành 2 hoa văn tam giác nhọn đứng, vành 3 và 4 là hoa văn khắc 4 hình thuyền (trên thuyền có người và con trâu). Thân trống có 3 vành hoa văn : vành 1 khắc 8 hình con trâu, vành 2 hoa văn vòng tròn chấm giữa và vành 3 là hoa văn tam giác nhọn đứng. Chân trống không hoa văn. Về loại hình, trống Vĩnh Hùng có thể thuộc loại I Heger nhưng muộn, nếu không phải là loại trung gian I – II Heger.
Đặc biệt là bố cục trâu trên thuyền ở phần tang và con trâu trang trí độc lập ở thân trống. Cả 4 thuyền khắc rất mảnh, mũi thuyền hướng ngược chiều kim đồng hồ, đầu, đuôi và bánh lái trang trí đầu chim có mắt. Trên thuyền có 1 người và 1 con trâu. Người ngồi nghiêng, mặt hướng mũi thuyền, 2 chân dạng, 2 tay nâng vật gì đó trang trí hình lông chim, người trang trí lông chim, do gió thổi nên những lông chim này bay hất về phía sau, để lộ cơ thể người cường tráng. Sau người là 1 con trâu trong tư thế đứng; đầu to mập, 2 sừng lớn cong thuôn nhỏ dần và cụp đều vào phía trong; mắt trâu mở to, không động tử; cổ ngắn dày, có ú nổi ở vai, dưới cổ có yếm sệ; bụng to tròn hơi sa, đuôi to có lông bay về phía sau. Tám con trâu ở phần thân cũng có nét tương tự như vậy nhưng kích cỡ to hơn. Bố cục thuyền, người và trâu khá chặt chẽ. Sử dụng chiều bay của lông chim hoá trang trên người và lông đuôi trâu để diễn tả thuyền đang lướt sóng. Hình tượng con trâu được khắc tạc thành công. Đó là con nghé cái đang tuổi dậy thì chuyển thành trâu. thuyền ít, trên trống Thanh Hoá đã xuất hiện mới nghệ thuật trang trí tượng vịt thay cho vị trí tượng cóc.

Đó là trường hợp 4 khối tượng vịt trên mặt trống Cẩm Giang. Những nét riêng trong thuật trang trí trống loại II ở Thanh Hoá có thể nêu ra một số điểm chính sau đây : Một là sự xuất hiện đồng thời tượng cóc và tượng voi trên một mặt trống (như trường hợp trống Phùng Giáo); hai là xuất hiện hoa văn khắc các động vật như hình con .Theo kinh nghiệm dân gian, trâu cái ở tuổi dậy thì thường có u nổi ở vai, cổ ngắn lại, bụng hơi sệ. Hình tượng con vật này hoàn toàn khác với loại bò u được khắc trên trống đồng Đồi Ro. Đối với nhà nông, nghé chuyển thành trâu là hết sức quan trọng, bởi đây là thời kỳ bắt đầu sử dụng chúng có hiệu quả cao vào sức kéo, bắt đầu thời kỳ sinh sản. Phải chăng đó là điểm chốt của con vật “đầu cơ nghiệp” của cư dân văn hoá Đông Sơn. Hình tượng người và trâu trên thuyền đang lướt sóng ở trống Vĩnh Hùng còn có ý nghĩa gợi lên sự giao lưu trao đổi con vật này giữa các vùng bằng đường thuỷ trong quốc gia Văn Lang, thậm chí rộng hơn, xa hơn.

Nhìn chung, trống đồng Thanh Hoá có nét đặc thù, độc đáo, thường là tả thực, dễ nhận biết nhất là giai đoạn muộn. Mối liên kết giữa các giai đoạn trong dòng phát triển trống Đông Sơn thường biểu hiện rõ qua các hoạ tiết hoa văn hình học, còn các đồ án hoa văn chủ đạo vừa nêu thường có những đột biến, nhảy vọt.

Trống Đông Sơn là sản phẩm của văn hoá Đông Sơn, một biểu hiện sinh động tài năng, trí sáng tạo và trình độ phát triển cao của tổ tiên chúng ta thời dựng nước. Dưới góc độ văn hoá truyền thống, nghệ thuật trang trí trên trống đồng cổ Đông Sơn đã tiếp thu có chọn lọc từ nhiều thế hệ trước đó. Trong sự phát triển của văn hoá Việt Nam, người ta có thể nhận ra những yếu tố truyền thống tiếp thu từ nghệ thuật trống đồng. Nếu như nhà dân tộc học đã nhận ra những mô típ hoa văn trống Đông Sơn trên cạp váy Mường, thì nhà nghiên cứu tôn giáo cũng nhận ra sự ảnh hưởng qua lại giữa nghệ thuật Phật giáo với phong cách trang trí trống loại II. Giới mỹ thuật Việt Nam đương đại cũng đã từng tiếp thu một số yếu tố trên trống Đông Sơn làm phong phú thêm nghệ thuật dân tộc.

Nghệ thuật trống đồng cổ là sản phẩm của một tộc người nhất định, phân bố trên địa bàn nhất định và tồn tại trong một thời gian nhất định. 60 trống loại I và 26 trống loại II phát hiện ở Thanh Hoá là của người Việt cổ, phân bố ở địa bàn Thanh Hoá và tồn tại hàng nghìn năm. Nghệ thuật trống đồng xứ Thanh trong tâm thức người Việt cổ ít biến động trong không gian, nhưng luôn biến đổi theo thời gian. Khảo sát nghệ thuật trống đồng Thanh Hoá mang tính địa phương của một vùng phân bố đậm đặc di tích văn hoá Đông Sơn. Đặt trống đồng cổ loại I và loại II trong thời gian của nó, chúng ta có thể lý giải sự biến đổi mang tính lịch sử. Qua nghìn năm Bắc thuộc, rồi chung tay xây dựng quốc gia độc lập, tự chủ càng chứng tỏ sự trường tồn của một nền văn hoá.

Dưới góc độ bảo tồn và phát huy di sản nghệ thuật trống đồng văn hoá dân tộc đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết, cả yếu tố truyền thống lẫn tình cảm. Trong cơn sốt nguyên liệu đồng, nhiều người đã sử dụng máy dò kim loại để săn tìm trống đồng còn trong lòng đất, cùng với nó là việc mua bán đồ cổ, nhiều trống đồng đã bị phá huỷ hoặc thất thoát. Một số tư nhân hiện đang lưu giữ trống đồng, đòi hỏi quá cao khiến cho việc sưu tầm, nghiên cứu và quản lý trống đồng trở nên khó khăn. Nhiều nơi xuất hiện trống đồng giả, tình trạng buôn bán, trao đổi trống đồng vẫn diễn ra. Nhằm bảo vệ di sản trống đồng, cần tiến hành tổng kiểm kê, lập hồ sơ trống đồng trên toàn quốc.

Đây là cách tốt nhất để quản lý trống đồng đã biết.

Xã hội hóa, dành kinh phí thỏa đáng để truy thu những trống hiện còn trong nhân dân. Trường hợp nơi nào còn, có nhu cầu sử dụng trống đồng cần khôi phục, tổ chức lễ hội trống đồng cùng các hoạt động kèm theo. Đi liền với bảo vệ là phát huy di sản trống đồng. Năm 1998, trống Đông Sơn đã được Chủ tịch nước Trần Đức Lương trân trọng đặt tại trụ sở Liên Hiệp quốc. Qua đó giới thiệu, quảng bá với nhân dân thế giới nét đặc sắc văn hoá cổ truyền Việt Nam , đóng góp chung vào kho tàng văn hoá nhân loại. Nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật trang trí trống đồng Đông Sơn tự nó toát lên cái đẹp, sự kết tinh rực rỡ văn hóa dân tộc.

Nhiều thế hệ người Việt Nam đã tìm cách khai thác, phát huy giá trị thẩm mỹ của nghệ thuật Đông Sơn. Chúng ta đã thấy biểu tượng mặt trống đồng trên màn hình VTV1; trên bìa các trang sách của Nhà xuất bản Thế giới, trên những phù hiệu của ngành hàng không, du lịch Việt Nam, trên những mô hình xây dựng lớn và cả trên văn bằng tiến sĩ khoa học của Việt Nam. Đặc biệt, trống đồng còn được người Mường, người Lô Lô và một số dân tộc khác lưu giữ và sử dụng như một di sản văn hoá đặc sắc của tộc người mình.

Thiết nghĩ, sức sống lâu bền của trống đồng không chỉ là tâm thức mà là ở việc khai thác, sử dụng trống trong cộng đồng người Việt hôm nay. Riêng Thanh Hoá, chúng ta cần khôi phục, phát triển nghề đúc đồng tại làng Trà Đông, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hoá. Gần đây (2006), Hội cổ vật Thanh Hoa phối hợp với các nghệ nhân đúc đồng xã Thiệu Trung đã mở hội thi đúc trống đồng tại Thanh Hóa và tỉnh Thái Nguyên đã có kết quả nhất định. Các trống đúc ra theo hai phương pháp cổ truyền là đổ đồng từ lưng trống và đổ đồng từ ngôi sao trên mặt trống. Hai phương pháp đúc trống đồng đều đạt kết quả khá , song phương pháp đúc trống đổ đồng từ lưng trống khả quan hơn, nguyên vẹn, tạo vẻ đẹp nguyên dáng, thanh thoát như trống đồng cổ xưa nhưng phân tích âm thanh thì thế hệ hậu sinh còn thua xa tiền bối.

Vậy nên tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu về nghệ thuật đúc đồng Đông Sơn. Xây dựng thí điểm mô hình khu công nghiệp-làng nghề đạt tiêu chuẩn về môi trường, kết hợp được cả hai yếu tố làng và nghề (vừa sản xuất – kinh doanh – vừa có dân cư sinh sống nhưng xa nơi sản xuất). Việc xây dựng làng nghề truyền thống tập trung trong thời điểm hiện nay là rất cần thiết. Mục tiêu cơ bản là góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đi đôi với việc giải quyết các vấn đề xã hội. Phát triển ngành nghề thủ công, đòi hỏi phải mở rộng không gian áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, tạo mặt bằng ổn định để phát triển sản xuất, chống ô nhiễm môi trường sinh thái.Vấn đề đặt ra khi đưa làng nghề vào sản xuất tập trung là Nhà nước không nên đầu tư diện rộng như các khu công nghiệp mà cần đầu tư chiều sâu cho khu công nghiệp-làng nghề, như xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, ban hành, hoàn thiện cơ chế, chính sách kích cầu …

Bởi lẽ, làng nghề truyền thống tập trung dưới hình thức khu công nghiệp làng nghề là một mô hình tổ chức sản xuất còn mới mẻ, cần thực thi nhiều giải pháp đồng bộ cùng sự quan tâm, nỗ lực từ nhiều phía. Đó là cơ sở, nền tảng để nghệ thuật trống đồng, nghề đúc đồng Đông Sơn trường tồn cùng thời gian.

Theo Tiến sĩ Đỗ Chung

Nguồn: http://yume.vn/docongkysuu/article/trong-dong-dong-son-tinh-hoa-dan-toc.35AB8E5D.html

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Công việc này trao lại cho em !

NGỌC PHƯƠNG NAM Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ. Chơt thấy lòng rưng rưng. Công viêc  nghề nông cực mà hạnh phúc. Cố lên em nổ  lực không ngừng . Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo. Câu ca ông bà theo suốt tháng năm. Thêm bữa cơm ngon cho người lao động.  Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng. Em ơi hãy học làm ruộng giỏi. Nghề nông thời nào cũng quý kỹ năng. Người dân khá hơn là niềm ao ước Công việc này trao lại cho em. Chùm ảnh sinh viên Nông học ngày ra Trường và hai bài thơ Ơn Thầy, Lớp học trên đồng



ƠN THẦY

Hoàng Kim

Cha ngày xưa nuôi con đi học
Một nắng hai sương trên những luống cày
Trán tư lự, cha thường suy nghĩ
Phải dạy con mình như thế nào đây?

Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất
Cái chết giằng cha ra khỏi tay con
Mắt cha lắng bao niềm ao ước
Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng

Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy
Tương lai con đi, sự nghiệp con làm
Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ
Cha ngã xuống rồi trao lại tay con

Trên luống cày này, đường cày con vững
Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa
Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ
Thôi thúc tim con học tập phút giờ …

LỚP HỌC TRÊN ĐỒNG

Trò đứng trên bờ
Thầy cày dưới ruộng
Roi rói đất lật lên
Thẳng tắp từng hàng từng luống …

Buổi đầu chưa quen đường cày đâu vững
Thầy nắn tay cầm, thầy sửa dáng đi
Trán lấm tấm mồ hôi, trời thì lạnh giá
Nhưng mọi người đều học say mê

Thầy dạy con muốn đường cày đẹp
Phải vững tay cày và thẳng mắt trông
Bước đĩnh đạc, đường hoàng, ngay ngắn
Dóng trâu đi đúng lối, thẳng đường

Con hiểu thầy bày từng lời cặn kẽ
Đâu chỉ dạy cày, thầy dạy đức cho con
Nuôi mục đích trước sau như một
Việc tốt đưa ra, quyết vượt tới cùng …

NỐI NGHIỆP

– Các em học hiểu không?
– Hiểu lắm!
– Em nào ra cày?
Muôn cánh tay giơ lên …

Luống cày chạy băng băng
Đất lành sôi sự sống
Từng hàng, từng hàng lật lên
Áo mới thay dần mặt ruộng

Thầy trò say mê mãi
Dưới ruộng trò cày
Trên bờ thầy hớn hở
Đường cày càng vững vàng hơn…

* * *

Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ.
Chơt thấy lòng rưng rưng.
Công viêc  nghề nông cực mà hạnh phúc.
Cố lên em nổ  lực không ngừng !

Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo.
Câu ca ông bà theo suốt tháng năm.
Thêm bữa cơm ngon cho người lao động.
Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng.

Em ơi hãy học làm ruộng giỏi.
Nghề nông thời nào cũng quý kỹ năng.
Người dân khá hơn là niềm ao ước
Công việc này trao lại cho em.

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Giống khoai lang ở Việt Nam

FOODCROPS. Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới. Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam. Nguồn gốc và đặc tính chủ yếu của một số giống khoai langphổ biến trong sản xuất hiện nay Hoàng Long, Hưng Lộc 4, HL518 (Nhật đỏ), Kokey 14 (Nhật vàng), HL491 (Nhật tím), Murasa Kimasari (Nhật tím 1), HL284 (Nhật trắng), KB1

Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới

Hầu hết những nước trồng nhiều khoai lang trên thế giới đều có bộ sưu tập nguồn gen giống khoai lang. Nơi lưu giữ nguồn gen khoai lang lớn nhất toàn cầu là Trung tâm Khoai tây Quốc tế (Centro Internacional de la Papa – CIP) với tổng số 7007 mẫu giống khoai lang được duy trì năm 2005. Trong số này có 5.920 mẫu giống khoai lang trồng (Ipomoea batatas) và 1087 mẫu giống khoai lang loài hoang dại (Ipomoea trifida và các loài Ipomoea khác). Việc duy trì nguồn gen ở CIP được thực hiện trong ống nghiệm, trên đồng ruộng, bảo quản bằng hạt và được đánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế.

Khoai lang Trung Quốc cho năng suất cao, chịu lạnh nhưng chất lượng không ngon so với khoai lang của Nhật, Mỹ khi trồng ở Việt Nam.

Khoai lang Mỹ nổi tiếng về chất lượng cao, phổ biến các giống khoai lang có ruột củ màu cam đậm, dẽo và có hương vị thơm để tiêu thụ tươi như một loại rau xanh cao cấp và dùng trong công nghiệp thực phẩm. Mỹ hiện đang tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chọn giống khoai lang chất lượng cao giàu protein, vitamin A và có hương vị thơm; ứng dụng công nghệ gen, công nghệ tế bào trong tạo giống.

Khoai lang Nhật cũng nổi tiếng về chất lượng cao với hướng chọn tạo giống khoai lang để sử dụng lá làm rau xanh, làm nước sinh tố và thực phẩm có màu tím hoặc màu cam đậm tự nhiên. Nhược điểm khoai lang Nhật khi trồng ở Việt Nam là thời gian sinh trưởng dài trên 115 ngày.(Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 2006)

Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam

Nguồn gen giống khoai lang Việt Nam chủ yếu được thu thập, đánh giá và bảo tồn tại Trung tâm Tài nguyên Thực vật, thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam với 528 mẫu giống đã được tư liệu hoá (trong đó có 344 mẫu do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chuyển đến) Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (FCRI) có 118 mẫu giống, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc hiện có 78 mẫu giống.. Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh có 30 mẫu giống. (Bảng 4.1).

Tại các tỉnh phía Bắc, các giống khoai lang trồng phổ biến hiện có: Hoàng Long, KB1, K51, Tự Nhiên. Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm (FCRI) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VASI) trong 22 năm (1981-2003), đã tuyển chọn và giới thiệu 15 giống khoai lang tốt theo ba hướng chính: 1) Nhóm giống khoai lang năng suất củ tươi cao, chịu lạnh, ngắn ngày, thích hợp vụ đông, gồm K1, K2, K3, K4, K7, K8, VX37-1, Cực nhanh. Những giống này chủ yếu được nhập nội từ CIP, Philippines, Trung Quốc, Liên Xô (cũ) trong giai đoạn 1980-1986 và tuyển chọn để tăng vụ khoai lang đông. 2) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, nhiều dây lá thích hợp chăn nuôi, gồm KL1, KL5, K51. Các giống này phát triển ở giai đoạn 1986-2000 trong chương trình hợp tác với CIP. 3) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, phẩm chất ngon. gồm việc phục tráng và chọn lọc giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu (Vũ Tuyên Hoàng, Mai Thạch Hoành 1986, 1992), Tự Nhiên (Trương Văn Hộ và ctv, 1999); tuyển chọn và phát triển giống khoai lang KB1 (Nguyễn Thế Yên, 2003).

Ở các tỉnh phía Nam các giống khoai lang hiên trồng phổ biến là HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím), Murasa kimasari (Nhật tím) Kokey 14 (Nhật vàng), HL497 (Nhật cam), HL4, Hoàng Long, Chiêm Dâu, Trùi Sa, Bí Đà Lạt, Dương Ngọc, Tàu Nghẹn, Trùi Sa (Cần Sa), Khoai Sữa, Khoai Gạo.

Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (HARC) và Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (NLU) trong 22 năm (1981-2003) đã tuyển chọn và giới thiệu 7 giống khoai lang có năng suất củ cao, phẩm chất ngon, thích hợp tiêu thụ tươi gồm Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt (1981), HL4 (1987), HL491, HL518 (1997). Các giống khoai lang chất lượng cao có dạng củ đẹp thuôn láng, được thị trường ưa chuộng có HL518, HL491, Kokey 14, Murasa kimasari..

Những năm gần đây, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh cũng đánh giá và tuyển chọn 24 giống khoai lang khảo nghiệm toàn cầu trong chương trình hợp tác với CIP và khảo sát các giống khoai lang nhiều dây lá , năng suất bột cao cho hướng chế biến cồn trong chương trình hợp tác với công ty Technova và công ty Toyota Nhật Bản (Hoàng Kim 2008).

Bảng 1: Nguồn gen giống khoai lang đã được đánh giá tại HARC và NLU (1993-2009)

Những giống khoai lang phẩm chất ngon đang được đánh giá và tuyển chọn trong đề tài “Thu thập, khảo sát, so sánh và phục tráng giống khoai lang tại huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai 2008-2010”. Đây là nội dung hợp tác giữa Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, Viện Sinh học Nhiệt đới, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và Phòng Nông nghiệp Xuân Lôc. Kết quả bước đầu có HL518, HL491, Kokey 14, HL284, HL536 (CIP 083-14), HL574 (Cao sản), HL585, HL597 (Hoàng Kim, Trần Ngọc Thùy, Trịnh Việt Nga, Nguyễn Thị Ninh 2009)

4.3 Nguồn gốc và đặc tính chủ yếu của một số giống khoai lang

Giống khoai lang HOÀNG LONG

Hoàng Long là giống khoai lang phổ biến ở Việt Nam. Nguồn gốc Trung Quốc nhập nội vào Việt Nam năm 1968. Giống do Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh tuyển chọn và giới thiệu (Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy, 1981). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1981. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 15 – 27 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng sẫm, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

Giống khoai lang HƯNG LỘC 4 (HL4)

HL4 là giống khoai lang phổ biến ở vùng Đông Nam Bộ. Nguồn gốc Việt Nam. HL4 là giống lai [khoai Gạo x Bí Dalat] x Tai Nung 57 do Trung tâm Nghiên cứu Thực Nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc tạo chọn và giới thiệu (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1987). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1987. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 33 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đẹp, dây xanh phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng trung bình, nhiễm nhẹ sâu đục dây.

Giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ)

Nguồn gốc: Giống HL518 do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Kokey 14 polycross nguồn gốc Nhật Bản = CIP92031 = HL518 (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997; hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị.

Đặc tính giống: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 17-32 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ đậm, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.

Giống khoai lang KOKEY14 (Nhật vàng)
Nguồn gốc: Giống Kokey 14 có nguồn gốc Nhật Bản do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1997 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống được tuyển chọn và giới thiệu năm 2002 (Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003), hiện là giống phổ biến trong sản xuất ở các tỉnh Nam Bộ và bán nhiều tại các siêu thị.
Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 110-120 ngày. Năng suất củ tươi: 15-34. tấn/ha; tỷ lệ chất khô 29-31%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh, nhiễm nhẹ sùng (Cylas formicariu) và sâu đục dây (Omphisia anastomosalis) virus xoăn lá (feathery mottle virus), bệnh đốm lá (leaf spot: Cercospora sp), bệnh ghẻ (scab) và hà khoai lang (Condorus sp).
Giống khoai lang HL491 (Nhật tím)

Giống HL491 do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Murasa Kimasari polycross nguồn gốc Nhật Bản = CN76-2 CIP/AVRDC (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997, hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị..Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 15-27 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27- 31%. chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu tía, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.
Giống khoai lang MURASAKIMASARI (Nhật tím 1)

Nguồn gốc: Giống Murasa Kimasari có nguồn gốc Nhật Bản, do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1994 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống tuyển chọn và giới thiệu năm 2002.(Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003) hiện được trồng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, bán tại các chợ đầu mối và siêu thị.
Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 105-110 ngày. Năng suất củ tươi: 10-22. tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc khá ngon, vỏ củ màu tím sẫm, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây tím xanh, nhiễm nhẹ sùng và sâu đục dây.
Giống khoai lang HL284 (Nhật trắng)

HL284 thuộc nhóm giống khoai lang tỷ lệ chất khô cao, nhiều bột. Nguồn gốc AVRDC (Đài Loan) /Japan. Giống do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội, tuyển chọn và đề nghị khảo nghiệm năm 2000. Thời gian sinh trưởng 90-105 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 29 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 28-31%, chất lượng củ luộc khá, độ bột nhiều hơn độ dẽo, vỏ củ màu trắng, thịt củ màu trắng kem, dạng củ đều, dây xanh, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

Giống khoai lang KB1

KB1 là giống khoai lang hiện đang phát triển ở vùng đồng bằng sông Hồng. Giống do Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm tuyển chọn và giới thiệu (Vũ Văn Chè, 2004). Bộ Nông nghiệp và PTNT đã công nhận giống năm 2004. Thời gian sinh trưởng 95 -100 ngày. Năng suất củ tươi 22 – 32 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-29%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng cam, thịt củ màu cam đậm, dạng củ hơi tròn, dây xanh, ngọn tím, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.
 
TS. Hoàng Kim

Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh

Nguồn: FOODCROPS.VN Giống khoai lang ở Việt Nam , 16 April 2008, Hoang Kim
http://foodcrops.blogspot.com/2010/01/giong-khoai-lang-o-viet-nam.html

Những bài liên quan

Việt NamKhoai lang Atlas – CIP-collab
Kỳ tích từ cây lúa, củ khoai ở Hòn Ðất
Người Trung Quốc thuê đất Việt Nam trồng… khoai lang

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

DH09NH khoảnh khắc kỳ diệu

Ảnh

Khoảnh khắc DH09NH1

GIA ĐÌNH NÔNG NGHIỆP. Chào mừng bạn đến với chúng tôi, lớp DH09NH Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một số khoảnh khắc kỳ diệu được ghi lại: vui học chung trường, thân thương thầy bạn, rèn luyện kỹ năng học và hành, nâng cánh ước mơ, email và địa chỉ kết nối

Địa chỉ email của lớp dh09nh@st.hcmuaf.edu.vn

Hồ Việt Tân 09113117@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Thanh Phương 09113101@st.hcmuaf.edu.vn,
Philanun Sulisone 09113206@st.hcmuaf.edu.vn,
Damdinsuren Gerelma 09113225@st.hcmuaf.edu.vn,
Huỳnh Thị Kim Lý 09113215@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Thị Hồng Đào 09113017@st.hcmuaf.edu.vn
Phan Phúc Lục 09113072@st.hcmuaf.edu.vn,
Chau Râm Rít Thi 09113190@st.hcmuaf.edu.vn ,
Lạc Hồng Quân 09113105@st.hcmuaf.edu.vn
Lý Kim Buối 09113210@st.hcmuaf.edu.vn ,
Sơn Sà Phol 09113217@st.hcmuaf.edu.vn,
Lê Thị Ngọc 09113087@st.hcmuaf.edu.vn,
Đỗ Hữu Đức 09113022@st.hcmuaf.edu.vn,
Lương Thị Trang 09113154@st.hcmuaf.edu.vn,
Lương Thị Long Giang 09113213@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Phương Bắc 09113002@st.hcmuaf.edu.vn,
Lê Văn Hoàng 09113038@st.hcmuaf.edu.vn,
Lê Huỳnh Hồng Phước 09113102@st.hcmuaf.edu.vn,
Trần Văn Tiền 09113149@st.hcmuaf.edu.vn,
Võ Minh Thư 09113143@st.hcmuaf.edu.vn,
Lê Minh Trí 09113156@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Đức Trung 09113157@st.hcmuaf.edu.vn,
Phạm Văn Hon 09113041@st.hcmuaf.edu.vn,
Phạm Thảo Nguyên 09113088@st.hcmuaf.edu.vn,
Trịnh Minh Chánh 09113005@st.hcmuaf.edu.vn,
Trương Thị Thanh Chi 09113006@st.hcmuaf.edu.vn ,
Nguyễn Trường Giang 09113024@st.hcmuaf.edu.vn,
Lâm Thành Nhơn 09113091@st.hcmuaf.edu.vn,
Bùi Võ Thị Hương Thắm 09113123@st.hcmuaf.edu.vn,
Phạm Thị Kim Giàu 09113025@st.hcmuaf.edu.vn,
Phạm Sang 09113110@st.hcmuaf.edu.vn,
Hồ Văn Hướng 09113053@st.hcmuaf.edu.vn,
Hoàng Đức Khanh 09113056@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Anh Tuấn 09113191@st.hcmuaf.edu.vn,
Phạm Thị Thùy Dương 09113015@st.hcmuaf.edu.vn,
Đinh Thị Bông Dương 09113014@st.hcmuaf.edu.vn
Lê Thị Kiều Loan 09113064@st.hcmuaf.edu.vn,
Phan Thị Ngọc Mỹ 09113078@st.hcmuaf.edu.vn,
Đoàn Hồng Nhi 09113090@st.hcmuaf.edu.vn,
Phan Hồng Nhung 09113092@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Ngọc Thạch 09113122@st.hcmuaf.edu.vn,
Trương Công Thắng 09113124@st.hcmuaf.edu.vn,
Phạm Quang Vinh 09113170@st.hcmuaf.edu.vn,
Lê Thị Ngọc Hiền 09113035@st.hcmuaf.edu.vn,
Huỳnh Thanh Hiền 09113034@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Trung Hiếu 09113037@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Hồng Lĩnh 09113063@st.hcmuaf.edu.vn,
Đỗ Thị Nga 09113082@st.hcmuaf.edu.vn ,
Đặng Thành Luân 09113068@st.hcmuaf.edu.vn ,
Lê Phong Thái 09113121@st.hcmuaf.edu.vn ,
Phan Như Nhân 09113089@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Phú Thạnh 09145104@st.hcmuaf.edu.vn,
Lê Văn Tuấn 09113159@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Thị Mỹ Dung 09113012@st.hcmuaf.edu.vn
Lê Thị Hằng 09113030@st.hcmuaf.edu.vn,
Đoàn Cao Kền 09145045@st.hcmuaf.edu.vn,
Võ Thị Ngọc Liễu 09145055@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Tá Chính 09145011@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Tây Khoa 09145050@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Thị Thiên Triều 09145116@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Bình Luân 09113069@st.hcmuaf.edu.vn,
Lê Hoàng Thưởng 09113146@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Quang Lộc 09113067@st.hcmuaf.edu.vn,
Cao Quốc Đạt 09113018@st.hcmuaf.edu.vn,
Lê Thị Tuyết 09113164@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Thị Thẩm 09113125@st.hcmuaf.edu.vn,
Trần Thị Thơm 09113135@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Đạt Thịnh 09113133@st.hcmuaf.edu.vn,
Đặng Trung Tiến 09113150@st.hcmuaf.edu.vn,
Lò Nguyễn Quốc Huy 09113044@st.hcmuaf.edu.vn,
Huỳnh Trọng Nghĩa 09113084@st.hcmuaf.edu.vn,
A Giao 09113189@st.hcmuaf.edu.vn,
Hoàng Thị Hằng 09113029@st.hcmuaf.edu.vn,
Trần Kim Mỹ Luyến 09113071@st.hcmuaf.edu.vn,
Mai Minh Khang 09113055@st.hcmuaf.edu.vn,
Lê Nhựt Du 09113011@st.hcmuaf.edu.vn,
Đặng Bình Phúc 09113098@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Thị Dàng 09145014@st.hcmuaf.edu.vn,
Dương Ngọc Tường 09113167@st.hcmuaf.edu.vn,
Lê Trung Hiếu 09145034@st.hcmuaf.edu.vn,
Nguyễn Đức Nguyên 09145071@st.hcmuaf.edu.vn,


Nhớ Trường Xưa – Angela Phương Trinh

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

DH09NHGL Đại học Nông Lâm HCM


GIA ĐÌNH NÔNG NGHIÊP.  Chào mừng các bạn đến với Lớp ĐH09NHGL Đại học Nông Lâm Hồ Chí Minh. Trang hình ảnh, email, điện thoại và địa chỉ kết nối.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH

Đây là hình ảnh của lớp trong buổi học đầu tiên. Chúng tôi sẽ viết tiếp câu chuyện dài về con đường lúa gạo Việt Nam. Câu chuyện vinh danh hạt ngọc Việt, hạt gạo làng ta, hạt vàng Việt Nam buổi học về con đường lúa gạo Lương Định Của, về sự dấn thân thầm lặng của những người Thầy và thế hệ chúng tôi sẽ tiếp nối …

DANH SÁCH LỚP ĐH09NHGL VÀ SỐ ĐIỆN THOẠI, EMAIL

Lê Thị Xuân 1649574680  lexuan.nhgl@gmai.com,
Lê Phương Thảo 972355637 phuongthao.nh09@gmail.com ,
Lê Thị Hương 1676756316 lehuongnh09@gmail.com ,
Nguyễn Thị Hồng 983412037 hongnhgl@gmail.com ,
Nguyễn thị Hà 937355612 ms.kennj5@yahoo.com ,
Nông Hà Giang 976136942 hoanang_muaxuan62@yahoo.com ,
Vũ Đình Hiệp 1655290807 hiepdhnl@gmail.com ,
Võ Phan Thành Hiếu 905179623 vohieu89@gmail.com ,
Trần Ngọc Hạnh 975261202 tranngochanhnh09@yahoo.com ,
Đặng Văn Hải 1688736900 danghainh09@gmail.com ,
Lê Minh Huy 1679222883 huydhnl@gmail.com ,
Đinh Văn Thang thangnlgl@gmail.com ,
Trần Công Ty 1649577129 tynh09@gmail.com ,
Hà Văn Phúc 1649577140 havanphuc.nh09@gmail.com ,
Phạm Quang Phát 1649577138 codon_minhanh81151@yahoo.com ,
Trần Ngọc Thắng 1649575029 tranngocthangqn@gmail.com ,
Nguyễn Tuấn 1668114614 ntuan9860@gmail.com ,
Nguyễn Xuân Sơn 934727291 xuanson.nxs@gmail.com ,
Hio Rướp 1649577144
Nguyễn Bảo Lâm
Nguyễn Hoàng Quế Sơn
Võ Thành Quang

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet

Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Những giống sắn phổ biến ở Việt Nam


CÂY LƯƠNG THỰC. Những giống sắn phổ biến trong sản xuất hiện nay ở Việt Nam có KM94. KM140, KM98-5, KM98-1, SM937-26, KM98-7, HL23, Xanh Vĩnh Phú và một số giống khác với tỷ lệ tương ứng là 75,54%, 5,4%, 4,50%, 3,24%, 2,70%, 1,44%, 1,08% , 2,70%, và 3,40% của tổng diện tích sắn thu hoạch toàn quốc năm 2008 là 556.000 ha, với năng suất bình quân 15,9 tấn/ ha, sản lượng sắn củ tươi 9,39 triệu tấn.

Gần đây diện tích trồng một số giống sắn mới triển vọng KM419, KM440, KM414, KM397, KM325, KM21-12 tăng nhanh cùng với những giống sắn cao sản ngắn ngày KM140, KM98-5, KM98-7. Đặc biệt là giống KM419 (sắn siêu bột, sắn siêu cao sản Nông Lâm, sắn giống, sắn cút lùn,) đang tăng rất nhanh. Những giống sắn mới có ưu điểm năng suất cao, cây thấp gọn đễ trồng dày, ngắn ngày, ít bệnh nên nông dân đã nhạy bén mua giống chuyển đổi, thay bớt diện tích giống sắn chủ lực KM94 có năng suất cao ổn định, nhiều bột nhưng cây cao tán rộng khó trồng dày, dài ngày và bị nhiễm bệnh chồi rồng.

Dưới đây là nguồn gốc , đặc điểm của năm giống sắn chủ lực trong sản xuất

Giống sắn KM 94

Tên gốc KU50 (hoặc Kasetsart 50) được nhập nội từ CIAT/Thái Lan trong bộ giống khảo nghiệm Liên Á năm 1990. Giống do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nhập nội, tuyển chọn và giới thiệu (Trần Ngọc Quyền, Hoàng Kim, Võ Văn Tuấn, Kazuo Kawano 1995, Trịnh Phương Loan, Trần Ngọc Ngoạn và ctv. 1995). Giống được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống quốc gia năm 1995 trên toàn quốc. Giống sắn KM94 là giống sắn chủ lực của Việt Nam có diện tích thu hoạch năm 2008 chiếm 75, 54% tổng diện tích sắn toàn quốc.

Giống KM94 có đặc điểm:

+ Thân xanh, hơi cong, ngọn tím, không phân nhánh.
+ Năng suất củ tươi: 33,0 tấn/ha.
+ Tỷ lệ chất khô: 35,1- 39.0%.
+ Hàm lượng tinh bột: 28,7%.
+ Năng suất tinh bột: 7,6-9,5 tấn/ ha
+ Chỉ số thu hoạch: 58 %.
+ Thời gian thu hoạch: 9-11 tháng.
+ Nhiễm nhẹ đến trung bình bệnh chồi rồng và bệnh cháy lá.

Giống sắn KM 140

Giống sắn KM140 là con lai của tổ hợp KM 98-1 x KM 36 do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam tuyển chọn và giới thiệu (Trần Công Khanh, Hoàng Kim, Võ Văn Tuấn, Nguyễn Hữu Hỷ, Phạm Văn Biên, Đào Huy Chiên, Reinhardt Howeler và Hernan Ceballos 2007, 2009). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống quốc gia năm 2009 trên toàn quốc và đoạt giải Nhất Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn quốc năm 2010. Giống KM140 được trồng nhiều tại các tỉnh phía Nam với diện tích thu hoạch năm 2008 trên 30.000 ha, hiện ước trồng trên 150.000 ha.

Đặc điểm giống:
+ Thân xanh, thẳng, ngọn xanh, cây cao vừa phải, không phân nhánh.
+ Năng suất củ tươi: 33,4 – 35,0 tấn/ha.
+ Tỷ lệ chất khô: 34,8 – 40,2%.
+ Hàm lượng tinh bột: 26,1- 28,7%.
+ Năng suất bột : 9,5 -10,0 tấn/ha
+ Chỉ số thu hoạch: 58 -65 %.
+ Thời gian thu hoạch: 8-10 tháng.
+ Nhiễm nhẹ bệnh cháy lá.
+ Thời gian giữ bột ngắn hơn KM94

Giống sắn KM 98-5

Nguồn gốc: Giống sắn KM98-5 là con lai của tổ hợp KM 98-1 x Rayong 90 do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam tuyển chọn và giới thiệu (Trần Công Khanh, Hoàng Kim, Võ Văn Tuấn, Nguyễn Hữu Hỷ, Phạm Văn Biên, Đào Huy Chiên, Reinhardt Howeler và Hernan Ceballos 2006, 2009). Giống được UBND tỉnh Tây Ninh và UBND tỉnh Đồng Nai công nhận kết quả đề tài ứng dụng KHKT cấp Tỉnh năm 2006. Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 2009 cho các vùng Đông Nam Bộ, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên Giống KM98-5 được trồng nhiều tại các tỉnh phía Nam với diện tích thu hoạch năm 2008 trên 25.000 ha, hiện ước trồng trên 100.000 ha.

Đặc điểm giống:
+ Thân xanh, hơi cong ở gốc, ngọn xanh, ít phân nhánh.
+ Giống sắn KM98-5 có cây cao hơn và dạng lá dài hơn so với KM419
+ Năng suất củ tươi: 34,5 tấn/ha.
+ Tỷ lệ chất khô: 39,2%.
+ Hàm lượng tinh bột: 28,5%.
+ Năng suất bột : 9,8 tấn/ha
+ Chỉ số thu hoạch: 63 %.
+ Thời gian thu hoạch: 8-10 tháng.
+ Thời gian giữ bột tương đương KM94
+ Nhiễm nhẹ bệnh cháy lá.

Giống sắn KM98-1

Nguồn gốc: KM98-1 là con lai Rayong 1x Rayong 5 (= Rayong 72) do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam tuyển chọn và giới thiệu (Hoàng Kim, Kazuo Kawano, Trần Hồng Uy, Trần Ngọc Quyền, Võ Văn Tuấn, Trần Công Khanh, 1999). Giống KM98-1 được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận năm 1999 cho các vùng Đông Nam Bộ, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên. Giống KM98-1 được trồng phổ biến tại các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Nghệ An, Thừa Thiên Huế…. với diện tích thu hoạch năm 2008 trên 18.000 ha, hiện trồng trên 20.000 ha.

Đặc điểm giống:
+ Thân xanh, tai lá rõ, lá xanh, cọng tím
+ Năng suất củ tươi: 32,5 – 40,0 tấn/ha.
+ Tỷ lệ chất khô: 35,8%.
+ Hàm lượng tinh bột: 27,2- 28,3 %.
+ Năng suất bột : 8,9 tấn/ha
+ Chỉ số thu hoạch: 66 %.
+ Thời gian thu hoạch: 8-10 tháng.
+ Nhiễm nhẹ bệnh cháy lá.
+ Bảo quản giống ngắn hơn KM94

Giống sắn SM 937-26

Nguồn gốc: Tên gốc SM937 của CIAT/Clombia được nhập nội bằng hạt từ CIAT/Thái Lan năm 1990. Giống do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam tuyển chọn và giới thiệu (Trần Ngọc Quyền, Hoàng Kim, Võ Văn Tuấn, Kazuo Kawano 1995). Giống SM937-26 được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận tạm thời năm 1995 cho các vùng Đông Nam Bộ, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên. Giống KM98-5 được trồng nhiều tại các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi với diện tích thu hoạch năm 2008 trên 15.000 ha, hiện trồng trên 20.000 ha.

Đặc điểm giống:
+ Thân nâu đỏ, thẳng, không phân nhánh
+ Năng suất củ tươi: 32,5 tấn/ha.
+ Tỷ lệ chất khô: 37,9%.
+ Hàm lượng tinh bột: 28,9%.
+ Năng suất bột : 9,4 tấn/ha
+ Chỉ số thu hoạch: 61 %.
+ Thời gian thu hoạch: 8-10 tháng.
+ Nhiễm nhẹ bệnh cháy lá.
+ Vỏ củ dày và cứng hơn KM94

Kỳ tới: Một số giống sắn mới triển vọng

TS. Hoàng Kim
Giảng viên chính Cây Lương thực Rau Hoa Quả
Khoa Nông học, Trường Đại Học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Đạo Đức Kinh kiệt tác nhân loại

Ảnh

Đạo Đức Kinh kiệt tác nhân loại

DẠY VÀ HỌC. Hai tác giả Nga là I.A. A-bra-mốp và VN Đê min năm 1999 đã xuất bản cuốn sách Một trăm kiệt tác được Nhà Xuất bản Thế giới in lại với tựa đề Những kiệt tác của nhân loại. Sự chọn sách rất công phu dù rằng chưa thể là khuôn vàng thước ngọc. Đọc thẳng vào chính văn của các tác phẩm quý giúp ta đỡ mất thời gian. Trong Một trăm kiệt tác có tám cuốn sách Thánh, đó  là những tuyệt phẩm được nhiều người biết nhất: Kinh Thánh, kinh Cô ran, Kinh Tan mút, Kinh Vệ đà, Kinh Avexta, Pháp Cú Kinh, Đạo Đức Kinh, Luận Ngữ. Triết lý tam giáo Phật Lão Khổng với ba tác phẩm gốc Pháp Cú Kinh, Đạo Đức Kinh, Luận Ngữ đã hoà quyện vào nhau làm nên bản sắc văn hoá, lối sống của người Á Đông. Hành trình về phương Nam triết lý yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu người, hoà hợp với cỏ cây, sông nước, cân bằng âm dương, với tinh thần tổng hợp tam giáo, không cuồng tín, không thù hận, càng nẫy nở và phát triển. Đó không chỉ là minh triết tạo thành lối sống trí tuệ dân tộc mà còn là nền tảng của tâm linh. Đạo Đức Kinh  có vị trí đặc biệt trong triết lý nhân sinh. Đó là sách hay đáng đọc. Lão Tử Đạo Đức Kinh 2011 của Vũ Thế Ngọc 183 trang chứa đựng nội dung văn bản Mã Vương Đôi và Hán Việt Anh đối chiếu thật thú vị. Lão Tử Đạo Đức Kinh giải luận 2010  của  Lý Minh Tuấn Nhà Xuất bản Phương Đông, 486 trang là sách bình chú sâu sắc và hay giúp ta hiểu lời khuyên khôn ngoan của bậc hiền triết.

Mời đọc giới thiệu Lão Tử của hai tác giả Nga  I.A. A-bra-mốp và VN Đê min

Đạo Đức Kinh trang 47- 50 sách đã dẫn

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC