Trần Đăng Khoa ngoái nhìn năm cũ

NGỌC PHƯƠNG NAM. Trần Đăng Khoa vừa có bài viết “Ngoái nhìn năm cũ” bình luận những sự kiện nổi bật và rất đáng quan tâm trong năm 2011. Bài này cùng với những bài viết ám ảnh “Ôn cũ để biết mới “của Nguyễn Trọng Vĩnh, “Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống” của Hoàng Tụy là những phản biện khách quan, sâu sắc cần đọc lại và suy ngẫm.

NGOÁI NHÌN NĂM CŨ

Trần Đăng Khoa

Thế là năm 2011 đã đi qua. Còn nhớ đêm cuối cùng của năm Dương lịch, Đài Truyền hình Việt Nam đã điểm lại những ấn tượng nổi bật trong năm bằng một chương trình đã được chuẩn bị khá công phu “Dấu ấn 2011”. 365 ngày, với 8760 giờ – Một bức tranh toàn cảnh của Việt Nam và Thế giới – thành cuộc diễu binh kỳ vĩ diễn ra trước mắt ta chỉ trong hơn hai giờ đồng hồ. Đại hội Đảng. Cuộc bầu cử Quốc hội. Cuộc chiến tranh ở LiBi, cơn Đại sóng thần kinh hoàng tại Nhật Bản…Có một hình ảnh đã để lại trong tôi một ấn tượng rất đep. Đó là cuộc giải cứu hơn mười vạn người Việt Nam trong cuộc chiến tranh đẫm máu ở LIBI. Lần đầu tiên, chúng ta đã tổ chức thành công đưa hơn mười vạn người Việt Nam thoát khỏi lửa đạn. Một công việc không thể nói là dễ dàng, vậy mà chúng ta đã làm được một cách ngoạn mục. Đây cũng là dấu ấn đẹp nhất của Chính phủ ta trong năm vừa qua.

Ở phần cuối chương trình là những việc nổi cộm nhức nhối. Tai nạn giao thông. Bạo lực học đường. Những bộ mốt lố lăng của giới ca sĩ trên sân khấu…Các bạn đồng nghiệp của tôi gọi đó là lệch chuẩn. Tôi thấy không phải chỉ lệch chuẩn mà còn loạn chuẩn. Hình như chính chúng ta cũng đang đi lệch. Chúng ta quá quan tâm đến việc phát triển kinh tế mà lại sao nhãng, nếu không nói là bỏ quên văn hóa. Nhìn lại những thước phim tư liệu về Đại hội Đảng và các kỳ họp Quốc Hội trước đây, quây quần bên Bác là Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Trà Giang và rất nhiều nhà hoạt động văn hóa. Trong Đại Hội Đảng của chúng ta vừa rồi, có đến một ngàn bảy trăm đại biểu, mà không có đại biểu nào đại diện cho giới văn chương. Nhà thơ Hữu Thỉnh, một tác gia lớn, Chủ tịch của cả hai hội lớn: Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, mà cũng không phải là đại biểu đến dự. Trong số hơn 500 Đại biểu Quốc Hội, trong đó có đầy đủ các thành phần xã hội, đặc biệt có rất nhiều các nhà Doanh nghiệp, nhưng cũng không có đại biểu nào Đại diện cho giới Văn hóa, Văn nghệ sĩ. Trong khi chúng ta có đến 7 Hội chuyên ngành. Đó là điều rất không bình thường.

Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của văn nghệ sĩ trong tiến trình phát triển của lịch sử. Mặc dù số phận họ rất mong manh. Mong manh như cái đẹp. Mong manh như kiếp người. Nhưng họ lại là Hàn thử biểu của cả xã hội. Đằng sau họ là Nhân dân. Đặc biệt với những tài năng lớn, họ yêu ai, người đó sẽ bất tử, họ ghét ai, kẻ đó sẽ bị nguyền rủa đến hàng trăm năm, thậm chí là ngàn năm. Bằng sự mẫn cảm đặc biệt, nhiều nghệ sĩ còn đi trước cả thời đại. Người đầu tiên chính thức gọi tên Thành Phố Hồ Chí Minh là Tố Hữu. Ngay sau khi Giải phóng Điện Biên Phủ, năm 1954, Tố Hữu đã gọi Sài Gòn là “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng”. 18 năm sau, mùa hè 1972, Chế Lan Viên nhắc lại: “Một Thế hệ Hồ Chí Minh – ấy là lực lượng/ Một Con Đường Hồ Chí Minh- Đó là phương hướng/ Một Thành phố Hồ Chí Minh là đích phía chân trời…”. Ba câu thơ Chế Lan Viên có thể xem như tư tưởng chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Mãi năm 1976, Thành phố Hồ Chí Minh mới chính thức có tên. Bây giờ chúng ta mới học Tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng Chế Lan Viên đã đề xuất từ những năm kháng chiến. Lúc ấy, chúng ta đâu đã nhìn ra. Chúng ta học là học “ Chủ nghĩa Mác Lênin. Tư tưởng Mao Trạch Đông và Đạo đức Hồ Chí Minh”. Vẻ đẹp của Bác, lúc bấy giờ chúng ta mới chỉ nhìn thấy ở phạm trù Đạo đức. Những văn nghệ sĩ đích thực thường đi trước thời đại. Nhiều khi một bài thơ, hay một câu hát có sức mạnh bằng cả một binh đoàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận ra sức mạnh ấy. Người đã quy tụ được những tinh hoa dân tộc từ những bến bờ cô lẻ: “Ta là một. Là riêng. Là thứ nhất” để hòa vào đời sống chung của toàn dân tộc: “Tôi cùng xương thịt với Nhân dân tôi”. Nhiều văn nghệ sĩ, nhiều trí thức lớn đã từ bỏ những tháp ngà nghệ thuật, đến với cuộc sống cần lao gian khổ, cùng với nhân dân. Không ít người đã chiến đấu dũng cảm và đã hy sinh như những người anh hùng: Nam Cao, Trần Mai Ninh, Nguyễn Thi…và nhiều lắm. Có người đến nay vẫn không tìm được hài cốt.

Một nhà thơ đã viết: “Mẹ nuôi cái lẽ ở đời – Sữa nuôi phần xác. Hát nuôi phần hồn”. Và như thế, đứa trẻ lớn lên bằng sữa mẹ và câu hát. Rồi đến cả người trưởng thành cũng vẫn không thể thiếu hai bầu sữa vật chất và tinh thần. Đấy là hai cánh giúp chúng ta bay. Nếu thiếu vật chất, cơ thể còi cọc còn dễ nhìn thấy và cũng dễ khắc phục. Nhưng đứt gãy văn hóa thì hiểm họa khôn lường. Nhiều người trông bề ngoài rất béo tốt nhưng lại ẩn chứa trong tâm hồn một cơ thể tàng tật, bệnh hoạn mà căn bệnh nguy hiểm này lại không dễ nhìn ra. Và rồi, cái gì đến sẽ đến. Chưa bao giờ đạo đức xã hội lại xuống cấp trầm trọng: Hiệu trưởng mua dâm học trò. Học sinh giết cô giáo ngay trên bục giảng. Quan chức ở một tỉnh nghèo mà còn đánh bạc mỗi lần đến cả 5 tỷ đồng. Rồi bạo lực tràn lan ở học đường. Những vụ hận tình ở lứa tuổi nhí rồi “tỉ thí”, hạ nhục nhau tung đầy lên mạng cho cả thế giới “chiêm ngưỡng”. Thật không thể tưởng tượng được. Vụ cắt đầu người yêu của sinh viên Nguyễn Đức Nghĩa đã làm ta ghê rợn. Vụ giết đến cả mấy mạng người trong một gia đình của Lê Văn Luyện mới làm ta thực sự kinh hoàng. Trong số những người bị giết một cách thảm khốc, có cả cháu bé mới mười tám tháng tuổi. Tội ác đã đến đỉnh điểm. Kẻ giết người tàn bạo nhất từ xưa đến nay ấy, vẫn đang còn ở lứa tuổi vị thành niên. Rồi ít ngày nữa, vụ án sẽ được đem ra xét xử. Theo Bộ Luật hiện hành, mức phạt cao nhất đối với người ở lứa tuổi vị thành niên là mười tám năm tù giam. Bởi thế mà Luyện vẫn nhơn nhơn, lại còn vui vẻ đùa cợt trong lúc chờ ra pháp đình. Nếu có chút ân hận thì Luyện chỉ ân hận vì đã làm phiền đến bố mẹ hắn. Còn việc hắn xóa sổ cả một gia đình, để lại nỗi kinh hoàng cho cả mấy dòng tộc và niềm bất an cho cả một xã hội trong cái Tết này thì sao? Nếu Luyện thoát được án tử hình, mà chỉ phải chịu mức phạt 18 năm ấy thôi thì rồi sẽ dẫn đến những hệ lụy chúng ta không thể lường hết được: Sẽ xuất hiện hàng loạt những kẻ giết người rất tàn bạo ở lứa tuổi vị thành niên. Thì đã có bao nhiêu nhóm côn đồ nhí tự nhận mình là “Đàn em anh Luyện” ở trên mạng đó thôi. Rồi chính những kẻ giang hồ, những kẻ dã tâm sẽ lại mượn bàn tay các em để thanh toán các đối thủ của mình, nghĩa là có thể giết được người, giết nhiều mạng người mà vẫn có thể thoát được sự trừng phạt cao nhất của pháp luật, như thế có khác gì chính Bộ luật chưa phải đã hoàn thiện vì thiếu tính chuyên nghiệp cao của chúng ta đã “giải thoát” cho kẻ tội đồ. Đấy mới là điều đau lòng và đáng sợ nhất.

Một năm đã đi qua với bao nhiêu niềm vui nhưng cũng không ít những nguy cơ có thể dẫn đến những thảm họa tương lai, nếu chúng ta không có những biện pháp kịp thời ngăn chặn. Năm nay là năm CON RỒNG. Chúng ta đang mong ước sẽ thành một CON RỒNG của Châu Á phồn thịnh, an bình và phát triền. Cầu mong năm nay, cũng như những năm kế tiếp, cả dân tộc ta sẽ thực sự là một CON RỒNG đã cất cánh, để bay tới những đỉnh cao mới. Những đỉnh cao mà ở đấy, chỉ thấy lấp lánh ánh sáng của Trí tuệ và lòng nhân ái mà không có máu người…

Đọc tiếp
Suy ngẫm những bài viết ám ảnh
HỌC MỖI NGÀY. Ba bài viết ấn tượng và ám ảnh tôi đầu xuân 2012 là “Ôn cũ để biết mới “của Nguyễn Trọng Vĩnh, “Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống” của Hoàng Tụy và “Lại chuyện giao thông …” của Trần Đăng Khoa.
Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Trần Đăng Khoa ngày xuân nghĩ về Bác

NGỌC PHƯƠNG NAM. Tôi đọc đi đọc lại bài viết của Trần Đăng Khoa “Ngày xuân nghĩ về Bác” mà lòng rưng rưng, đặc biệt ở hai trích đoạn nói về việc riêng (biết mình) và tài dùng người (biết người): “Cuộc đời của Bác, nếp sống của Bác là một bài học lớn cho các cán bộ cấp dưới. Ta hiểu vì sao trong những năm chiến tranh, đất nước loạn lạc, mà xã hội lại rất thanh bình, lòng dân không ly tán. Ra đường không lo trấn lột. Về nhà không sợ trộm cắp. Cũng không có tham nhũng, đĩ điếm. Một đời sống lành mạnh giữa một bầu khí quyển trong veo. Một người suốt đời sống vì dân, lo cho dân, ngay trong những giây phút cuối cùng giã từ cõi đời, phần nói về mình, VỀ VIỆC RIÊNG, Người cũng chỉ dành cho mình đúng 79 chữ. 79 chữ tổng kết cả một đời người 79 năm, trong một ít chữ phong phanh ấy, Người cũng lại chỉ canh cánh lo cho dân, không muốn tổ chức tang lễ điếu phúng linh đình để đỡ tốn thời giờ và tiền bạc của dân.”… “Bác bảo: “Nước tôi là nước du kích. Chúng tôi đánh giặc theo lối du kích, thì phong hàm cũng là phong theo kiểu du kích. Ông Giáp của chúng tôi đã đánh thắng tất cả các ông tướng tài giỏi của nước Pháp, vậy thì ông ấy phải là Đại tướng thôi”. Nói rồi, Bác cười rất sảng khoái. Mấy nhà báo quốc tế cũng cười. Câu hỏi móc mói nhuốm màu bùa chú đã bị hóa giải. Bác của chúng ta là thế đấy!. Người rất tài biến những chuyện to tát, nghiêm trọng thành những điều hết sức giản dị, mộc mạc. Chỉ những người từng trải, uyên thâm và lịch lãm lắm mới có thể làm được như thế…”

NGÀY XUÂN, NGHĨ VỀ BÁC

Trần Đăng Khoa

Thi thoảng, trong đời sống công chức, chúng ta vẫn thường làm một việc không lấy gì làm mới mẻ: Kê khai tài sản. Nhìn bản Kê khai, ta lại mủi lòng: Sao mãi mình vẫn chưa giàu được nhỉ? Và rồi, ta lại được an ủi. Hóa ra ta vẫn chưa phải là người nghèo nhất. Ngay cả một người nông dân chân lấm, tay bùn, ở dưới đáy xã hội, nhưng vẫn có mảnh vườn, cái ao, hay chí ít cũng có con lợn, con gà. Nghĩa là vẫn có tài sản. Chỉ duy nhất một người dường như không có gì cả, một người nghèo nhất nước. Người đó là Bác Hồ, Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Lục lọi trong tiểu sử Bác, đến cả nhà riêng của Người, ta thấy Người có gì? Một tấm áo ka ki, đôi dép cao su, chiếc quạt bằng lá cọ…Vật chất là thế đấy. Còn tinh thần ư? Bác cũng là người duy nhất không có bất kỳ các loại Huân, Huy chương gì, đến cả sơ đẳng nhất là Bằng khen, Giấy khen, Người cũng không có. Bác còn là người nghèo nhất cả trong cõi riêng tư. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác kể lại, có những đêm, khuya rồi, Bác đã tắt đèn, nhưng trong phòng vẫn có tiếng đài. Đồng chí Vũ Kỳ tưởng Bác đã ngủ, rón rén đến tắt. Bác ngăn lại: “Đừng…Cứ để thế cho căn phòng Bác nó ấm, vì có tiếng người, tiếng phụ nữ…”

Ôi! Đài Tiếng nói Việt Nam! Vinh quang biết bao! Hạnh phúc biết bao khi Đài đã trở thành người bạn đường, người sẻ chia, an ủi Bác, trong những khoảnh khắc Người cô đơn nhất!

Nghĩ đến Bác, ngay cả một người bất hạnh đến cùng cực, cũng thấy được an ủi, sẻ chia. Hóa ra mình cũng vẫn chưa phải là người bất hạnh nhất.

Một người nghèo nhất nước như Bác, nhưng lại để cho chúng ta một di sản đồ sộ. Đó là một đất nước độc lập, toàn vẹn, một sự nghiệp Cách mạng chói ngời, một tấm gương trong sáng và lối sống cao đẹp đên tinh khiết.

Ta hiểu vì sao Bác luôn quan tâm đến những người nghèo, người lao động. Bác luôn hướng đến người lao động. Bác đặt tên Đảng là Đảng Lao động Việt Nam. Nghĩa là Đảng của tất cả mọi người, vì ai mà chẳng là người lao động. Bác còn dành lương mua quà cho người nghèo. Vào những dịp tết đến, xuân về, Bác thường chọn những gia đình nghèo nhất để đến thăm và chúc Tết. Chuyến thăm rất bí mật, không báo trước để địa phương nghênh đón, rồi tuyên truyền, đưa tin. Thường chỉ có Bác và đồng chí Vũ Kỳ. Một chị lao công, ở trong khu hẻm nhỏ, đêm 30 Tết còn đi gánh nước thuê. Bàn thờ trống hoang, không có cả nải chuối, tấm bánh. Tết đến với mọi nhà, nhưng Tết lại quên căn nhà chị. Bởi thế, chị bàng hoàng đến sửng sốt, buông rơi cả hai thùng nước, khi thấy Bác đột ngột xuất hiện trong căn nhà tồi tàn của mình: “Trời ơi, Bác…Gia đình cháu khổ lắm…Cháu không ngờ Bác lại đến với cháu..”. “Thế Bác không đến với cháu thì Bác còn đến với ai?…”. Chị bật khóc. Và Bác cũng khóc. Đó là một trong những cái Tết cuối cùng của Bác trong ký ức của đồng chí Vũ Kỳ.

Dân còn nghèo như thế, nên Bác sống rất đạm bạc tằn tiện. Bữa ăn của Người là bữa ăn của một nông dân nghèo. Tiếp khách quốc tế, Bác vẫn mang trang phục của một người nông dân nghèo. Bộ quần áo nâu và đôi dép cao su. Một đồng chí cán bộ tỉnh ái Ngại: “Thưa Bác, Bác thay mặt cho Đảng, cho Dân, Bác vất vả thế này, có khi bạn bè quốc tế lại trách Đảng trách Dân không chu toàn với Bác…”. Bác cười điềm đạm “Bác sống thế này mà ở dưới, có chú còn nhũng nhiễu làm khổ dân. Bác mà sống xa hoa thì ở dưới các chú đục khoét hết của dân à?”

Cuộc đời của Bác, nếp sống của Bác là một bài học lớn cho các cán bộ cấp dưới. Ta hiểu vì sao trong những năm chiến tranh, đất nước loạn lạc, mà xã hội lại rất thanh bình, lòng dân không ly tán. Ra đường không lo trấn lột. Về nhà không sợ trộm cắp. Cũng không có tham nhũng, đĩ điếm. Một đời sống lành mạnh giữa một bầu khí quyển trong veo.

Một người suốt đời sống vì dân, lo cho dân, ngay trong những giây phút cuối cùng giã từ cõi đời, phần nói về mình, VỀ VIỆC RIÊNG, Người cũng chỉ dành cho mình đúng 79 chữ. 79 chữ tổng kết cả một đời người 79 năm, trong một ít chữ phong phanh ấy, Người cũng lại chỉ canh cánh lo cho dân, không muốn tổ chức tang lễ điếu phúng linh đình để đỡ tốn thời giờ và tiền bạc của dân.

Chúng ta đang học tập tấm gương Đạo đức và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng thế nào là Tư tưởng Hồ Chí Minh? Tôi cũng đã theo học và nghiên cứu. Có rất nhiều định nghĩa. Nhưng cũng không ít những quan niệm áp đặt và chủ quan. Nói về Tư tưởng Hồ Chí Minh, có lẽ không có ai nói hay hơn và chuẩn xác hơn cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười. Mà ông cụ lại nói vo ở Hội Nhà văn, nói suốt 4 giờ liền về nhiều vấn đề mà giới văn chương rất tâm đắc. Khi bàn về Tư tưởng Hồ Chí Minh, cụ Đỗ Mười đưa ra một định nghĩa rất ngắn mà vô cùng chuẩn xác: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì? Là Việt Nam hóa tất cả những tư tưởng tiên tiến nhất, đặc sắc nhất của nhân loại và biến chúng thành hiện thực ở Việt Nam!”
Quả đúng như vậy. Ta có thể tìm thấy trong những câu nói bất hủ của Người, những kinh nghiệm được đúc kết của rất nhiều thời đại. Và một trong những bài học sâu sắc Người để lại cho chúng ta là sự chiêm cảm tinh vi đến chuẩn xác và nghệ thuật dùng người. Đây chính là một bí mật của Bác mà chúng ta cần nghiên cứu, khám phá. Bác có tầm nhìn rất xa và rất chuẩn xác. Năm 1941, Bác có bức tranh, vẽ cây kèn, con số 1945 cùng câu thơ “Việt Nam Độc lập thổi kèn loa”. Sau quả đúng như vậy. Và như thế, Bác đã “nhìn” thấy ngày Độc lập từ năm 1941. Sau này Người cũng đoán chuẩn xác năm giải phóng Sài gòn. Tối 30 tháng Tư năm 1960, trong diễn văn chào mừng Quốc tế Lao động tại Nhà hát lớn Hà Nội, có một dòng rất đặc biệt, lúc đó Người đã dấu đi bằng một nét gạch xóa, nhưng vẫn còn được lưu giữ trong Bảo tàng Hồ Chí Minh “…Cùng lắm cũng chỉ 15 năm nữa, nước nhà sẽ thống nhất, đồng bào Nam, Bắc sẽ xum họp một nhà…”. “15 năm nữa…” tính từ thời điểm năm 1960 thì đúng là năm 1975. Rất chuẩn xác. Bởi thế, có người coi Bác như một vị Thánh. Tài nhất là nghệ thuật dùng người. Đây chính là mấu chốt quyết định sự thắng lợi của Cách mạng. Năm 1946, khi phải rời Tổ Quốc, Người lại trao toàn quyền điều hành đất nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng và chỉ dặn một câu: “Ứng vạn biến, dĩ bất biến”. Với một nhà Nho uyên thâm như cụ Huỳnh, chỉ nói thế là đủ. Điều đáng ngạc nhiên, sao lúc ấy, tình thế rất phức tạp, thù trong, giặc ngoài, trong Chính phủ có bao nhiêu Đảng viên cốt cán, Bác không trao, mà lại trao quyền điều hành đất nước cho một nhân sĩ không phải Đảng viên là cụ Huỳnh Thúc Kháng? Đưa một người không phải Đảng viên lên chức vụ lớn, lại trao cho cả vận mệnh đất nước là một quyết định táo bạo. Nhưng bằng lối ứng xử rất đẹp ấy, Bác đã quy tụ được tất cả những tinh hoa của dân tộc đến với cuộc kháng chiến cứu nước và kiến quốc. Bởi thế, rất nhiều nhân sĩ, trí thức, ở nhiều đảng phái khác nhau đều tìm đến với Người, có không ít người từ bỏ đời sống nhung lụa, trở về Tổ quốc, cùng đồng cam cộng khổ với Người. Những năm tháng cam go ấy, không có nhiều ban bệ, tư vấn, mà sao Bác dùng người chuẩn thế. Những cán bộ được Bác chọn, trao việc đều trở thành những nhân vật xuất sắc của lịch sử đất nước. Đặc biệt là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nhiều lúc tôi cứ vân vi tự hỏi, bằng phép nhiệm màu nào mà Bác đã nhìn thấy khả năng thiên tài quân sự trong Võ Nguyên Giáp, một người chưa từng qua bất kỳ một khóa học quân sự nào?. Lúc ấy, ông Giáp chỉ đơn thuần là một ông giáo dạy sử ở trường tư thục Thăng Long. Một con người hoàn toàn xa lạ với quân binh, trận mạc, vậy mà Bác lại trao cho việc phụ trách quân sự, rồi phong thẳng lên Đại tướng và ủy nhiệm cho toàn quyền quyết định việc quân: “Chú là Tướng biên ải, Tướng ngoài mặt trận, có gì cần thiết, chú cứ quyết rồi báo cáo Bác sau!”. Sau này, ta mới biết việc chọn Tướng Giáp của Bác tài tình đến như thế nào. Võ Nguyên Giáp quả là một thiên tài quân sự. Tên tuổi ông có thể đặt bên cạnh những tên tuổi lừng danh nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc: những Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Quang Trung…Vậy bằng cách nào Bác phát hiện được khả năng tiềm ẩn một Thiên tài quân sự trong dáng vẻ bạch diện thư sinh của một ông giáo dạy sử ở một trường phổ thông? Đó chính là một bí mật. Nhà báo nổi tiếng Mỹ Ladi Boston kể lại rằng, có lần, mấy nhà báo Pháp cũng rất ngỡ ngàng hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh một câu hỏi khá hắc búa: “Thưa ngài Chủ tịch, ngài phong ông Giáp lên thẳng chức Đại tướng, là phong theo tiêu chí nào?”. Bác bảo: “Nước tôi là nước du kích. Chúng tôi đánh giặc theo lối du kích, thì phong hàm cũng là phong theo kiểu du kích. Ông Giáp của chúng tôi đã đánh thắng tất cả các ông tướng tài giỏi của nước Pháp, vậy thì ông ấy phải là Đại tướng thôi”. Nói rồi, Bác cười rất sảng khoái. Mấy nhà báo quốc tế cũng cười. Câu hỏi móc mói nhuốm màu bùa chú đã bị hóa giải.

Bác của chúng ta là thế đấy!. Người rất tài biến những chuyện to tát, nghiêm trọng thành những điều hết sức giản dị, mộc mạc. Chỉ những người từng trải, uyên thâm và lịch lãm lắm mới có thể làm được như thế…

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Tư liệu người Nga, văn chương Nga

NGỌC PHƯƠNG NAM.  Tiểu luận Văn học Nga chiếc nôi vĩ đại và êm ái của Nguyễn Chu Nhạc và chân dung văn Ivan Novitxky của Trần Đăng Khoa rất ấn tượng về văn chương Nga người Nga. Mình đã đọc nhiều lần bài Khoa viết trong Chân dung và đối thoại nhưng đọc lại trang này trên mạng vẫn thấy tươi rói, ngời lên con người Nga, tính cách Nga điển hình tựa như Natasha Rostova trong Chiến tranh và Hòa bình của Lev Tonstoi,  như Acxênhia của Mikhain Sôlôkhôp và anh Ivan Nga cùng chú gấu Misa vậy. Bài tiểu luận của Nguyễn Chu Nhạc thật quý như vị tướng khái quát lực lượng trước trận đánh. Chu tiên sinh nên gửi bài này lên Từ điển Bách khoa Mở kiểu như  Cây Lương thực – Wikipedia tiếng Việt. Việc này sẽ lợi cho lớp trẻ dễ hơn khi đi vào những dãy núi hùng vĩ của văn chương Nga.  Hoài Tố Hạnh bình: Ôi chao tham chén bỏ mâm/ Tham vàng bỏ ngãi, lẫn ông với thằng./ Chênh vênh vỡ nửa vầng trăng/ Mới hay nòng nọc, thằn lằn đứt đuôi / Mới hay cá biển chim trời/ Một thời buông, bắt, một thời mò kim ...Mình có 15 năm (1983-1997 làm việc cùng chuyên gia nông nghiệp Nga nay vui bạn để ca nối lời: “Thật vàng chẳng phải than đâu / Mà đem thử lửa cho đau lòng vàng/ Hiểu sâu cá biển chim ngàn/ Mới hay thầy bạn là vàng của tâm. (ảnh HK sách Đường sống, tác phẩm Lev Tonstoy. Nhà Xuất bản Tri thức, Hà Nội, 1180 trang).

VĂN HỌC NGA, CHIẾC NÔI VĨ ĐẠI VÀ ÊM ÁI.

Nguyễn Chu Nhạc

Tôi có thói quen, hễ khi công việc bế tắc, hoặc khi tự thân thấy chan chán, là tôi lượn hiệu sách. Hệt như cánh phụ nữ ở cơ quan tôi, họ lấy lại niềm vui bằng cách lượn siêu thị mua vặt vãnh, hay sà vào các shop quần áo thời trang. Và cũng giống như các mặt hàng đầy tính vật chất kia, món ăn tinh thần-sách bây giờ tràn lan, ê hề, có cả loại đại hạ giá, thích cuốn nào thì nhặt mua, mà tiền túi cũng chẳng phải băn khoăn, cân nhắc như thời trước khốn khó. Chớ trêu thay, tuổi trẻ ham đọc, khát kiến thức thì không có sách mà đọc, đến lúc đứng tuổi, có điều kiện mua sách thì lòng không còn ham đọc, vả lại cũng không có thời gian.

Lượn hiệu sách, lần nào cũng vậy, loanh quanh rồi lại mò đến khu vực bày sách văn học Nga. Hễ cứ sa vào khu vực ấy, tôi cũng bị mê dụ, khó tránh khỏi cám dỗ, nâng lên đặt xuống mãi rồi cũng mua một vài quyển, cho dù tôi đã từng đọc, từng mua quyển sách đó… Sao lại thế ? Tôi đang đi tìm lại tuổi thơ tôi ?!…

Trong bộ sách Đi tìm thời gian đã mất ( Retrouvé le temp ) của Marcel Prouts , ở phần Cái tên xứ sở, tác giả đã tự sa vào mê cung của hồi ức, để rồi giăng bẫy bạn đọc và để họ tự cuốn theo không tài nào cưỡng nổi, quẫy tìm mãi mà chẳng thấy đường ra. Văn học Nga cũng luôn làm tôi mất phương hướng. Với tôi, văn học Nga không chỉ là văn thôi, mà còn là tình cảm và ký ức. Chẳng thế mà trong phần tự bạch của mình về văn chương thế giới kim cổ, văn học Nga đã chiếm một tỷ trọng không nhỏ.

Về nhà văn : N. L.Tolstoi (nhà văn xuất sắc nhất), S.A. Exenin (nhà thơ xuất sắc nhất ) , A.P. Tsekhov ( nhà văn viết truyện ngắn & kịch xuất sắc nhất ) , I.S. Turgeniev ( nhà văn viết về tình yêu hay nhất ) , P.M. Dostoievski ( nhà văn viết về cái ác hay nhất ) , M. Gorki ( nhà văn viết cho thiếu nhi hay nhất ), K.G. Pautovsky ( nhà văn viết chân dung văn học xuất sắc nhất ), I.A. Bunin ( nhà văn viết truyện ngắn xuất sắc nhất ).

Về tác phẩm văn học : Chiến tranh và hòa bình (N.L Tolstoi)- tiểu thuyết xuất sắc nhất ; Bút ký người đi săn ( I.S. Turgeniev )- tác phẩm du ký xuất sắc nhất ; Sông Đông êm đềm ( M.K. Solokhov )- tiểu thuyết hoành tráng nhất ; Taras Bulba ( N.V. Gogol )- tiểu thuyết bi tráng nhất ; Đất vỡ hoang ( M.K. Solokhov )- tiểu thuyết khôi hài nhất; Cánh buồm đỏ thắm (A. Grin )- tác phẩm cho thiếu nhi hay nhất ; Chuyện núi đồi và thảo nguyên ( T. Aimatov )- tác phẩm văn xuôi giàu chất thơ nhất ; Evgeni Onegin (A.S.Pushkin )- trường ca hay nhất v.v…

Sơ sơ thế mà văn học Nga đã đầy ắp. Với tôi, giờ đây là sự đầy ắp trong ký ức. Chứ vào cái tuổi tôi đi học thì …

Ngày ấy, cuối những năm sáu mươi và đầu bảy mươi thế kỷ trước, sách truyện hiếm lắm, còn hơn xa xỉ phẩm. Sách giáo khoa cho học sinh còn truyền nhau mấy thế hệ trong nhà cùng học thì lấy đâu ra sách truyện. Tôi may mắn vì cha tôi vốn là mọt sách, ông lại giỏi hai ngoại ngữ là Hán ngữ và Pháp ngữ, nên đọc rất nhiều. Từ nhỏ, tôi thường được cha kể cho nghe nhiều chuyện. Chuyện Tàu thì có Thủy Hử, Tam Quốc diễn nghĩa, Tây Du ký, Phong thần diễn nghĩa… còn chuyện Tây thì những Truyện cổ An-đec-xen, truyện cổ Grim, truyện ngụ ngôn La Phông-ten… Song đấy mới là chuyện kể. Còn những tác phẩm văn học tôi tự đọc lấy thì lại là những tác phẩm văn học Nga-Xô viết. Tôi nhớ, những cuốn sách văn học đầu tiên tôi được đọc là: Thời thơ ấu, Những trường đại học của tôi, Kiếm sống ( M. Gorky ), Suối thép (A.Xêraphimôvits ), Những linh hồn chết ( N.V. Gogol ), Chiến tranh và hòa bình ( L. Tolstoi ), Người con gái viên đại uý ( A. Pushkin ), Người anh hùng của thời đại chúng ta ( M. Lermontov ), Chuyện chú bé đánh trống ( A.P. Gaidar ), Cánh buồm đỏ thắm ( A. Grin ), Con đường đau khổ ( A. Tolstoi ), Đội cận vệ thanh niên ( A. Fadeev ); rồi cuốn Trong chiến hào Xtalingrad , Những người chân đất và một số tác phẩm của các nhà văn Xô-viết mà giờ đây tôi không còn nhớ tên tác giả. Tôi còn nhớ rõ là hai cuốn Đội cận vệ thanh niên, Trong chiến hoà Xtalingrad được Nhà xuất bản Cầu Vồng ( Raduga ) hợp tác với ta in, nên sách rất đẹp với giấy trắng và bìa dày cứng.

Còn về thơ, đó là những bài thơ trữ tình của Pushkin, Lermontov, Blok, Nhekraxov … được các chàng sinh viên chép vào sổ tay. Ầy là vì, vùng quê tôi chỉ cách Hà Nội hơn hai chục cây số đường chim bay, nên những năm chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ, có đến mấy trường đại học từ Hà Nội sơ tán về. Sinh viên thì ở nhờ nhà dân, giảng đưòng thì dựng tạm tranh tre vách đất. Lẽ dĩ nhiên, thư viện của trường cũng phải chia nhỏ theo chân sinh viên. Đấy chính là nguồn sách đọc của tôi suốt thời nhỏ… Có hai lý do để cái kho sách của mấy trường đại học sơ tán về quê tôi ùn ùn chuyển đến nhà tôi và nhờ thế tôi được đọc. Là vì, bô tôi vốn là kiến trúc sư thời Tây, ông giỏi Hán tự và Pháp ngữ, khá thông thạo đông tây kim cổ, nên các chàng sinh viên từng tiếp xúc rất khoái trò chuyện sách vở với ông. Thứ nữa, quan trọng hơn, tôi có hai người chị gái tuổi mới lớn và hình thức cũng khá, các chàng sinh viên vo ve xung quanh tán tỉnh, rồi các chàng thi nhau mang sách truyện đến cho hai em đọc để mở mang nâng cao kiến thức. Vậy là cái thằng tôi được đọc ké, thực ra là người đọc chính. Phần lớn số sách truyện ấy là văn học Nga-Xô viết.

Tôi đã miệt mài đọc những cuốn sách đó. Mê mẩn, chim đắm vào thiên nhiên, phong cảnh, xã hội Nga thời phong kiến Sa hoàng, rồi lại sục sôi cùng bầu không khí cách mạng tháng Mười Nga cùng sự khốc liệt bi tráng của chiến tranh thế giới thứ 2, khi nhân dân Liên Xô tiến hành cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống lại chủ nghĩa phát-xít. Với một tâm trạng như vậy, tôi đã biết thích mẫu nhân vật có chất anh hùng, kiểu như vị công tước Andray Ponkonsky (Chiến tranh và hòa bình ), Olech Cosevoi và những thanh niên kôm-xô-môn ( Đội cận vệ thanh niên), chú bé đánh trống v.v…

Lớn lên chút nữa, tôi có dịp mon men đến các tác phẩm khác như Anna Karenina ( L. Tolstoi ), Taras Bulba ( N. V Gogol ), Bút ký người đi săn, Cha và con, Mối tình đầu, Lũ xuân, Axia ( I. Turgeniev ), Sông Đông êm đềm, Đất vỡ hoang ( M. Solokhov ) , Người đàn bà có con chó nhỏ cùng vài ba truyện ngắn khác của A. Tsekhov… Và như vậy, tôi đã mong manh biết hương vị của tình yêu đôi lứa toát ra từ những nhân vật, những cuốn sách văn học Nga vốn luôn thấm đẫm tình người. Những tình cảm đó len lỏi trong tôi, ít nhiều dẫn dắt tôi đến với thứ tình cảm tự nhiên đầy hấp dẫn với tuổi mới lớn, tình yêu nam nữ, mối tình đầu…

Đến lúc tôi học đại học, cũng là thời điểm Việt Nam đang lên đến đỉnh cao của quang vinh, ấy là kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh chống Mỹ Ngụy. Đây cũng là thời điểm cực thịnh của phe XHCN. Lưu học sinh Việt Nam ào ạt sang Liên Xô học tập, từ học nghề và bậc đại học đến bậc cao hơn là phó tiến sĩ, tiến sĩ đủ các chuyên ngành. Những người từng được đào tạo sớm ở Liên Xô đã về nước làm việc thì vào độ chín. Ấy cũng chính là lúc văn học Nga – Xô-viết được dịch ra tiếng Việt, được các nhà xuất bản ở ta thi nhau in. Tuy in trên giấy xấu, song người đọc có cái mà đọc. Những năm tháng này, qua hệ thống thư viện nhà trường, rồi dè sẻn tiền gia đình cho, tôi đã đọc không biết bao nhiêu tác phẩm văn học Nga – Xô-viết. Trong trí nhớ của tôi ngổn ngang những tác phẩm như : Xê-vat-trô-pôn ( L. Tolstoi), Những đóm lửa ( Korolenko ), Chuyện sông Đông , Số phận con người ( M. Solokhov ), Gia đình Golovdiov ( ), Đêm trước ( I. Turgeniev ), Paris sụp đổ ( I. Erenburg ), Tuyển truyện ngắn ( A. Tsekhov ), Tuyển truyện ngắn ( M Gorki ), Thép đã tôi thế đấy ( Ostrovski ), bộ ba tác phẩm chân dung văn học là Bông hồng vàng-Bình minh mưa-Một mình với mùa thu ( K. Pautovsky ), Cây phong non chùm khăn đỏ, Vình biệt Gun-sa -rư , Con chó khoang chạy bên bở biển, Đoạn đầu đài ( T. Aimatov ), Truyện một người chân chính, Những người Xô-viết chúng ta ( B. Polevoi ), Daghestan của tôi ( R.Gamzatov ), Bến bờ ( I. Bondarev ), Trên mảnh đất người đời (K.Ivanov) , Và nơi đây bình minh yên tĩnh ( Vaxiliev ), Bài ca núi Anpơ (V. Bưkov )… Rồi đó là hàng loạt những cái tên như : K. Feedin, A. Platonov, B. Zitkov, N. Dumbadze, F. Gladkov, K.Ximonov, V. Sucsin, Raxputin, A. Kron …v.v… Dạo đó, những tác phẩm bị xem là có vấn đề về chính trị như các tác phẩm của I. Bunin, thơ và tiểu thuyết của B. Pasternak ( Bác sĩ Zivago ), của A. Soljenitsin; hoặc những tác phẩm được cho là khó hiểu hoặc lạ lẫm kiểu như Trái tim chó, Nghệ nhân và Margrita ( M. Bugakov ), hay như Lôlita ( Nabokov) không hề được dịch và xuất bản, mà chỉ nghe phong thanh rằng hay ho thế này xuất sắc thế kia chứ nào biết đầu cua tai nheo ra sao.

Văn học Nga – Xô-viết đã chinh phục nhiều thế hệ người Việt Nam, trước tiên là bởi tình cảm với quê hương Cách mạng Tháng Mười, với đất nước của V.I.Lenin, sau nữa là vì chính sự xuất sắc của nền văn học đó.Vào thời ấy, hết thảy những ai yêu văn học, ở độ tuổi học trò rồi sống đời sống sinh viên, hoặc ra mặt trận, đều mang trong lòng tình cảm và hình bóng một vài nhân vật hay tác phẩm văn chương Nga – Xô-viết. Ngày ấy, những tác phẩm thắp lên bầu nhiệt huyết của thanh niên Việt Nam và trở thành cẩm nang gối đầu giường là những Thép đã tôi thế đấy, Đội cận vệ thanh niên, Trong chiến hào Stalingrad ; tuổi trẻ học đường chớm yêu đương thì truyền tay nhau Mối tình đầu của Turgeniev, Anna Karenina của L. Tolstoi, Bông hồng vàng của Paustovski, là Chuyện núi đồi và thảo nguyên của Aimatov, là thơ Pushkin và Lermontov .v.v…

Tôi nhớ, văn học Nga – Xô-viết đã làm nên những hiện tương xã hội, những trào lưu nho nhỏ. Ví như, Thép đã thôi thế đấy, đã thôi thúc nhiều nam thanh niên viết đơn tình nguyện ra mặt trận ( thậm chí đã có người cắt tay lấy máu mình để viết đơn ) ; Bài thơ Đợi anh về của K. Ximonov qua bản dịch của nhà thơ Tố Hữu làm nhiều người xúc động, dám hy sinh mà không bi lụy ; Cuộc họa thơ tình tay đôi giữa Berxonov – Onga Bergon dậy lên trào lưu tình yêu tinh thần trong giới sinh viên ; Tiểu thuyết luận đề Thao thức của A. Kron đã cho thấy phần nào sự xơ cứng của xã hội và nhà nước Liên Xô với những giá trị ảo, đồng thời sớm cảnh báo về một sự rạn nứt khó bề cứu vãn, đã làm không ít trí thức ta phải suy ngẫm, kiểm chứng …

Sự thăng hoa của tâm trạng nhiều khi lại bắt nguồn từ sự thăng hoa của âm nhạc và văn học, và nó dẫn đến sự thăng hoa về sáng tạo. Không biết với những người khác thì thế nào, riêng với tôi , văn học Nga-Xôviết không những dẫn dắt tôi đến lòng yêu cuộc sống và tình yêu đôi lứa, hơn thế còn thắp lên trong tôi sự khát khao của sáng tạo, đưa tôi đến con đường sáng tác văn học. Nếu như văn học sử Trung Quốc đã mê hoặc tôi, kích thích lòng ham hiểu biết, khiến tôi bị lôi kéo để rồi sa đà vào mớ bòng bong rối rắm của các sự kiện và buồn vui theo sự thăng trầm của lịch sử, thì văn học Nga – Xô-viết lại khiến lòng tôi rạo rực đam mê, ham sống và mong muốn được sáng tạo, cống hiến. Tôi biết ghi nhật ký, bắt đầu viết những vần thơ, những dòng văn đầu tiên là nhờ thế !…

Bây giờ văn chương đa sắc màu, đa diện… Đông hay Tây, cổ hay kim, thích hoặc không, đều vô nghĩa cả, khi mà internet luồn lách và xuyên phá hết thảy. Việc định giá trị thật – giả , hiện thực – huyền ảo cũng khó lắm thay. Người đọc có quyền, họ tự lựa chọn và biết tìm cách để đọc được những gì họ cần xem, muốn xem. Vậy thì, lựa chọn cái gì là việc của họ, công việc của người cầm bút là viết. Viết ra những gì mà mình tâm đắc, mình muốn bộc lộ, thể hiện…

Với người viết, sống trong một bầu không khí như thế tưởng dễ lắm thay, song kỳ thực lại khó lắm thay…. Và giờ đây, sống trong một thế giới có HIV và ma túy, có bạo lực và khủng bố, có hạt nhân và virus máy tính … thì ai có thể tránh được đây, và cũng chẳng thể dọn nhà sang một thế giới khác trong sạch hơn để sinh sống ? Chỉ còn cách chấp nhận và sống chung, với sự nỗ lực mang tính cá nhân nhiều hơn ?…. Ấy là lúc âm nhạc và văn chương lên tiếng. Đấy là dạng thức, là phương tiện, hơn thế là công cụ, để nâng đỡ và cứu rỗi tinh thần con người ta. Tôi đã từng yêu văn học Nga – Xô-viết với cả tấm tình. Tôi không hề hối tiếc, bởi với tôi, văn học Nga – Xô-viết luôn luôn là chiếc nôi vĩ đại và êm ái, bởi giờ đây, vẫn chính văn học Nga – Xô-viết nâng giấc tâm hồn tôi !…

Tôi viết những dòng này vừa đúng vào dịp người ta kỷ niệm 90 cách mạng tháng Mười Nga thành công. Về mặt tinh thần để hướng đến một xã hội tương lai tốt đẹp hơn, tôi quả quyết rằng, giá trị của cuộc cách mạng ấy vẫn con nguyên giá trị ban đầu, tươi mới và sôi động như những gì nhà báo người Mỹ là John Reed đã viết trong thiên phóng sự nổi tiếng của mình- Mười ngày rung chuyển thế giới.

Tôi đã hiểu thế nào là đặc sản Nga, bánh mỳ đen với muối và văn học, tôi đã hiểu thế nào là tâm hồn và tính cách Nga.

Mặc dù, chưa một lần đặt chân đến nước Nga mà tôi lòng đã đầy ắp ký ức về thiên nhiên và con người Nga như đã sống những năm dài ở đó, chỉ là qua cuộc thám hiểm kỳ thú vào thế giới văn học Nga – Xô-viết mà thôi !…

IVAN NÔVITXKI

Trần Đăng Khoa

Người đầu tiên đón tôi ở Trường viết văn Macxim Gorki – Maxcơva là Iuri Valentinôvich Gaphurôp. Ông là nhà phê bình văn học, tốt nghiệp khoa lý luận trường M. Gorki, ra làm báo Đường sắt Xô-viết, rồi trở lại trường làm Trưởng khoa ngoại quốc, phụ trách người nước ngoài. Đó là một người tầm thước. Mái tóc nâu. Đôi mắt sắc và nụ cười bỡ ngỡ mà ta thường chỉ thấy trên gương mặt các giáo sư Xô-viết. Đó là nụ cười nhân hậu và trong vắt của đứa trẻ thơ nằm trong nôi mà các cụ ta ở quê vẫn quen gọi là nụ cười bà mụ dạy. Còn tôi, không hiểu sao, tôi cứ nghĩ đấy là nụ cười của Nước thiên đàng.

Tôi ọ ẹ nói với Iuri Valentinôvich bằng một thứ tiếng Nga ngọng nghịu, rằng tôi muốn được ở chung với người Nga, một anh bạn Nga thuần khiết để học tiếng. Chẳng biết Iuri có hiểu điều tôi nói không, chỉ thấy ông gật gật và mủm mỉm cười, một nụ cười đúng là của Nước thiên đàng.

Thế rồi ngay chiều hôm ấy đã có tiếng gõ cửa. Một anh bạn Nga to béo phục phịch với gương mặt rậm rịt râu ria, mang theo một chiếc va-li cũ nát đựng đầy sách. Những cuốn sách cũng cũ kỹ và bụi bặm như ông chủ của chúng.

– Tôi là hàng xóm của anh. Iuri bảo anh là đại uý quân đội. Đúng không? Tôi cũng là đại uý, đại uý phục viên.

Anh bạn mới đến bắt đầu nói bằng một thứ tiếng nghe xèo xèo như rán tóp mỡ. Vừa nói, anh vừa ra hiệu, hai tay cứ khoắng tít trong không khí như một bà cốt đã nhập đồng. Sau những lời ỗm oãm của anh, tôi lờ mờ hiểu rằng, anh cũng đã từng là một người lính, từng làm nghĩa vụ quốc tế đánh nhau ở Apganixtan và để lại trên vùng đất xa xôi ấy một nửa bàn chân trái, do giẫm phải mìn.

– Tôi là Ivan Nôvitxki. – Anh bạn tiếp tục giới thiệu.- Ivan Nôvitxki nghĩa là gì, cậu biết không?  Nghĩa là Ivan no whisky – Ivan không có rượu.

Nói rồi, Ivan không có rượu búng búng một ngón tay ngắn chủn, mập mạp vào cái cổ to, đỏ bự như cổ gà chọi. Và thế là chúng tôi thân nhau. Thân khá nhanh. Có lẽ chính cái chất nông dân quê kiểng đã giúp chúng tôi sớm “bắt” nhau. Tôi ở sông Kinh Thầy; còn Ivan ở sông Đông. Anh là đồng hương của Mikhain Sôlôkhôp. Thành phố Rôxtôp trên sông Đông, quê anh có thể gọi là thành phố M. Sôlôkhôp. Ngay từ khi nhà văn còn sống, người ta đã dựng tượng ông bên bờ sông Đông, đã có cả một bảo tàng M. Sôlôkhôp do chính ông, ăn lương nhà nước, biên chế làm nhân viên hướng dẫn bảo tàng. Các phố, đại lộ và ga tàu điện ngầm trong thành phố đều mang tên các nhân vật của M. Sôlôkhôp, chứ không phải tên các danh nhân văn hoá hay các vị chính khách như ở các thành phố Nga khác. ở đó có ga Grigôri, công viên Panchêlêvits, phố Đunhiasca. Nhà Ivan trên đại lộ Acxênhia.

“Tiếc là bây giờ chẳng còn Acxênhia nữa. – Ivan lầu bầu. – Các cô gái sông Đông bây giờ họ nghiêm trang lắm, cứ như là những cây cột điện mặc váy. Phụ nữ mà không lẳng lơ, không sóng sánh ướt át thì chán lắm, vì mất hết sự hấp dẫn”. Ivan là người mau chuyện. Anh bô lô ba la suốt ngày, cứ như một cái rađiô di động. Không cần biết ông bạn ấm ớ ở trên sao Hoả kia có nghe được mình hay không. Có khi nửa đêm, anh còn lôi tôi dậy, bắt nghe hàng loạt thơ mới. Anh viết lại nhiều. Mà viết được bài nào, anh cũng bắt tôi phải nghe. Có ngày, anh nhăn nhó với tôi : “Hôm nay đối với tớ, quả là một ngày xúi quẩy”. Tôi hoảng hốt : “Sao thế ? Có chuyện gì thế, Ivan?”. “Một ngày xấu. Rất xấu chứ sao? Đúng là ngày quỷ tha ma bắt. Tớ viết được ít quá. Có được mỗi… mười một bài thơ thôi”. Tôi tròn mắt kinh hãi. Còn anh thì lầu bầu đọc thơ. Anh đọc chậm. Thỉnh thoảng lại hỏi :”Cậu có hiểu không ?”.

Nếu thấy mặt tôi nghệt ra, anh lập tức lật từ điển. Ivan tra từ điển ma quái như một nhà ảo thuật. Anh chỉ lật một, hai nhát đã ra ngay được chữ cần tra. Đi dạo, hay ngồi trò chuyện với tôi, bao giờ anh cũng cặp kè kè hai bên nách hai cuốn từ điển dày đến hàng…. chục ký. Tôi nghe thơ Ivan lâu thành quen, quen đến mức không cần từ điển cũng hiểu được hết. “Cậu viết khoẻ thật. – Tôi bảo. – ở Việt Nam, đến thi sĩ lớn cũng không thể viết nổi một ngày chục bài. Có người hàng tháng, thậm chí phải hàng năm mới viết được một bài. Ngày xúi quẩy mà cậu còn sản xuất được hơn chục bài thì cậu đúng là thiên tài. Nhưng thiên tài thì không nên đọc thơ, Ivan ạ, chỉ đọc số lượng bài cho thiên hạ hãi thôi, chứ đừng đọc thơ nhá, vì thơ như thế này mà một ngày cậu viết được có mười một bài thì… ít quá”.

Ivan cười hự hự, rồi dứ dứ nắm đấm lên trước trán tôi. Tôi cũng cười khụt khịt. Đúng là hai lão dở người. Ngoài kia, khu vườn vàng rực sau ô cửa sổ bỗng cồn lên tiếng quạ. Tuyết đang xuống. Những bông tuyết non đầu mùa bay rụt rè như đang muốn thăm dò mặt đất. Có bông tan lửng ngay trong không trung, có bông rơi xuống lá cây thì hoá thành những chấm nước nhỏ li ti như mưa bụi. Ivan nhảy cúa lên : “Được mùa ! Nước Nga lại được mùa rồi”. Ivan ôm chầm lấy tôi, hôn rối rít. Bây giờ thì anh không còn là thi sĩ nữa, anh là gã nông dân sông Đông thực thụ. Rồi anh ồm oàm giải thích cho tôi hiểu tuyết có vai trò quan trọng như thế nào đối với mùa màng. Tuyết rơi sớm, rơi dày sẽ ủ ấm hạt giống trong đất. Khi tuyết tan, mùa sẽ bục dậy ngùn ngụt như có phép mầu nhiệm. Còn khi mùa tuyết mà chưa thấy tuyết thì dân lo đến thắt ruột, vì biết là mất mùa, đói kém, bởi hạt giống đã gieo sẽ cháy khô trong giá rét. Thế rồi vui quá, Ivan kéo tôi, lao tồng tộc xuống đường. ở đó khá đông người. Toàn cụ già và trẻ con. Họ mặc những bộ váy áo sặc sỡ, rồi cứ để đầu trần mà nhảy múa tưng bừng. Có ông cụ đặt đứa cháu bụ bẫm lên vai mà múa. Ông cụ múa bằng đôi chân. Người Nga đón tuyết đầu mùa như thế đấy.

Chiều ấy, Ivan về nhà sớm hơn ngày thường. Anh khuân lỉnh kỉnh bao nhiêu đồ ăn. Bánh mì, bắp cải, súp cá, cà-rốt. Thấy tôi, anh reo lên :

– Tớ tìm được thơ cậu đây này. Có đúng là thơ cậu không ?

Rồi anh giơ lên đầu một cuốn sách mỏng dính, đen nhẻm, trông rất nhem nhuốc. Đúng là thơ tôi, tập Bên cửa sổ máy bay in ở Nhà xuất bản Tác phẩm mới, bằng tiếng Việt, thời còn bao cấp. Tôi rất kinh ngạc, làm sao Ivan có thể biết được đó là thơ tôi, khi ở trên bìa, ở khắp cuốn sách chẳng có một chữ Nga nào.

– Tớ tìm được ở hiệu sách Hữu nghị, phố Gorki đấy. ở đó, có rất nhiều sách Việt Nam. Trông tên tác giả, tớ đoán là cậu. Tớ mua những chín côpêch cơ đấy.

– Đó, cậu thấy không ? Tớ viết chật vật suốt mười năm mới được có chín côpêch, trị giá bằng một quả trứng gà loại ba… Trứng gà loại một thì một quả những mười hai côpếch cơ.

– Thế là quá đắt đấy. – Ivan lại cười hích hích. – Tập thơ cậu bằng chín côpêch, chín côpêch mua được chín bao diêm. Mà chỉ một que diêm thôi cậu đã đốt được cả Matxcơva rồi. Thế thì có gì mà cậu phải quàng quạc như con quạ già mất tổ thế ?

Ivan khá hóm hỉnh và thông minh. Trong những cuộc tranh biện, anh luôn có những ý kiến bất ngờ. Tôi rất thích nghe những nhận xét của anh về những con người chúng tôi thường gặp. Bởi nghe nó ngồ ngộ, vui tai, chứ thực tình, tôi cũng không tin lắm ở những lời nhận xét của anh.

Lúc bấy giờ là đầu năm 1987. Rất nhiều nhà văn của ta sang trường Macxim Gorki thực tập và nghe một cua giảng ngắn hạn có phiên dịch, Ivan thân họ khá nhanh. Có đận anh về phòng đã say nhoè bia rượu. Anh hỏi :”Họ có tài không ? Các nhà văn Việt Nam ấy”. “Tài chứ ! Tài lắm đấy. ở nước tớ, họ là những nhà văn lớn, gặp được họ không dễ, lại được họ mời bia như cậu càng không dễ”. Ivan cười khùng khục, vẻ đắc chí như người trúng số độc đắc. “Tớ thấy họ rất chịu khó. Rỗi lúc nào, là họ đi cửa hàng. Họ mua gì, cậu biết không ? Họ mua khăn mùi-xoa, dây điện và máy sấy tóc. Toàn những đồ đạc lỉnh kỉnh của đàn bà. Các bố này chắc là yêu vợ lắm. Mà nói cho đúng, trông họ cứ cặm cụi như những người đàn bà đã hết duyên, phải lấy sự chịu khó, tần tảo để thay cho nhan sắc nhằm giữ chân các đức ông chồng. Những người như thế mà có tài thì thật quý. Đàn ông nước cậu tuyệt vời. Đàn ông Liên Xô, họ chẳng biết gì đến chuyện bếp núc”. Rồi Ivan lẩm bẩm bình luận về từng nhà văn một. Cứ theo lời anh thì mỗi con người đều là cái giá phơi sách, một cuốn sách chứa toàn điều bí mật của cả đời mình mà lại cứ mở tênh hênh giữa giời đất. Cuốn sách ấy chính là gương mặt của họ.

Tôi đâm tò mò :
– Thế cậu thấy ông này thế nào ?

Tôi chỉ nhà văn Lê Lựu đang ngồi xổm trên chiếc ghế dài kê dọc hành lang, bỏm bẻm nhai bánh mì. Trông anh như một bà đi chợ vừa buông quang thúng, giờ thì đang thảnh thơi nhai trầu vỏ.

– Ông này tuyệt vời ! – Ivan thì thầm. – Ông ấy rất thích kinh doanh, nhưng vốn không có, hoặc giả nếu có, ông ấy cũng không chịu bỏ vốn vì sợ lỗ. Bởi thế, ông ấy toàn kinh doanh đồ cũ. ở gầm giường ông ấy có đến hàng trăm đôi giày. Nhưng đến khi cần vào vũ trường thì ông ấy chẳng có đôi nào cả.

– Thế còn ông kia ?
Tôi lại chỉ nhà thơ Phạm Tiến Duật đang nói chuyện bằng tiếng Nga với mấy cô gái Nga ở bến đợi xe. Tôi chẳng biết anh nói gì. Chỉ thấy người anh lắc lư như một quả chuông, còn mấy cô gái Nga thì cười như nắc nẻ.

– Đấy là một thiên tài. Ông ấy còn là bậc thày của E. Eptusencô. – Ivan lại nhận xét

– Đó là một nhà truyền giáo vĩ đại. Ông ấy có khả năng thôi miên hàng triệu người, nhưng ông ấy thì dường như lại không tin lắm ở những điều ông ấy nói ra. Chỉ khi nào người ta bắt đầu nghi ngờ ông ấy, thì ông ấy mới thực sự tin vào những gì mình đã phán truyền. Hình như những nhà truyền đạo đều như thế cả cậu ạ.

– Thế còn chị này ?
– Có phải người kia không ? – Ivan đánh mắt về phía nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ. Chị đang xoè tay cho cô Elêna Elêcôva, một nhà văn Bungari bói tay. – Đẹp quá. – Ivan thì thào – Bà ấy như Đức Mẹ ấy. Tiếc là Đức Mẹ hơi lùn một tí. Bà này mới đúng là thi sĩ. Bà ấy dễ tin người lắm. Ai nói gì cũng tin. Vào các cửa hàng vải hay cửa hàng may đo của Nga, chắc bà ấy ngạc nhiên lắm. “Sao ở đây có lắm ông I. Gagarin thế nhỉ. Cửa hàng nào cũng có hàng chục ông I. Gagarin khoác đủ các loại áo như sắp sửa đi tắm”. Trước con mắt bà ấy, cái manơcanh ở cửa hàng nào cũng thành nhà du hành vũ trụ I. Gagarin.

– Thế còn tớ ? Cậu thấy tớ sao? Thử hé cánh cửa cho tớ lé mắt nhòm vào tương lai tí chút.

– Cậu ấy à ? Thảm lắm !

Ivan vớ cái bút dạ, vẽ khoanh tròn một củ hành tây, bên trên loà xoà những lá, còn ở dưới thì lờ phờ mấy cái rễ xoăn xoeo.

– Đây chính là chân dung của cậu, khi cậu mới vào trường. Còn đây là khi cậu tốt nghiệp ra trường…

Ivan xoay củ hành tây, chúc ngược đầu xuống. Rồi anh cười ầm lên. Gương mặt hoang vu rậm rịt của anh bỗng nhoe nhoét nước mắt:

– Có đúng là cậu không nào ? Khi vào trường, cậu là anh chàng tóc dài, râu ngắn, còn khi ra trường thì cậu chỉ có râu mà chẳng còn sợi tóc nào…

Nguồn:
LÃO KHOA

Xem thêm
Chuyên gia nông nghiệp Nga hợp tác với Việt Nam

GS Vũ Công Hậu và những người bạn Nga (HK thứ 2 từ trái)

GS Trần Thế Thông (thứ 2 từ phải) làm việc với chuyên gia Nga

GS Vũ Công Hậu thảo luận khoa học và những người bạn Nga

GS Trần Thế Thông tặng quà lưu niệm cho chuyên gia Nga

(Ảnh tư liệu Hoàng Kim, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Hưng Lôc, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, nơi 15 năm hợp tác thu thập và đánh giá nguồn gen cậy trồng phía Nam hơp tác với Viện Vavilop (Nga) và Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam; GSVS Trần Đình Long chủ trì)

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Những ngôi sao không bao giờ tắt

DẠY VÀ HỌC. Những ngôi sao không bao giờ tắt là lời tôn vinh những con người quả cảm, xả thân cho Tổ Quốc sống mãi. Đó là nén tâm hương mà nhà văn Lưu Quốc Hòa, nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà thơ Chữ Thu Hằng cùng những người thân, đồng đội, đồng nghiệp, đồng hương và những tấm lòng thành của người  dân khắp mọi miền đất nước dâng lên mười cô gái Lam Hạ, nhân ngày quê hương vừa khởi công xây dựng khu Tâm linh Lam Hạ và mở cửa ngôi đền thiêng tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh ở Hà Nam trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Có lẽ không ở đâu trên thế gian này thấm nhiều máu xương như đất Việt Nam cho mỗi tấc đấc, ngọn núi, dòng sông, cửa biển. Không ở đâu mà bài học lịch sử “vua tôi đồng lòng, toàn dân đồng sức” “lật thuyền thấm thía dân như nước” sâu sắc như ở nơi này.

Tôi tin những người sống chí tình chí nghĩa với đồng bào mình, những người quả cảm hiến dâng trọn đời mình cho quê hương đất nước, những người sống phúc hậu yêu thương, làm việc tốt, viết và nói điều hay sẽ mãi mãi là những ngôi sao không bao giờ tắt. Tôi tin nghĩa cử của lòng dân, giếng ngọc thanh xuân của người Việt vĩnh viễn không bao giờ khô cạn. Tôi tin những bài mà các bạn xóm Lá viết dưới đây là những nén tâm hương thắp cho những người bình dị mà cao quý, việc nhỏ mà nghĩa lớn.

GIỖ ĐỒNG ĐỘI VÀ GIAO LƯU TRUYỀN THỐNG

Lưu Quốc Hòa

Trận đánh trả không quân Mỹ bảo vệ bầu trời Hà Nam vào ngày 1/10/ 1966 đã được ghi vào lịch sử Quân sự của bộ đội Phòng không Không quân Việt Nam. Trong trận đánh lịch sử này bộ đội và dân quân Lam Hạ phải đương đầu với các siêu điện tử Hoa Kỳ. Chỉ trong một buổi sáng Mỹ đã huy động 50 lần chiếc máy bay phản lực chia làm 5 đợ̣t, mỗi đợt cách nhau 15 phút oanh kích vào ba mục tiêu trong “tam giác lửa Hà Nam”.

Đại đội pháo phòng không Quyết Thắng của tỉnh đội Nam Hà và dân quân thôn Đình Tràng hiệp đồng chiến đấu bên nhau và cùng hy sinh. 10 cô gái Lam Hạ tuổi đời từ 16 đến 22 hi sinh trên mâm pháo. Nhiều năm qua hình ảnh các chị đã đi vào thi ca, nhạc hoạ và vừa qua Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng, một chị được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang. Nơi trận địa cũ trên diện tích 17 ha đã lập đền thờ các chị như khu di tích Đồng Lộc Hà Tĩnh và đang hoàn chỉnh giai đoạn một để tỉnh tổ chức long trọng lễ cầu siêu vào dịp 22/12 sắp tới.

Được sự đồng ý của Đảng và chính quyền trong tỉnh, chi hội cựu dân quân pháo thủ gồm 20 chị đã được thành lập từ năm 2009 dưới sự tư vấn và tổ chức của Nhà văn Lưu Quốc Hoà.và sự tài trợ của ông Nguyễn Đức Lộc, Doanh nhân Văn Hoá Việt Nam.

Năm nay là lần giỗ trọng thứ 45, đồng đội của các chị trong chi hội tổ chức
giỗ đồng đội và giao lưu truyền thống.

GIỖ TRẬN MƯỜI CÔ GÁI LAM HẠ

Chử Thu Hằng

Em về giỗ trận hôm nay
Nén nhang thơm
Bó hoa gầy
Chị ơi…
Rưng rưng em khấn tên người
Tìm trong hương khói nụ cười thanh xuân

Bầu trời Lam Hạ trong ngần
Châu Giang xanh
Tiếng chim gần véo von
Qua rồi một thuở đạn bom
Chỗ xưa trận địa nay tròn bóng trưa

Nhà ai kẽo kẹt võng đưa
Ầu ơ… Mẹ dỗ giấc mơ thanh bình
Quê mình nay đã hồi sinh
Bốn nhăm năm biết mấy tình, chị ơi

Bạn chung mâm pháo lại ngồi
Chung mâm giỗ trận, bồi hồi nhắc tên
Ngày này, năm ấy… không quên
Máu đào các chị viết nên sử vàng

Rì rầm sóng nước Châu Giang
Chiến công năm ấy kể ngàn năm sau…

NHỮNG NGÔI SAO KHÔNG BAO GI Ờ TẮT

Trần Đăng Khoa

Bạn đang có trên tay “Những vì sao không tắt”. Hay nói một một cách khác: Đây là nén tâm hương, mà nhà văn Lưu Quốc Hòa và các đồng nghiệp của anh đã thành kính dâng lên mười cô gái Lam Hạ, nhân ngày quê hương anh vừa khởi công xây dựng khu Tâm linh Lam Hạ và mở cửa ngôi đền thiêng tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh ở Hà Nam trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Phụ nữ đồng nghĩa với cái đẹp. Nói cho thật công bằng, họ chính là hiện thân của cái đẹp. Trong cõi đời bụi bặm và phàm tục này, cái đẹp thường lại rất mong manh, nên cần được nâng lưu, chở che và bảo vệ. Có lẽ vì thế, một nhà hiền triết nói rằng: Đối với phụ nữ, dẫu chỉ đánh họ bằng một nhành hoa hồng thì cũng vẫn dã man và thô bạo. “Chiến tranh không có gương mặt đàn bà”.

Nhưng trên mảnh đất đau thương này thì đâu phải thế. Khi nước nhà đã loạn thì chẳng cái đẹp nào còn có chốn nương thân. Vì thế, “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh!”. Hàng vạn phụ nữ lên đường ra mặt trận. Và nói như một nhà thơ:

Có bao nhiêu lớp người
Lao vào lửa đạn
Cho Tổ Quốc sáng bừng tên tuổi
Rồi để lại những nấm mồ vô danh
Trắng đến tận chân trời…

Có lẽ không đâu như ở Việt Nam. Hầu như địa phương nào cũng có Nghĩa trang liệt sĩ. Nghĩa trang rải khắp đất nước. Mà rồi vẫn còn hàng ngàn, hàng vạn liệt sĩ nằm ngoài nghĩa trang, trong những cánh rừng, con suối không tên không tuổi. Rồi chúng ta còn thành kính thả hoa xuống các dòng sông:

Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Bao tuổi thanh xuân thành sóng nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm…

Và chúng ta bàng hoàng nhận ra rằng, con sông Thạch Hãn trong buốt như nước mắt ấy là một nghĩa trang bằng nước. Trên đất nước này có bao nhiêu con sông Thạch Hãn như thế?. Rồi cả Biển Đông mù mịt sóng gió nữa kia? Ai biết được còn bao nhiêu hài cốt liệt sĩ?. Trong số những anh hùng vô danh ấy, có bao nhiêu phụ nữ, là hiện thân của Cái Đẹp. Chúng ta đã từng có mười cô gái ở Nghĩa trang Liệt sĩ Đồng Lộc. Rồi những cô gái ở Hang Tám cô trên tuyến lửa Quảng Bình. Rồi cả dãy Trường Sơn trùng điệp đại ngàn kia, với bao nhiêu thân gái…

Và bây giờ, chúng ta lại có thêm mười cô gái Lam Hạ. Và không phải chỉ có mười cô gái quả cảm, còn hàng ngàn hàng vạn Liệt sĩ đã hy sinh trên mảnh đất Hà Nam này.

Ai cũng biết trong chiến tranh, Phủ Lý là cửa ngõ bảo vệ Thủ Đô, và cùng với Thanh Hóa, Vinh, Quảng Bình, là Tuyến đường vận tải quân sự nối hai miền Nam Bắc. Một chiến trường khốc liệt. Bà Blaga Đimitrova, thi hào dân tộc Bungari, một ký giả nổi tiếng thế giới, đã từng có mặt trên mảnh đất này và đã có tác phẩm đặc sắc viết về Phủ Lý bao gồm cả thơ và văn xuôi. Cứ như ký ức của Blaga Đimitrova, Phủ Lý là một vùng mù mịt bom đạn. Không một căn nhà nào còn nguyên vẹn. Đi qua Phủ Lý ngổn ngang gạch đá, bà có cảm giác như mình đang bước giữa …mặt trăng. Một vùng đất chết. Và rồi từ đó nhìn ra thế giới, bà thấy trái đất này thật mỏng mảnh đáng thương. Nó cũng đang run rẩy xanh xao vì mất quá nhiều máu.

Tắm trong vùng máu đó là những con người quả cảm, xả thân cho Tổ Quốc sống mãi. Trong số những anh hùng bất khuất ấy, có mười cô gái Lam Hạ. Họ đều còn rất trẻ. Có người mới rời khăn quàng đỏ được hai ngày. Hầu hết, họ đều chưa có người yêu.

Tạo dựng lại cả một thời máu lửa khốc liệt ấy, may mắn sao, Lưu Quốc Hòa lại là người trong cuộc. Anh cùng gia đình tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Nhờ thế mà anh có được những trang viết thật sự đa dạng và sinh động. Nhiều mảng như nhật ký chiến tranh bằng rất nhiều thể loại: Thơ, Trường ca, Bút ký, Ghi chép… Cũng có khi anh không hư cấu, đẽo gọt, tạo dựng, mà cứ để nguyên khối xù xì tư liệu, như một dạng Biên bản chiến trường. Chính vì thế mà cuốn sách có sức thuyết phục vì tính chân thực của một người ở trong cuộc. Đọc anh, ta không thấy văn chương đâu cả. Có cảm giác Lưu Quốc Hòa không viết văn, anh đã sổ hết ruột gan mình ra trang giấy. Ngổn ngang trong trang sách là bề bộn cuộc sống. Rẽ qua những con chữ lấm láp và nóng hổi, ta gặp tấm lòng anh. Một tấm lòng luôn nặng trĩu trách nhiệm với quá khứ cao đẹp, kính trọng và biết ơn những người đã khuất. Và cao hơn hết là tình yêu Tổ quốc, tình yêu thương con người.

Vì thế, tôi trân trọng giới thiệu cuốn sách này với đông đảo bạn đọc. Và tôi tin, rất tin cuốn sách này sẽ mang đến cho chúng ta nhiều điều thú vị. Đặc biệt là những trang tư liệu chiến tranh về sự hi sinh quả cảm của những con người bình dị mà cao đẹp. Và rồi, tự dưng tôi lại nhớ đến những câu thơ của một thi sĩ nào đó. Ông bảo, nếu trên mộ những người lính đã hy sinh vì Tổ Quốc, chúng ta chỉ thắp lên một ngọn nến, thì đêm đêm, Tổ Quốc Việt Nam đau thương của chúng ta sẽ sáng rực lên như một dải Ngân hà. Và nói như nhà văn Lưu Quốc Hòa, thì đấy cũng chính là những vì sao. Và những vì sao ấy sẽ không bao giờ tắt

Hà nội ngày 19/10/2011

TĐK

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Mình ở xóm lá với lão Khoa

alt

DẠY VÀ HỌC Lão Khoa viết văn như phù thuỷ . Hãy đọc cái kết của lão ở chuyện ÔNG CHỦ XE BỤI “Thương trường là chiến trường. Đây là chiến trường còn kinh hơn thời bom đạn! Chỉ có người trong cuộc mới biết được thôi. Nhiều đại gia trông bên ngoài rất hoành tráng, nhưng đang chết dần từng ngày. Nợ ngân hàng đến nghìn tỷ. Xoay xỏa thế nào. Chỉ còn chờ ngày sập tiệm. Ông không tin à? Kinh lắm! Thế nên mình cứ buôn thúng bán bưng, cứ làm ông chủ xe bụi cho chắc chắn. Nhếch nhác nhưng khỏe re. Rỗi rãi, có khi mình sẽ lại viết văn. Mà nếu viết văn, cuốn sách đầu tiên, không khéo mình lại viết về ông Lựu! Lôi ông Lựu ra bán, chắc chắn đắt hơn bia bụi rất nhiều! Nói rồi, Lưu Xuân Tình ngửa cổ cười. Trông lão rờn rợn như một gã địa chủ nhà quê, có của ăn của để. Kinh!” .

Tôi chỉ bình được một chữ (kèm vỗ đùi đánh đét): Phục ! Sướng thiệt! Tôi tự hào mình ở xóm lá với lão Khoa !

XUÂN DIÊU BÌNH THƠ TRÂN ĐĂNG KHOA

Tôi nhớ cách đây 40 năm khi chú Xuân Diện đến đọc thơ ở Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc. Mấy ngày hôm trước, trên bảng thông tin của Trường viết hàng chữ bằng phấn trắng. Lúc 7g tối thứ Bảy này có phim TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT CÓ THỂ HOÃN ! Thuở đó liên hệ phim rạp thật khó. Người viết có lẽ vì không chắc chắn nên đã viết câu trước rất khiêm tốn, nhỏ nhắn , còn câu sau thì viết rất to , ý muốn nói có thể có phim mà cũng có thể không, trường hợp đặc biệt có thể hoãn (để mọi người đừng phiền). Buồn cười là không hiểu sau, có lẽ là vì quá mong mỏi nên các lớp sinh viên chúng tôi lại kháo nhau, rũ nhau đi xem vì tên phim hay lắm, ngộ lắm. Trời mới chập tối, sân trường đã có nhiều người đến xí chỗ tốt gần rạp chiếu. Mặc dù thứ bảy là ngày cuối tuần, nhiều bạn thường về Hà Nội hoặc đi Bích Động. Cuối cùng, thì việc sẽ đến phải đến. Tối đó không có phim thật nhưng thay vào đó Đoàn trường đã rước được nhà thơ Xuân Diệu về nói chuyện.

Tôi thích thơ nên ngồi gần và nhớ như in cái chuyện thay kính của nhà thơ Xuân Diệu khi ông trò chuyện đến chỗ hứng nhất (Sau này trong Chân dung và đối thoại, tôi đặc biệt ấn tượng cái chi tiết tả thực này của Trần Đăng Khoa là Xuân Diệu không có thói quen lau kính mà ông có hai kính để luôn thay đổi., khi kính bị mờ là ông thay kính khác và nói chuyện thật say mê). Ông nói rất hào hứng và tôi thì nhìn ông như bị thôi miên. Đột nhiên ông chỉ vào mặt tôi : “Đố em biết Trần Đăng Khoa mấy tuổi?”. Tôi sững người hơi lúng túng vì bất ngờ nhưng sau đó kịp đáp ngay là Trần Đăng Khoa cỡ tuổi Hoàng Hiếu Nhân nên tôi nghĩ rằng có lẽ Khoa nhỏ hơn tôi ba tuổi. Hình như chú Xuân Diệu quên béng mất câu hỏi và cũng chẳng quan tâm đến tôi đang chờ đợi ông giải đáp cho mọi người là đúng hay sai. Mắt Xuân Diệu tự dưng như mơ màng, như thảnh thốt nhìn vào một chốn xa xăm … Giọng ông hạ chùng hẵn xuống như nói thủ thỉ với riêng tôi trước mặt mà quên mất cả một cử toạ đông đảo: “Tôi học bà má Năm Căn gọi anh giải phóng quân bằng thằng giải phóng quân cho nó thân mật. Tôi gọi Trần Đăng Khoa là thằng cháu Khoa vì sự thân mật, chứ thực tình Trần Đăng Khoa lớn lắm…. lớn lắm… lớn lắm (ông lắc lắc đầu và lặp lại ba lần). Mai sau, muốn biết thời gian lao của nước mình, người đọc chắc chắn phải tìm đến Khoa. Xuân Diệu đây này (Ông gập người xuống, tay nắm mũi làm điệu bộ )Tôi phải cúi..úi ..i xuống như thế này (Xuân Diệu gập người thấp, rất thấp, tay lay mũi, tay đỡ kính) đến lấm mũi và gọi là …. ông Khoa. Ông đột ngột nói to : ÔNG KHOA ! (mọi người cười ồ lên). Tôi – Xuân Diệu nói tiếp- đang chuyển thể và giới thiệu thơ Khoa ra thế giới. Hay lắm ! Thú lắm ! Tôi đọc cho các anh chị nghe nhé. EM KỂ CHUYỆN NÀY … Ông đọc chậm rãi – Chưa khi nào và chưa bao giờ tôi nghe thơ hay vậy. Và tôi thuộc , thuộc năm lòng suốt 40 năm! Các bạn biết không, tôi rất dỡ việc nhớ số điện thoại, thế mà lại thuộc một bài thơ dài. Số điện thoại của tôi đây, Hoàng Kim 0903613024. Bạn hãy kiểm tra bất chợt bất cứ lúc nào để biết chắc rằng tôi không có thủ một cuốn thơ của Khoa trong tay. Và rằng thật may mắn trên đời , chúng tôi có Khoa cùng xóm lá và Khoa thì may mắn có người thầy không lồ như Xuân Diệu để đứng lên vai, để lắng nghe những lời khen chê và tự soi lại mình, để Khoa mãi là Khoa trong lòng người cùng thời và Khoa không thể viết nhạt, không phụ lòng người đọc.

Để minh chúng , tôi xin chép lại bài thơ tôi nghe từ dịp đó. Bản này so với các bản in sau này, hình như Khoa có sửa một ít chữ hoặc cũng có thể nhà thơ Xuân Diệu hoặc tôi nhớ sai …

* Phản hồi từ: Trần Đăng Khoa ·http://Blogtiengviet.net/Lao Khoa 26.09.11@15:40 @Hoang Kim Cám ơn bác đã cho tôi những tư liệu rất hay về nhà thơ XD. Động tác và tính cách là rất chuẩn. XD đúng như vậy. Hy vọng dịp nào chúng ta gặp nhau. Chúc bác thành công trong sự nghiệp Dạy và Học.

EM KỂ CHUYỆN NÀY…

Trần Đăng Khoa

Sáng nay
Bọn em đi đánh dậm
Ở ao làng
Bên ruộng Lúa xanh non
Những cô Lúa phất phơ bím tóc
Những cậu Tre
Bá vai nhau
Thầm thì đứng học

Những chị Cò trắng
Khiêng Nắng
Qua Sông
Cô Gió chăn Mây trên Đồng
Bác Mặt trời
đạp xe qua đỉnh Núi
vẻ vui tươi
nhìn chúng em nhăn nhó cười …

Chúng em rất vui
vì đánh được nhiều Cá.
Này chị Cua càng
giơ tay chào biển Lúa
Này thằng Rói nhớ ai
mà khóc mãi
mắt đỏ ngầu như lửa.
Này câu Trê
đánh võ ở đâu
mà ngã bẹp đầu.
Lòng chúng em dào dạt …

Bỗng …
Trên con đường cát
Có vài bạn gái
Dáng chừng vừa đi học về
Đầu đội mủ rơm
Lưng đeo túi thuốc
Khăn quàng nở xòe trước ngực
Theo gió bay bay…

-Các bạn tìm gì ở đây?
Hây tìm lọ mực
Hay tìm bút máy đánh rơi ?
Các bạn đều trả lời

– Hôm qua
Thằng Mỹ bị bắn rơi
xuống cánh đồng ta
Các chú dân quân dong nó đi xa
Vẫn còn lại
những dấu chân in trên cát
Vẫn còn lại
những dấu chân tội ác
Trông vào nhức mắt
Các bạn đào đổ xuống ao sâu
Đổ xuống lòng mương
Từ lúc mờ sương
Cho tới khi
tiếng trống gọi về trường
Vẫn chưa hết
những dấu chân trên cát
Vẫn chưa hết
những dấu chân tội ác
Các bạn còn đào
đổ xuống ao sâu.

– Chao ôi !
Những lão Trê
đánh võ ngã bẹp đầu
Thắng Rói
mắt đỏ ngầu như lửa
và những chị Cua càng
dơ tay chào biển Lúa
đã ăn phải dấu chân này
bẩn thỉu biết bao …

Chúng em lặng nhìn nhau
Chẳng ai bảo ai
Chúng em đổ cả xuống ao
Trở về nhà với chiếc giỏ không
Và hát nghêu ngao

(Em kể chuyện này…
Mẹ không mắng
nên chúng em rất thích)
Những chị chim Sâu trên cành
Nhìn chúng em cười
Tích !
Tích !

* Phản hồi từ: Trần Đăng Khoa  http://lao.blogtiengviet.net 27.09.11@10:46 @Hoangkim Tôi quên bài thơ này rồi mà bác thì nhớ. Tài thật. Có nhiều câu thêm vào như “mẹ không mắng đâu nên em rất thích”. Còn thì cơ bản chính xac. Vái bác

ĐÊM YÊN TỬ NGHĨ VỀ CÔN SƠN

Tôi viết cảm nhận này trực tiếp trên trang mạng của Khoa . Ý nghĩ chảy nhanh ra đầu bút. Tôi đang đánh máy bài thơ EM KỂ CHUYỆN NÀY chưa kịp lưu thì cảm nhận của Khoa hiện ra: “@Hoang Kim. Cám ơn bác đã cho tôi những tư liệu rất hay về nhà thơ Xuân Diệu. Động tác và tính cách là rất chuẩn. Xuân Diệu đúng như vậy. Hy vọng dịp nào chúng ta gặp nhau. Chúc bác thành công trong sự nghiệp Dạy và Học”. Hãy khoan, Khoa ơi để mình kể bạn nghe chuyện Đêm Yên Tử nghĩ về Côn Sơn nhé. Mình ám ảnh chuyện này quá. Chuyện này ví như: Sự ghi ơn người khai sinh chữ quốc ngữ; Nguyễn Du đâu chỉ đại thi hào; Hồ Chí Minh rất ít trích dẫn; Bác có nhầm lẫn kẻ phi thường; Qua đèo chợt gặp mai đầu suối, Tâm linh đọc lại và suy ngẫm … Đó đều là những bí ẩn lịch sử cần người minh triết để thấu hiểu để trao lại… Mình nếu như không viết được vào ô cảm nhận này, vào chính thời điểm này thì hình như ít người hiểu thấu.

Đêm Côn Sơn của Khoa là đêm lạ lùng ! Đêm Yên Tử nghĩ về Côn Sơn là đêm thiêng kỳ l ạ. “Tỉnh thức giữa đêm thiêng Yên Tử. Để thấm hiểu đức Nhân Tông. Ta thành tâm đi bộ . Lên tận đỉnh chùa Đồng. Tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc.” Hình như bí ần của Nhân Tông và Nguyễn Trãi đã mách Khoa ở Đêm Côn Sơn và đã gợi cho mình nhìn thấy một chút dấu hiệu nhận biết để mách cho Khoa ghi lại. Bác Trường Chinh là người viết nhiều thơ, trước tác thơ của bác chọn lưu lại là Dưới đèn đọc Ức Trai. Thơ văn Lý Trần, Lê, Mạc, đặc biệt là các tác gia Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Đào Duy Từ, Nguyễn Du đều cần những chuyên luận kỹ.

Năm trước khi “Chân dung và đối thoại” vừa mới ra lò. Mình nhớ cái chi tiết của Khoa khi nói về Đêm Côn Sơn trong đó có bốn câu:
“Ngoài thềm rơi cái lá đa.
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.
Mờ mờ ông bụt ngồi nghiêm.
Nghĩ gì ông vẫn ngồi yên lưng đền”.

Khoa viết rằng Xuân Diệu khen Khoa nghe tinh, có giác quan tinh tế và Xuân Diệu đã thay một chữ “nghĩ” cho chữ “sợ”mà ông Bụt hóa thành cơ thể sống, đã thành sự sống. Sự thẩm thơ tinh tưởng của Xuân Diệu là vậy. Ông chỉ thay đổi một chữ mà bài thơ biến đổi cả thần thái. Chữ “nghĩ “ này hay tương tự chữ “đi” trong câu thơ “Trái đất ba phần tư nước mắt/ Đi như giọt lệ giữa không trung” làm đổi thần thái câu thơ “Trôi như giọt lệ giữa không trung” mà Khoa đã bình luận.

Mình muốn bình thêm cái ý “thần đồng” nghĩa là “tuổi nhi đồng mà làm được những điều như có thần mách bảo”. Khoa né tránh bình luận chuyện này và viết “bây giờ thì y đã già và dứt khoát không phải là kẻ đắc đạo , vậy mà y vẫn phải còng lưng , ý ạch vác cái cây thánh giá ở lứa tuổi trẻ con.” Thực ra, phải nhìn nhận rằng Khoa có những câu thơ rất quý và rất lạ , lúc trẻ con mà đã viết được những câu “thần đồng” như trên mà người lớn không thể viết nổi.

Tôi đã có cảm giác thật kỳ lạ khi một mình lúc ba giờ khuya ngồi ở dưới chân Bụt Trần Nhân Tông nơi vòm đá hang cọp phía sau chùa Bảo Sái gần đỉnh chùa Đồng. Nơi đó và giờ đó là lúc Trần Nhân Tông mất. Người từ chùa Hoa Yên lúc nữa đêm đã nhờ Bảo Sái- một danh tướng cận vệ và đại đệ tử thân tín – cõng Người lên đây.

Bảy trăm năm sau, giữa đêm thiêng Yên Tử, ngồi một mình trong đêm lạnh, đúng nơi và kh oảng ba giờ khuya lúc đức Nh ân Tông mất Lắng nghe tiếng lá cây gạo trên 700 tuổi rơi rất mỏng lúc canh khuya. Bóng của Phật Nhân Tông mờ mờ ngồi nghiêm ngồi yên bình thản lưng đền. Lúc đó vụt hiện trong đầu tôi bài kệ “Cư trần lạc đạo” của đức Nhân Tông, bài thơ Yên Tử “đề Yên Tử sơn, Hoa Yên Tự” của Nguyễn Trãi và văng vẳng trong thinh không thăm thẳm vô cùng bài thơ chiêu tuyết Nguyễn Trãi “đêm Côn Sơn” của Khoa. Tôi phục Khoa quá!

Khoa ơi, hãy tin tôi đi. Những câu thơ thần đồng sức người không viết được. Khoa đã may mắn chạm được mạch tâm linh dân tộc, như tiếng đàn bầu ngân lên từ ruột trúc, mới viết được những câu thơ hay và lạ đến thế. Khoa ngẫm xem những câu thơ sau đây của Nguyễn Trãi tả Bình minh trên Yên Tử thật đúng là thần bút: “Non thiêng Yên Tử, đỉnh kỳ phong. Trời mới ban mai đã rạng hồng. Vũ trụ mắt soi ngoài biển cả. Nói cười lồng lộng giữa không trung.”
https://hoangkimvietnam.wordpress.com/2010/07/14/truclamyentu/

Nguyễn Trãi viết thơ trên đỉnh Yên Tử lúc ban mai. Vậy Người leo núi từ khi nào? Đi từ hôm trước hay đi từ lúc nửa đêm như đức Nhân Tông? E chỉ có Yên Tử trả lời.

* Phản hồi từ: TRẦN ĐĂNG KHOA [Bạn đọc] http://Blogtiengviet.net/Lão Khoa 30.09.11@07:28 @Hoàng Kim Cám ơn bác đã yêu quý cậu Khoa. Nhưng chuyện đã qua lâu rồi, chúng ta hãy để cậu “yên giấc ngàn thư”, vì cu cậu cũng đã xong phận sự. Tôi chỉ tò mò, sao bác lên Yên Tử giữa đêm? Bác lại có nhiều vốn liếng về Yên Tử và Trần Nhân Tông, giá bác làm thơ hay viết bút ký, tùy bút về Đêm Yên Tử thì hay biết mấy. Đặc biệt là không khí Yên Tử. Đã có nhiều bài thơ, ca khúc rất hay viết về vùng đất này. Thêm một tấm lòng và góc nhìn nữa của HK cũng sẽ làm cho YT phong phú thêm đấy.

Cảm ơn Trần Đăng Khoa đã khuyến khích mình viết vè Yên Tử. Hôm trước Búi Anh Tấn, tác giả của cuốn sách Đàm đạo về Điếu Ngự Giác Hoàng (Trần Nhân Tông) 405 trang, được nhiều người yêu thích, cũng đã khuyến khích mình như ý của Khoa . Mình sẽ cố gắng và rất mong được sư góp ý thẩm định của các bạn.

(còn tiếp. Ký tới : TRÒ CHUYÊN VỚI LÃO KHOA VÊ YÊN TỬ )
* ảnh trên: Hoa Lộc vừng hồ Hoàn Kiếm, ảnh Hoài Vân

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Tô Hoài trong trái tim bạn đọc

DẠY VÀ HỌC. Tôi tâm đắc với cảm nhận của Trần Đăng Khoa trong Bố và các con: “Cái đích đến của nhà văn là bạn đọc. Nếu giời lôi thân xác về giời thì hồn vía tinh hoa cũng cần phải nằm lại trong trái tim và tình cảm của bạn đọc …Tô Hoài là một ông khổng lồ về Lao động nghệ thuật.  Ông già này có lẽ là người minh mẫn đến cả khi về cõi. Tôi đi nước ngoài, một phóng viên hãng CNN hỏi tôi: “Ông Tô Hoài viết cái gì cũng có vấn đề cả. Thế ông ấy không biết sợ à?”. Tôi bảo: “Trên thế gian này, có một căn bệnh thế kỷ mà cả loài người khiếp sợ. Đó là bệnh Sida. Nhưng Tô Hoài cũng không sợ SIDA. (SIDA phát bệnh cũng phải 20 năm) Đến cả Sida, cụ Dế Mèn còn không sợ thì ông cụ còn biết sợ cái gì? “. Tác phẩm “Dế mèn phiêu lưu ký” của Tô Hoài là  bức tranh thiên nhiên cũng là bức tranh sinh động về cuộc đời. Trong thế giới thực hư huyền thoại này có võ sĩ Dế Mèn với  chị Cốc, chị Cò, Ểng ương, Mèo lười, Võ sĩ bọ ngựa, Ngỗng, Dê, Bò, Bướm , Bìm bịp … và ẩn hiện cả Ba người khác…Sức lao động sáng tạo của Tô Hoài chắp cánh cho trí tưởng tượng của  tuổi thơ và lối nói ẩn dụ của người lớn. Ông là biểu tượng điển hình của sự  gắn kết thành công Nhà văn, Nhân vật và Bạn đọc. Tô Hoài trong trái tim bạn đọc.


BỐ VÀ CÁC CON

Trần Đăng Khoa

NHÂN VẬT:
Em bé (dẫn chuyện)
Nhà văn TÔ HOÀI
Dế Mèn
Mèo Mũi đỏ

Sân khấu vẫn buông màn. Trước sân khấu là các khán giả nhỏ tuổi.

EM BÉ : (Đứng giữa các khán giả) Các bạn thân mến! Hôm nay, chúng mình sẽ làm quen với một nhà văn rất nổi tiếng. Ông là tác giả lớn. Tên tuổi ông đã quen thuộc với độc giả cả nước cách đây hơn nửa thế kỷ. Ông có tới 186 cuốn sách, nghĩa là số sách còn nhiều hơn gấp hai lần tuổi đời thực của ông. Ngay từ những tác phẩm đầu tiên ấy, nghĩa là cách chúng ta đã hơn nửa thế kỷ, ông đã có những cuốn sách viết cho thiếu nhi chúng mình . Các bạn thử đoán xem ai nào?

MÀN MỞ Phòng làm việc của nhà văn Tô Hoài. Bàn viết. Trên mặt bàn, ngổn ngang những sách. Tô Hoài do một em bé bảy, tám tuổi đóng. Em bé loắt choắt, nh¬ưng lại đội mũ nồi, đeo mục kỉnh, là cái gọng kính to cộ nên trông rất ngộ nghĩnh. “Nhà văn”một tay chống can, một tay nâng chòm râu cho khỏi quét đất

EM BÉ : ( Đi từ dưới sân khấu lên. Với khán giả) Đây chính là nhà văn mà chúng ta sẽ gặp (Với nhà văn ) Dạ thưa bác, bác là…
“NHÀ VĂN” TÔ HOÀI: ( Ho lụ khụ ) Tôi là ….Tô Hoài,. Năm nay tôi vừa tròn tuổi…. chín mươi hai. Tên thật là… là…( Với cuốn sách trên bàn, lần xem mục tiểu sử nhà văn ) là… là… Nguyễn… Nguyễn… Sen. Tôi sinh năm 1920 ở Hà Nội. ..
EM BÉ: ( Ngạc nhiên ) Ô, sao bác lại không nhớ tên thật của mình ?
“NHÀ VĂN” TÔ HOÀI: Tôi chỉ biết Tô Hoài. Còn tên thật của nhà văn thì lại phải nhờ cuốn sách này nó mách hộ, vì tôi chưa kịp nhớ. ( Em bé cười rũ rượi ) Có cái gì mà cười ?
EM BÉ : Cháu đã được gặp nhà văn Tô Hoài ở cung Văn hoá Thiếu nhi. Bác Tô Hoài làm gì có râu dài đến thế kia !

“NHÀ VĂN” TÔ HOÀI : Đúng ! Này, nói nhỏ thôi nhé ( Em bé lại gần ). Ngoài đời, nhà văn Tô Hoài còn hơn tuổi ông nội tôi cơ đấy. Bác ấy không để râu. Bây giờ “làm” bác Tô Hoài, tôi phải đeo bộ râu rõ dài này, để làm gì bạn biết không?
EM BÉ : Để bác thành ông già…
“NHÀ VĂN” TÔ HOÀI : Không phải. Tôi đeo râu, để phòng chị Cốc, chị Cò nào có bay qua đây, chị ấy lại tưởng tôi là thằng Dế Trũi, chị ấy phang cho một mỏ thì chỉ có gẫy xương sống, ở đây lại chẳng có cái hang cái hốc nào để chui…
TIẾNG GÕ CỬA : Cộc ! Cộc ! Cộc !
EM BÉ : Bác có khách đấy !
“NHÀ VĂN” TÔ HOÀI : Bạn ra mời khách vào .
(Em bé ra khuất . Lại có tiếng gõ cửa )
“NHÀ VĂN” TÔ HOÀI: Vào đi ! Xin mời vào ! Ô, xin chào anh bạn trẻ !
( Xuất hiện chàng Dế Mèn. Đai nịt lỉnh kỉnh nh¬ư một võ sĩ. Một bên vai đeo kiếm, cung nỏ, một bên đeo cái túi thổ cẩm, tay kéo cái mo cau, như con trẻ kéo cái xe đồ chơi, trên ” xe ” mo cau là chú Mèo Lười ngồi chồm hỗm )

CẾ MÈN ( Cúi đầu kính cẩn ) Con xin chào bố ạ ! ( ” Nhà văn” lùi lại, vẻ kinh ngạc ) Sao ? Bố không nhận ra con à ?
“NHÀ VĂN” TÔ HOÀI : ( Gườm gườm nhìn khách qua mục kỉnh ) Anh là… anh là…( Vỗ vỗ vào trán ) Ồ, mà cái anh này cứ hay đùa dai. Ta làm gì có thằng con nào xù xì cổ quái như anh. Này, ta hỏi thật. Anh là Thuỷ Thủ Mặt Trăng ? Là Tép Pi hay là Ma cà rồng ?
DẾ MÈN : Chết thật ! Bố không nhận ra con nữa sao ? Bố đẻ hàng trăm hàng nghìn con. Võ sĩ bọ ngựa, Chim chích lạc rừng, Chim gáy, Chim cu, Bồ nông, Cò, Vạc, Ngan, Ngỗng, Dê, Bò, Bướm rồng, Bướm ma, Bìm bịp, Cành cạch, Khỉ, Vượn, rồi Chuồn chuồn, Xiến tóc, rồi anh Bò Ka- pin, lại cả chị Bồ nông ở mãi cái xứ Xa- ma -can xa lắc xa lơ nào đó nữa. Con bố đàn đàn lũ lũ rải khắp bưng biền, rừng núi, rồi cả ở bên Tây, bên Tầu. Thế thì bố làm sao nhớ được con cơ chứ. Trông thấy con lại tưởng thằng Ma cà rồng. Ối giời đất ơi !
“NHÀ VĂN” TÔ HOÀI : Thế anh là cái thằng nào trong lũ nhân vật của ta ?
DẾ MÈN: Con là Dế Mèn ! Dế Mèn chứ không phải Ma Cà rồng…
“NHÀ VĂN” TÔ HOÀI : À , Dế Mèn ! Thế ra anh là cái thằng Dế Mèn à? (Có vẻ ngờ ngợ, không tin) Múa võ cho ta coi !
Dế Mèn rút kiếm ra múa
“NHÀ VĂN” TÔ HOÀI : ( Ngăn lại ) Được rồi. Đường kiếm ngang tàng lắm. Đúng anh là Dế Mèn rồi ! ( Chỉ chú Mèo Lười ngồi trên mo cau ) Thế, thế còn cái gì kia, cái gì xù xù một đống kia ?
DẾ MÈN: Dạ, đây là thằng Mèo Lười bố ạ ! Con thấy nó ngủ khoèo dưới gốc cây bên đường. Biết con về thăm bố, thế là nó cứ gạ con cho nó quá giang .
MÈO LƯỜI: ( Với “nhà văn” Tô Hoài ) Con chào bố !
DẾ MÈN: ( Với Mèo Lười ) Bố con gì. Ai người ta bố con với anh . Đưa đây ?
MÈO LƯỜI: Cái gì ?
DẾ MÈN: Tiền !
MÈO LƯỜI: Sao lại tiền? Tiền gì mới được chứ ?
DẾ MÈN: Ơ hay, cái chú này buồn cười nhỉ. Tiền xe chứ còn tiền gì ! Giống như đi xe ôm ấy. Anh kéo chú mày suốt từ đấy vào đến đây. Giờ chú định xù à? Định chạy làng à ?.
MÈO LƯỜI: Ai chạy làng ? Cái cậu này nói hay thật! Chính ta đây là anh cậu chứ không phải cậu là anh ta. Đừng thấy ta nhỏ người mà tưởng ta là em cậu nhé. Ta vốn ngại vận động, cứ ngủ suốt ngày. Ta ngủ nên cơ thể tứ chi cũng ngủ, chúng ngủ đến quên cả lớn. Nhưng ta mới là con chính hiệu của bố Tô Hoài, là anh ruột của chú cơ đấy. Có thằng em nào chở ông anh ruột về thăm bố lại bắt trả tiền như trả tiền một lão xe ôm không hở giời ?
DẾ MÈN: Ô hay ! Sao lại có chuyện lạ đời thế này? Võ sĩ Dế Mèn lại là em ruột của cái lão Mèo Luời thối thây. Làm gì có chuyện cổ tích ấy !
“ NHÀ VĂN” TÔ HOÀI : Đúng đấy. Không phải chuyện cổ tích đâu. Nó là thằng Mèo Lười. Trong giấy khai sinh, nó còn có tên là Mèo Mũi Đỏ.
MÈO LƯỜI : Đúng ! ( Hát bài hát của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý phổ kịch Con mèo lười của Tô Hoài )
Mèo mũi đỏ
Chính là tôi
Nhưng ai cũng bảo tôi là Mèo lười
Không!
Tôi không lười!
Tôi không lười,
Tôi chỉ muốn ăn
Không muốn làm
Tôi chỉ muốn ăn
Muốn lên nương cao thăm nhà ông Ké
Ông Ké cho ăn
Nhưng đường lên nương sao xa thế
Đi lại ngại đau chân
( Với nhà văn Tô Hoài )Vâng, cái chân con bị tê thấp nên đau lắm bố ạ. Quanh năm, con cứ phải diện tất xù. Mùa đông, không đi cũng đau. Nên con chỉ loanh quanh, từ nhà lên nương, rồi lại từ nương đến nhà ông Ké, trong khi đó, Dế Mèn đi chu du khắp thế giới. Được làm Dế như nó cũng sướng. Bây giờ, con chán lắm. Con không làm Mèo Lười nữa đâu. Làm Mèo Lười chán lắm. Con muốn bố cho con làm Dế Mèn…
DẾ MÈN: Ơ, cái anh này buồn cười thật. lười thối thây lại còn muốn làm dũng sĩ Dế Mèn. Này, làm Dế Mèn không phải dễ đâu nhé. Mệt lắm đấy. Tôi đang bải hoải cả chân tay đây. ( Với “nhà văn” Tô Hoài” ) Bây giờ bon trẻ con lạ lắm bố ạ. Chúng chỉ thích Đoremon. Nhiều lúc chúng quên cả Dế Mèn. Bố cho con tí phép thần thông như Tôn Ngộ Không đi bố. Con sẽ đánh nhau với Đoremon. Con sẽ bắt cái thằng mèo máy ấy về hang làm Dế Trũi, để nó suốt ngày gãi lưng và ngoáy tai cho con. Hay nếu không làm Tôn Ngộ Không được thì bố cho con làm Đoremon…
“NHÀ VĂN” TÔ HOÀI : Đoremon có chỗ của Đoremon. Dế Mèn có ao hồ đầm phá của Dế Mèn.
DẾ MÈN: Nhưng bố cứ cho con “đổi chỗ” một tý cho nó mới mẻ !
“NHÀ VĂN” TÔ HOÀI: Không được đâu. Nguy hiểm lắm!
DẾ MÈN : Không sao ! Con không sợ nguy hiểm !
“NHÀ VĂN” TÔ HOÀI: Anh có biết cái cậu Ễnh Ương không?
DẾ MÈN: Con còn lạ gì bọn Ễnh Ương Ếch Nhái ở ao đầm. Toàn là một lũ lười thối thây. Suốt ngày chẳng thấy chúng làm gì, chỉ đi hát Karaoke. Mà hát cũng sai nhạc (Bắt chước nhái giọng Ễnh ương) Oác oạc oạc. Oác oạc oạc (cười phá lên) Trên thế giới này làm gì có cái thứ nhạc nào là nhạc Oác oạc oạc. Giai điệu thế, nhạc sĩ tiểu thư công nương xóm lá Hoài Tố Khổ gọi bằng cụ. Oác oác oác. Oạc oạc oạc! Đúng là giai điệu của dàn đồng ca Ễnh Ương!
“NHÀ VĂN” TÔ HOÀI : Không ! Không phải cái lũ Ẽnh Ương ở ao đầm. Ta hỏi Ễnh ương của ông La -Phông -ten cơ…
DẾ MÈN: Cái lũ Ễnh Tây ấy thì con chịu.
“NHÀ VĂN” TÔ HOÀI : Có cậu Ễnh ương một hôm trông thấy chú Bò to lớn vật vã đang thảnh thơi gặm cỏ ở bờ đầm. Cu cậu sướng quá. Cu cậu lại không muốn làm Ễnh ương nữa. Muốn làm chú Bò cho oai kia. Thế là cu cậu lấy hết sức lực hít cho đầy hơi vào bụng. Bụng cậu phình như một quả bóng, nhưng vẫn chưa bằng được Lão Bò, thế là cậu lại hít hết sức lực. Thế rồi bùm một cái. Bụng vỡ tung như một quả bóng bay…
MÈO LƯỜI: Thế thì chết hở bố ?
“NHÀ VĂN” TÔ HOÀI: Chết sặc gạch chứ còn gì nữa. Ễnh Ương mà lại đòi làm Bò…
MÈO LƯỜI: Nổ như một quả bóng bay…Thế thì con hãi lắm. Thôi, con chỉ làm Mèo mũi đỏ thôi!
DẾ MÈN: Con cũng sẽ chỉ làm Dế Mèn thôi. ( Ngừng ngắn ) Ừ, mà ngẫm ra, làm Dế Mèn cũng sướng bố ạ! Con cưỡi bố đi chu du khắp thế giới. Đến đâu, con cũng được đón rước nồng nhiệt. Người ta vỗ tay rầm rầm. Trẻ con vỗ tay. Người lớn cũng vỗ tay. Nhưng mà… Hình như người ta hoan hô bố, chứ có phải hoan hô con đâu…Con lại thấy chán rồi đấy !
“NHÀ VĂN” TÔ HOÀI : Không phải đâu. Người ta đón rước anh đấy. Có khi người ta chỉ nhớ đến anh mà lại quên cả tôi. Gặp tôi, có cháu bé rất lễ phép: Cháu chào ông Dế Mèn ạ !. Ơ hơ. Tôi mà lại là Dế Mèn à ? Tôi là bố Dế Mèn chứ !
DẾ MÈN : Con cám ơn bố ! Cám ơn bố lắm. Con cầu chúc bố sống đến …một trăm tám mươi tuổi. Nhân dịp này, con có chút quà dâng bố đây !
MÈO LƯỜI : Đút lót nhé! A ha! Bắt được quả tang Dế Mèn hối lộ nhé !
DẾ MÈN : Hối lộ gì ? Tặng quà cho bố mình thì không phải là đút lót hay hối lộ. Đây là quà mừng bố Tô Hoài !
Dế Mèn loay hoay mở túi thổ cẩm. Mèo Lười nhòm hồi hộp, bảo Tô Hoài :” Bố cho con ăn bố nhé. Ông Ké hay cho con ăn lắm “. Túi thổ cẩm mở ra. Hoá ra là cỏ. Toàn một loại cỏ non.
MÈO LƯỜI : Cỏ! Ối giời ơi! Bố Tô Hoài có phải là Dế cụ đâu mà ăn cỏ hả giời! Này, cái thứ cỏ nác ấy đến Mèo Lười như ta đây cũng không thèm nhé.
“NHÀ VĂN “ TÔ HOÀI : Ta muốn có một cốc rượu !
MÈO LƯỜI : Thế thì bố lên nhà ông Ké với con. Nhà ông Ké lúc nào cũng có rượu. Ông Ké bảo, lâu lắm rồi, không thấy bác Tô Hoài lên chơi. Chẳng biết sức khoẻ ông lão dạo này thế nào? Thế thì hôm nay, bố lên nương với con, bố nhé. Con sẽ cõng bố lên nhà ông Ké. Con sẽ là mèo máy Đoremon, chứ không phải Mèo Lười !
DẾ MÈN : Việc gì phải cõng. Ta có sẵn xe đây. Xin mời bố lên xe. Con với anh Mèo Lưòi dinh bố lên nhà ông Ké
( “Nhà văn” Tô Hoài ngồi lên xe mo cau. Mèo Lười và Dế Mèn kéo xe mo cau vòng qua sân khấu. Cả đoàn vừa đi vừa hát Bài ca lên nương trong vở kịch của Tô Hoài và Nguyễn Văn Tý)
Nào chúng ta cùng lên nương
Cùng lên nhà ông Ké
Xin chào nhé
Những đồi nương
Bông hoa rừng rập rình trong sương
Và dòng suối uốn quanh bản mường
Nào cùng ta
Đi lên nương
Tới thăm nhà ông Ké

MÀN HẠ

Đọc thêm
Tô Hoài – Wikipedia tiếng Việt
Dế Mèn phiêu lưu kýTô Hoài – Sách hay – MaxReading.com
‘Ba người khác’ đạt đến sự đơn giản từ lâu
Trao giải “Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội”: Nhà văn Tô Hoài nhận Giải Thưởng lớn
Tô Hoài – nhìn từ một khoảng cách gần (Vương Trí Nhàn)
Tô Hoài – 90 tuổi vẫn rung rinh nụ cười tinh nghịch  (Lưu Hà)
Nhà văn Tô Hoài: Món gì cũng chán, chỉ ngon món rượu
(Bee net theo Thể thao và Văn hóa Xuân Tân Mão 2011)
Chùa Giải Oan của ông Tô Hoài (L. Điền, H. Điền)

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC
; FOOD CROPS

Dạy và học ĐHNLHCM

Gia đình nông nghiệp

NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Biển, núi, em và tôi

 

NGỌC PHƯƠNG NAM. Gia đình nông học vui hè Long Hải ngày 28-29/7/2011 tại núi và biển Châu Long, Châu Viên, ấp Phước Trinh, xã Tam Phước, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Đây là một quần thể du lịch tuyệt đẹp nơi núi Châu Long trườn ra biển với khu căn cứ Minh Đạm nổi tiếng trong lịch sử chống ngoại xâm. Một kỳ nghĩ tuyệt với ấm áp tình thầy bạn và gia đình nông học thân thương. Nôi dung chương trình đầy ắp niềm vui : leo núi, tắm biển, sinh hoạt trò chơi tìm “Người kỳ lạ”, nặn tượng, đua ghe, đá bóng tình yêu, tam sao thất bản, nàng tiên cá, bịt mắt đạp am, chương trình ca nhạc “Biển đảo yêu thương” phát động Quỹ “Nâng cánh ước mơ” cho học sinh nghèo hiếu học, lửa trại , nướng bắp khoai lang, đối ẩm. Riêng tôi thì vừa vui bạn vừa thích thú đi dạo chụp hình “Biển, núi, em và tôi” , tận hưỡng niềm vui của thiên nhiên trong lành, gia đình và bạn hữu, thấm thía “Những bài thơ hay về biển“, nhớ Trần Đăng Khoa “Biển một bên và em một bên” cùng lời bình thật tuyệt mới đây của Lương Bích Ngọc

SÓNG YÊU THƯƠNG VỖ MÃI ĐẾN VÔ CÙNG 

Hoàng Kim

Anh yêu biển tự khi nào chẳng rõ
Bởi lớn lên đã có biển quanh rồi
Gió biển thổi nồng nàn hương biển gọi
Để xa rồi thương nhớ chẳng hề nguôi

Nơi quê mẹ mặt trời lên từ biển
Mỗi sớm mai gió biển nhẹ lay màn
Ráng biển đỏ hồng lên như chuỗi ngọc
Nghiêng bóng dừa soi biếc những dòng sông

Qua đất lạ ngóng xa vời Tổ Quốc
Lại dịu hiền gặp biển ở kề bên
Khi mỗi tối điện bừng bờ biển sáng
Bỗng nhớ nhà những lúc mặt trăng lên

Theo ngọn sóng trông mù xa tít tắp
Nơi mặt trời sà xuống biển mênh mông
Ở nơi đó là bến bờ Tổ Quốc
Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng …

NÓI VỚI EM

Hoàng Kim

Vụng về, bối rối trước mặt em
Muốn nói đôi điều bỗng hóa quên
Chớ thấy biển im chê biển cạn
E rằng đáy biển khó tìm kim

Xem thêm
Hướng dẫn du lịch Long Hải
Núi Minh Đạm (Bà Rịa Vũng Tàu): Điểm du lịch sinh thái
Bãi tắm Long Hải
Biển Long Hải
Cảnh biển Long Hải nhìn từ Thùy Dương resort.
Hàng rong hải sản ở Long Hải

Những bài viết về biển
Tình hình biển Đông có gì mới ?
Tư liệu Biển Đông và đường lưỡi bò
Tổ Quốc nhìn từ những kiệt tác
Những bài thơ hay về biển
Tri âm với Trần Đăng Khoa

Thơ văn Trần Đăng Khoa: cảm và nhận

Lê Lựu nói về Đảo Chìm của Trần Đăng Khoa: “Tất cả những truyện viết trong Đảo chìm, Khoa đã kể cho tôi nghe không dưới 10 lần (!), nhưng đến khi đọc văn vẫn thấy có cái gì như mình mới khám phá, như mới bắt gặp, như mới đột nhiên ngỡ ngàng và cứ như thần. Mà chuyện thì rõ ràng là đã nghe kể đến thuộc làu rồi”. Tôi cũng đã đọc Chuyện ở Quảng Bình không dưới 10 lần, đã tự mình chép lại những bài của Khoa mà tôi tâm đắc nhất vào thư mục cá nhân. Thế nhưng, khi tôi đọc lại bài  này cũng vẫn thấy “có cái gì như mình mới khám phá, như mới bắt gặp, như mới đột nhiên ngỡ ngàng và cứ như thần”. Lạ, thật lạ! Đúng là văn chương đích thực: thật, giản dị và ám ảnh !

Tôi có duyên với Trần Đăng Khoa ở ba việc:

Thứ nhất, thuở 17 tuổi, tôi được nghe duy nhất một lần bài thơ dài của Khoa “Em kể  chuyện này” do bác Xuân Diệu đọc. Thế nhưng, không hiểu sao, sau đó tôi đã nhập tâm thuộc luôn bài ấy cho đến ngày nay. Điều này cũng hệt như việc tôi thuộc ngay bài thơ “Qua đèo chợt gặp mai đầu suối” của Bác Hố, tuy chỉ được nghe duy nhất một lần từ lời kể của bác Xuân Thủy trên đỉnh đèo Ngang nhưng nhớ mãi. Bài thơ kỳ lạ vì ẩn chứa nhiều triết lý sâu sắc không dễ thấy, vì nó là thơ của Bác Hồ mà ít thấy sách báo nào nhắc đến hơn bốn mươi năm qua. Khi anh Gia Dũng làm sách Nghìn năm thương nhớ, anh đã sưu tầm bài “Tầm hữu vị ngộ” (Tìm bạn không gặp) và nhà Hán học nổi tiếng Phan Văn Các diễn nghĩa, dịch thơ.
Tôi nghiệm ra: khi mình rất thích điều gì mới tự nhớ được. Thơ Trần Đăng Khoa có  nhiều bài được bạn đọc nhớ.

Thứ hai, tôi cảm nhận sâu sắc hai câu thơ tuyệt diệu của Khoa trong “Đêm Côn Sơn”:Ngoài thềm rơi cáí lá đa.Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” khi một mình ngồi ở hang cọp sau chùa Bảo Sái lúc hai giờ rưỡi khuya, trong đêm rất tối và vắng, lắng nghe tiếng rơi rất khẽ của lá cây gạo 700 tuổi trên non thiêng Yên Tử.  Qua việc nửa đêm thành tâm đi bộ từ chùa Hoa Yên lên chùa Đồng, tôi mới thấm hiểu lời của đức Nhân Tông “giờ Tý . Ta phải đi rồi” và câu thơ thần Nguyễn Trãi “Non thiêng Yên tử  chòm cao nhất/ Trời mới canh năm đã  sáng trưng” mới hiểu “Đêm Côn Sơn””Tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc”

Và thứ ba là bài ký  “Chuyện ở Quảng Bình” vì tôi có sự đồng cảm của người trong cuộc. Anh Hoàng Hữu Ái cùng quê Quảng Bình, cùng học Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc (Anh Ái trồng trọt ba, tôi trồng trọt bốn) cùng đi bộ đội ngày 2.9 và cùng chung đơn vị . Sau này tổ chúng tôi bốn người, anh Xuân và anh Chương hi sinh, anh Trung và tôi sau khi đất nước thống nhất trở về Trường học tiếp. Tôi đã kể chuyện này trong “Thầy bạn là lộc xuân của  cuộc đời”. Cám ơn Khoa về những trang văn thật nhân hậu và sâu sắc.

Những bài của Khoa mà mình tâm đắc nhất được chép riêng ở đây

Hoàng Kim

NGỌC PHƯƠNG NAM