Giống lúa cho miền Trung, Tây Nguyên



CÂY LƯƠNG THỰC
. Trần Văn Mạnh 2011. Trung tâm Khảo Kiểm nghiệm Giống, Sản phẩm Cây trồng và Phân bón Quốc gia vùng miền Trung và Tây Nguyên “Báo cáo tình hình sử dụng giống lúa và giới thiệu một số giống lúa triển vọng tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên”. Diễn đàn Khuyến nông và Nông nghiệp lần thứ 5 – 2011 chuyên đề sản xuất và cung ứng giống lúa các tỉnh phía Nam. Bộ giống lúa chủ lực trong sản xuất hiện nay ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ:* Lúa thường: các giống 13/2 (IR17494), Xi23 (nhóm dài ngày); ĐB 6, TB-R1, KD đột biến, ĐV108, HT1, Q5, ML48, ML202, IR64, VND95-20. (nhóm trung ngày); Lúa cạn: LC93-1, LC93-4; * Lúa lai: Nhị ưu 838, BT-E1, Nông ưu 28, Syn6, Nghi Hương 2308; Bộ giống lúa chủ lực trong sản xuất hiện nay ở Tây Nguyên:* Lúa thường: các giống 13/2 (IR17494), Xi23 (nhóm dài ngày); ĐB 6, TB-R1, KD đột biến, ĐV108, HT1, Q5, ML48, ML202, IR64, VND95-20. (nhóm trung ngày); Lúa cạn: LC93-1, LC93-4; * Lúa lai: Nhị ưu 838, BT-E1, Nông ưu 28, Syn6, Nghi hương 2308. (Đánh giá giống lúa ở Ninh Thuận, ảnh Hoàng Kim).

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG GIỐNG LÚA VÀ GIỚI THIỆU MỘT SỐ GIỐNG LÚA MỚI CÓ TRIỂN VỌNG TẠI VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN

Trần Văn Mạnh
Trung tâm Khảo Kiểm nghiệm Giống, Sản phẩm Cây trồng và Phân bón Quốc gia vùng miền Trung và Tây Nguyên

1.ĐẶT VẤN ĐỀ

Vùng Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên là 2 vùng sinh thái đặc thù có nhiều tiềm năng đa dạng trong sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành Trồng trọt nói riêng. Trong sản xuất trồng trọt, lúa là cây trồng chủ lực cung cấp lương thực chủ yếu, hàng năm diện tích lúa toàn vùng (từ Đà Nẵng đến Khánh Hoà và 5 tỉnh Tây Nguyên) chiếm khoảng 600.000 ha với sản lượng đạt 3.000.000 tấn/năm. Chính vì vậy, sản xuất cây lúa trong vùng được các cấp lãnh đạo, các nhà khoa học cả nước đặc biệt quan tâm từ việc nghiên cứu đến công tác chỉ đạo đưa các tiến bộ kỹ thuật vào áp dụng để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.

Với chức năng, nhiệm vụ được giao, Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón vùng miền Trung – Tây Nguyên là đơn vị làm công tác Khảo nghiệm VCU và DUS giống cây trồng mới; Chứng nhận chất lượng giống cây trồng cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống tại các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.

Sau đây, chúng tôi xin tóm lược về tình hình sử dụng giống và giới thiệu một số giống cây trồng mới triển vọng tại vùng Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên trong thời gian qua như sau:

2. HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG GIỐNG LÚA TRONG CƠ CẤU SẢN XUẤT TẠI VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN

a. Vùng Duyên hải Nam Trung bộ (Đà Nẵng – Khánh Hoà): Hiện nay, phần lớn nông dân sản xuất lúa trong vùng (các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định) đã có thói quen sử dụng hạt giống kỹ thuật (Nguyên chủng, Xác nhận, hạt lai F1) để gieo trồng. Riêng các tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà tỷ lệ nông dân sử dụng hạt giống kỹ thuật còn rất thấp, chủ yếu chỉ mua giống 1 vụ sau đó tự sản xuất và làm giống cho nhiều vụ liên tiếp. Về cơ cấu giống lúa trong sản xuất phần lớn là các giống lúa thường chiếm trên 90% diện tích; lúa lai thương phẩm chỉ chiếm 8- 9% diện tích.

Vụ Đông Xuân với diện tích trồng lúa hàng năm khoảng 170.000 ha, nếu nông dân sử dụng 100% hạt giống lúa kỹ thuật để gieo cấy thì lượng giống cần cung ứng khoảng từ 12.000- 17.000 tấn giống/vụ. Vụ Hè Thu và vụ Mùa, diện tích lúa gieo cấy trong vùng khoảng 180.000- 200.000 ha, với lượng giống kỹ thuật cần cung ứng ước khoảng 9.000- 12.000 tấn/vụ (Nếu nông dân sử dụng 100% hạt giống kỹ thuật để gieo trồng thì lượng hạt giống cần đáp ứng từ 15.000- 20.000 tấn/vụ).

Như vậy, để đáp ứng nhu cầu cho sản xuất lúa ở 2 vụ Đông Xuân và Hè thu thì lượng hạt giống kỹ thuật có chất lượng tốt cần thiết cho sản xuất trong vùng từ 20.000- 30.000 tấn hạt giống lúa.

Bộ giống lúa chủ lực trong sản xuất hiện nay:
– Lúa thường: các giống Xi23, NX30, BM9855, 13/2 (IR17494), BC15 (nhóm dài ngày); ĐB 6, TB-R1, KD đột biến, ĐV108, HT1, Q5, ML48, ML68, ML202, TH41, ML203, ML214 (nhóm trung ngày).
– Lúa lai: Nhị ưu 838, BT-E1, Nghi hương 2308.

b. Vùng Tây Nguyên (Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng): Cơ cấu giống lúa trong sản xuất phần lớn là các giống lúa thường chiếm trên 90% diện tích; lúa lai thương phẩm chỉ chiếm 8- 10% diện tích tuỳ từng tiểu vùng. Diện tích lúa trong vùng sử dụng hạt giống kỹ thuật để sản xuất nhìn chung còn chiếm tỷ lệ thấp. Vì vậy, cần có các chính sách giúp nông dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật đồng bộ vào sản xuất thâm canh lúa mà trong đó việc sử dụng giống kỹ thuật cũng là một trong những biện pháp hữu hiệu để nâng cao năng suất, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Vụ Đông Xuân, Hè Thu và vụ Mùa với tổng diện tích gieo cấy hàng năm khoảng 200.000 ha, vậy nhu cầu giống kỹ thuật cho gieo cấy 100% diện tích trên ước khoảng 16.000- 20.000 tấn hạt giống.

Bộ giống lúa chủ lực trong sản xuất hiện nay:
– Lúa thường: các giống 13/2 (IR17494), Xi23 (nhóm dài ngày); ĐB 6, TB-R1, KD đột biến, ĐV108, HT1, Q5, ML48, ML202, IR64, VND95-20. (nhóm trung ngày); Lúa cạn: LC93-1, LC93-4.
– Lúa lai: Nhị ưu 838, BT-E1, Nông ưu 28, Syn6, Nghi Hương 2308.

3. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, CUNG ỨNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG GIỐNG TẠI VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN

Thống kê sơ bộ trên địa bàn vùng Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên trong năm 2010 có trên 40 đơn vị tham gia sản xuất hạt giống cây trồng, với diện tích sản xuất khoảng 2.500 ha, sản lượng hạt lúa giống thu được ước đạt khoảng 13.000 tấn, đã đáp ứng một phần cho nhu cầu sản xuất trong vùng và chuyển ra các tỉnh phía Bắc.

Trong 6 tháng đầu năm 2011, có 15 đơn vị sản xuất kinh doanh hạt giống đăng ký kiểm định ruộng giống, kiểm nghiệm chứng nhận chất lượng giống cây trồng với Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón vùng miền Trung- Tây Nguyên. Tổng diện tích ruộng giống đã qua kiểm định là 1.115 ha bao gồm các cấp giống: siêu nguyên chủng, nguyên chủng, xác nhận và hạt lai F1. Lượng hạt giống qua kiểm nghiệm chứng nhận chất lượng đạt tiêu chuẩn ước tính: cấp nguyên chủng, xác nhận 5.000 tấn; Hạt giống lai F1 là 470 tấn.

4. GIỚI THIỆU MỘT SỐ GIỐNG LÚA MỚI CÓ TRIỂN VỌNG

1. Lúa lai:

1.1. Giống lúa lai 3 dòng Phú ưu số 4: Do Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật Trung Chính chọn tạo chọn tạo từ tổ hợp lai: Nhị 32A/Gia hội 978. Giống Phú ưu số 4 là giống cảm ôn, có TGST trong vụ ĐX 115 – 120 ngày, vụ HT 110 – 115 ngày; Chiều cao cây 98 – 100 cm; số hạt/bông 145 – 155 hạt, tỷ lệ lép 12 – 15%; khối lượng 1.000 hạt 27 – 28g; Năng suất từ 65 – 70 tạ/ha; dạng hạt bầu, chất lượng gạo khá, nhiễm nhẹ các loại sâu bệnh hại chính; khả năng chịu rét khá, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo trồng vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên chân đất vàn, vàn thấp chịu thâm canh. Lượng giống gieo sạ 40 – 50 kg/ha.

1.2. Giống lúa lai 3 dòng Bio404: Do Công ty TNHH một thành viên Bioseed nhập nội và khảo nghiệm. Giống Bio404 có TGST trong vụ ĐX 120 – 125 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày; Chiều cao cây 98 – 100 cm; Số hạt chắc/ bông 135 – 140 hạt, tỷ lệ lép 15 – 16%; Năng suất từ 70 – 80 ta/ ha, thâm canh đạt 90 – 95 tạ/ha; Dạng hạt dài, chất lượng gạo khá, cơm mềm và thơm ngon; Ít nhiễm rầy nâu, bệnh khô vằn, bệnh đạo ôn, chịu rét khá, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất tốt, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 40 – 50kg/ha.

1.3. Giống lúa lai 3 dòng XL94017: Do Công ty Bayer Việt Nam nhập nội và khảo nghiệm. Giống XL94017 có TGST vụ ĐX120 – 125 ngày, HT 105 – 110 ngày; chiều cao cây 105 – 110 cm; Số hạt chắc/ bông 125 – 130 hạt, tỷ lệ lép 20 – 22%; Năng suất từ 70 – 80 ta/ ha, thâm canh đạt 85 – 90 tạ/ha; Dạng hạt dài, chất lượng gạo khá, cơm mềm và thơm ngon; Ít nhiễm rầy nâu, bệnh khô vằn, bệnh đạo ôn, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn, vàn cao, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 40 – 50kg/ha.

1.4. Giống lúa lai 3 dòng Quốc hào 5: Công ty Cổ phần tập đoàn Điện Bàn nhập nội từ Trung Quốc đưa vào khảo nghiệm và cung ứng tại Việt Nam. Giống Quốc hào 5 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 100 – 105 ngày; Chiều cao cây 95 – 110 cm; Số hạt chắc/bông 90 – 95 hạt, tỷ lệ lép 20 – 25%; Khối lượng 1.000 hạt 28 – 32g; Năng suất từ 70 – 75 ta/ ha; thâm canh đạt 80 – 85 tạ/ha; Dạng hạt dài, chất lượng gạo khá, cơm mềm và thơm ngon; Ít nhiễm rầy nâu, bệnh khô vằn, bệnh đạo ôn, cứng cây chống đổ tốt.
Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất tốt, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 40 – 50kg/ha.

1.5. Giống lúa lai 3 dòng LS1: Do Công ty Cổ phần giống cây trồng Lạng Sơn nhập nội từ Trung Quốc đưa vào khảo nghiệm. Giống LS1 có TGST vụ ĐX 120- 125 ngày; Chiều cao cây 108 – 112 cm; Số hạt chắc/ bông 140 – 150 hạt, tỷ lệ lép 5 – 7%; Năng suất trung bình từ 80 – 85 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 90- 95 tạ/ha; Dạng hạt bầu, chất lượng gạo trung bình; Ít nhiễm sâu bệnh hại chính, chống đổ tốt.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất tốt, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 40- 50kg/ha.

1.6. Giống lúa lai 3 dòng Nhị ưu 986: Do công ty TNHH giống cây trồng Minh Phong, Phúc Kiến Trung Quốc lai tạo, Công ty cổ phần Nông nghiệp Kỹ thuật cao Hải Phòng nhập nội đưa vào khảo nghiệm. Giống Nhị ưu 986 có TGST vụ ĐX 115 – 120 ngày, HT 105 – 110 ngày; Chiều cao cây 105 – 110cm; Số hạt chắc/ bông 105 – 110 hạt, tỷ lệ lép 15 – 20%; Năng suất từ 70 – 80 ta/ ha; thâm canh đạt 90 – 95 tạ/ha; Dạng hạt bầu, chất lượng gạo trung bình khá; Ít nhiễm rầy nâu, bệnh khô vằn, bệnh đạo ôn, chịu nóng khá, chống đổ tốt.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất tốt, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 40 – 50kg/ha.

1.7. Giống lúa lai 3 dòng Nhị ưu 838 KBL: Do Công ty CP Giống cây trồng miền Nam đưa vào khảo nghiệm. Giống Nhị ưu 838 KBL có TGST vụ ĐX 115 – 120 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày; Chiều cao cây 108 – 110 cm; Số hạt chắc/ bông 105 – 110 hạt, tỷ lệ lép 18 – 20%; Năng suất từ 70 – 75 tạ/ha, thâm canh đạt 80 – 85 tạ/ha; Dạng hạt bầu, chất lượng gạo khá, cơm ngon trung bình; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất tốt, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 40 – 50 kg/ha.

1.8. Giống lúa lai 2 dòng TH3-3: Do PGS.TS. Nguyễn Thị Trâm, ThS. Trần Văn Quang và CTV Viện Công nghệ sinh học Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội chọn tạo. Giống TH3-3 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 90 – 95 ngày; Năng suất 55 – 60 tạ/ha, thâm canh đạt 70 – 75 tạ/ha; Chất lượng gạo khá, cơm mềm; Nhiễm nhẹ rầy nâu, nhiễm nhẹ bệnh khô vằn, ít nhiễm bệnh đạo ôn; Cứng cây chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn, vàn cao, thâm canh trung bình. Lượng giống gieo sạ 40 – 50 kg/ha.

1.9. Giống lúa lai 2 dòng Việt Lai 20: Do PGS.TS. Nguyễn Văn Hoan, Vũ Hồng Quảng và CTV Trường Đại học Nông nghiệp I chọn tạo. Giống Việt lai 20 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, HT 90 – 95 ngày; Năng suất 65 – 75 tạ/ha, thâm canh đạt 80 – 85 tạ/ha; Chất lượng gạo khá, phẩm chất cơm khá; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chịu nóng khá, chịu mặn khá, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì trung bình, đất vàn, đất ven biển. Lượng giống gieo sạ 40 – 50 kg/ha.

1.10. Giống lúa lai 3 dòng Nghi Hương 2308: Là giống lúa lai Trung Quốc nhập nội vào Việt Nam. Giống Nghi hương 2308 có TGST vụ ĐX 118 – 123 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày; Năng suất 70 – 75 tạ/ha, thâm canh đạt 80 – 85 tạ/ha; Chất lượng gạo tốt, cơm thơm ngon; Nhiễm rầy nâu trung bình, ít nhiễm bệnh đạo ôn, khôn vằn; Chống đổ khá, chịu lạnh khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 40 – 50 kg/ha.

1.11. Giống lúa lai PAC807: Do Công ty Cổ phần giống cây trồng miền Nam nhập nội từ Ấn Độ. Giống có TGST vụ ĐX 108 – 113 ngày, vụ HT 103 – 108 ngày; số hạt/bông 145 – 150 hạt, tỷ lệ lép 12 – 15%; Năng suất trung bình 65 – 70 tạ/ha, chất lượng gạo khá, com mềm; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có dộ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 40 – 50 kg/ha.

1.12. Giống lúa lai 3 dòng HYT100: Giống lúa lai 3 dòng HYT100 do trung tâm Nghiên cứu và phát triển lua lai, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam lai toạ năm 1999. Giống HYT100 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính; khối lượng 1.000 hạt 26 – 27gam; dạng hạt dài; Năng suất trung bình 60 – 65 tạ/ha; chất lượng gạo khá, com thơm ngon, có vị đậm.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn cao, vàn và vàn thấp, thâm canh khá. Lượng giống gieo sạ 40 – 50 kg/ha.

1.13. Giống lúa lai 3 dòng PHB71: Giống lúa lai 3 dòng PHB71 do Công ty Pioneer Hi-Bred Internatitional – Hoa Kỳ lai tại, được nhập nội vao Việt Nam từ Ấn Độ. Giống PHB71 thuộc nhóm ngắn trung ngày. Năng suất trung bình từ 60 – 70 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 80 – 85 tạ/ha; Chất lượng gạo khá, cơm mềm, và ngon; Chống chịu tốt bệnh dạo ôn, nhiễm trung bình rầy nâu.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn cao, vàn và vàn thấp, thâm canh khá. Lượng giống gieo sạ 40 – 50 kg/ha.

1.14. Giống lúa lai HR3: Giống HR3 do TS. Nguyễn Như Hải và cộng sự – Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón Quốc gia lai tạo. Giống HR3 có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm chín sớm. Năng suất trung bình đạt từ 60 – 70 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 80 tạ/ha; chất lượng cơm khá; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính; chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn cao, vàn và vàn thấp, thâm canh khá. Lượng giống gieo sạ 40 – 50 kg/ha.

2. Lúa thường

2.1. Giống BC15: Do KS. Đặng Tiểu Bình, Trung tâm Khảo nghiệm và Khuyến nông Thái Bình, được Công ty Cổ phần giống cây trồng Thái Bình mua bản quyền, chọn lọc và đăng ký khảo nghiệm. Giống BC15 có TGST vụ ĐX 120 – 125 ngày, vụ HT 115 – 1120 ngày; nhiễm nhẹ rầy nâu, đạo ôn cổ bông, bệnh khô vằn; hơi yếu cây; khối lượng 1000 hạt đạt 26 – 27 gam; dạng hạt trung bình; Năng suất trung bình 65 – 70 tạ/ha, thâm canh cao đạt 80 tạ/ha; chất lượng gạo khá, cơm ngon.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn cao, vàn và vàn thấp, thâm canh khá. Lượng giống gieo sạ 80 – 100 kg/ha.

2.2. Giống PC10: Do Viện Cây Lương thực và Cây Thực phẩm chọn tạo từ tổ hợp lai Khang dân/MTL195. Giống PC10 có TGST từ 105 – 110 ngày; chiều cao cây 95 – 100cm; số hạt/bông 130 – 135 hạt, tỷ lệ lép 12 – 15%; khối lượng 1.000 hạt 23 – 24g; Năng suất trung bình 55 – 60 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 70 tạ/ha; chất lượng gạo khá, com mềm và thơm; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ tốt.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất khác nhau, là giống chịu thâm canh khá. Lượng giống gieo sạ 80 – 100 kg/ha.

2.3. Giống ML202: Do Trại giống lúa Ma lâm, Trung tâm Giống cây trồng tỉnh Bình Thuận chọn tạo và đưa vào khảo nghiệm. Giống ML202 có TGST vụ ĐX 112 – 117 ngày, vụ HT 95 – 100 ngày; Chiều cao cây 100 – 102 cm; Số hạt chắc/ bông 99 – 105 hạt, tỷ lệ lép 10 – 15%; Năng suất 60 – 65 tạ/ha, thâm canh đạt 70 – 75 tạ/ha; Nhiễm nhẹ rầy nâu, ít nhiễm bệnh đạo ôn và khô vằn; chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn, vàn cao, thâm canh khá. Lượng giống gieo sạ 80 – 100 kg/ha.

2.4. Giống RNT3: Do TS. Lưu Văn Quỳnh và cộng sự Viện KHKT Nông nghiệp Duyên hải Nam trung bộ chọn lọc từ giống ML202 theo hướng kháng rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá. Giống RNT3 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 93 – 98 ngày; Năng suất 65 – 70 tạ/ha, thâm canh đạt 75 – 80 tạ/ha; Ít nhiễm rầy nâu, bệnh đạo ôn và khô vằn; chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn, vàn cao, thâm canh khá. Lượng giống gieo sạ 80 – 100 kg/ha.

2.5. Giống SH14: Do Viện cây lương thực, cây thực phẩm chọn tạo và đưa vào khảo nghiệm. Giống SH14 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 103 – 108 ngày; Chiều cao cây 105 – 112 cm; Năng suất 60 – 65 tạ/ha, thâm canh đạt 70 – 75 tạ/ha; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 80 – 90 kg/ha.

2.6. Giống MT36: Do Công ty TNHH giống cây trồng miền Trung chọn lọc và đưa vào khảo nghiệm. Giống MT36 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 103 – 108 ngày; Năng suất 60 – 70 tạ/ha, thâm canh đạt 75 – 80 tạ/ha; Chất lượng gạo trung bình, cơm ngon trung bình; Nhiễm bệnh đạo ôn trung bình, nhiễm nhẹ khô vằn đốm nâu, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn, vàn trung bình. Lượng giống gieo sạ 80 – 90 kg/ha.

2.7. Giống OM4495: Do Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu và cộng tác viên Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long chọn tạo. Giống OM4495 có TGST vụ ĐX 105 – 110 ngày, vụ HT 95 – 100 ngày; Năng suất 50 – 60 tạ/ha, thâm canh đạt 70 – 75 tạ/ha; Chất lượng gạo tốt, cơm dẻo và ngon; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, hơi yếu cây, chống đổ trung bình.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất cao, chủ động tưới tiêu, thâm canh trung bình. Lượng giống gieo sạ 80 – 100 kg/ha.

2.8. Giống P13: Do Viện Cây Lương thực và Cây Thực phẩm chọn tạo. Giống P13 có TGSt 115 – 120 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày; Chiều cao cây 110 – 115 cm; Số hạt chắc/bông 130 – 140 hạt; Năng suất 55 – 60 tạ/ha, thâm canh đạt 70 – 75 tạ/ha; Chất lượng gạo tốt, hạt gạo dài trong, cơm ngon, dẻo và có mùi thơm nhẹ; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn, vàn trung bình, thâm canh khá. Lượng giống gieo sạ 80 – 90 kg/ha.

2.9. Giống SH.2: Do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn lọc. Giống SH2 có TGST vụ ĐX 113 – 118 ngày, vụ HT 90 – 95 ngày; Năng suất 65 – 70 tạ/ha, thâm canh đạt 70 – 80 tạ/ha; Chất lượng gạo tốt, hạt gạo trong, cơm ngon mềm và ráo, vị đậm có mùi thơm nhẹ; Nhiễm nhẹ rầy nâu, ít nhiễm bệnh đạo ôn, khô vằn; Cứng cây chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn, vàn cao, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 80 – 90 kg/ha.

2.10. Giống PC6: Do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn lọc. Giống PC6 có TGST vụ ĐX 115 – 120 ngày, vụ HT 90 – 95 ngày; Năng suất 65 – 70 tạ/ha, thâm canh đạt 75 – 80 tạ/ha; Chất lượng gạo tốt, hạt gạo trong, cơm ngon dẻo, vị đậm có mùi thơm nhẹ; Nhiễm nhẹ rầy nâu, ít nhiễm bệnh đạo ôn, khô vằn; Chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn, vàn trung bình và vàn cao, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 80 – 90 kg/ha.

2.11. Giống ĐT34: Do Công ty CP giống cây trồng Quảng Ninh chọn tạo. Giống ĐT34 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày; Chiều cao cây 112 – 114 cm; Số hạt chắc/bông 100 – 125 hạt; Năng suất 60 – 65 tạ/ha, thâm canh đạt 70 – 75 tạ/ha; Chất lượng gạo tốt, cơm ngon; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, cứng cây, chống đổ tốt.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 80 – 90 kg/ha.

2.12. Giống HT6: Do Viện cây lương thực, cây thực phẩm chọn tạo. Giống HT6 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 103 – 108 ngày; Chiều cao cây 112 – 114 cm; Số hạt chắc/bông 100 – 120 hạt; Năng suất 60 – 65 tạ/ha, thâm canh đạt 70 – 75 tạ/ha; Chất lượng gạo tốt, cơm mềm và thơm ngon; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ tốt.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 80 – 90 kg/ha.

2.13. Giống NH6: Do Trường Đại học Nông Lâm Huế chọn tạo và đưa vào khảo nghiệm. Giống NH6 có TGST vụ ĐX 115 – 120 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày; chiều cao cây 98 – 102 cm; Số hạt chắc/bông 110 – 115 hạt; Năng suất 60 – 70 tạ/ha, thâm canh đạt 75 – 80 tạ/ha; Chất lượng gạo tốt, hạt gạo dài và trong, cơm mềm và thơm ngon; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 90 – 100 kg/ha.

2.14. Giống Nàng hoa 9: Giống Nàng hoa 9 do KS. Lê Hùng Lân chon tạo. Giống Nàng hoa 9 có TGST thuộc nhóm chín trung ngày. Năng suất trung bình từ 55 – 65 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 75 tạ/ha; chất lượng gạo khá, cơm mềm và có vị đậm; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính; chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 90 – 100 kg/ha.

2.15. Giống TBR36: Do Công ty Cổ phần giống cây trồng Thái Bình chọn tạo. Giống TBR36 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày. Năng suất trung bình 65 – 70 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 80 tạ/ha; chất lượng gạo khá, cơm mềm; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính; chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 90 – 100 kg/ha.

2.16. Giống TBR45: Do Công ty Cổ phần giống cây trồng Thái Bình chọn tạo. Giống TBR45 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày. Năng suất trung bình 60 – 70 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 80 tạ/ha; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 90 – 100 kg/ha.

2.17. Giống DH46-1: Do Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ chọn tạo. Giống DH46-1 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày. Khối lượng 1.000 hạt từ 24 – 25gam. Năng suất trung bình 60 – 65 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 80 tạ/ha; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 90 – 100 kg/ha.

2.18. Giống DH40: Do Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ chọn tạo. Giống DH40 có TGST vụ ĐX 112 – 117 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày. Khối lượng 1.000 hạt 23,5 – 24,5 gam; Năng suất trung bình 60 – 65 tạ/ha, phẩm chất gạo khá; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính; chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 90 – 100 kg/ha.

2.19. Giống AN13: Do Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ chọn tạo. Giống AN13 có TGST vụ ĐX 110 – 118 ngày, vụ HT 105 – 112 ngày; Năng suất trung bình từ 62 – 65 tạ/ha; chất lượng gạo khá, cơm mềm; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính; chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 90 – 100 kg/ha.

2.20. Giống QNam 1 (CT2): Do Chi Cục Bảo vệ thực vật Quảng Nam chọn tạo. Giống CT2 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày. Năng suất trung bình từ 60 – 65 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 75 – 80 tạ/ha, chất lượng gạo khá, cơm ngon; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 90 – 100 kg/ha.

TRUNG TÂM KHẢO, KIỂM NGHIỆM
GIỐNG SẢN PHẨM CÂY TRỒNG VÀ PHÂN BÓN
VÙNG MIỀN TRUNG- TÂY NGUYÊN

TRAN VAN MANH
Center for Plant and Fertilizer Testing in Central region and central Highlands
National Center for Plant and Fertilizer Testing (NCPAFT)
Office add: No 291 Hung Vuong str., Quang Ngai city
Mobi: 0905. 36 33 99
Home tel: (+84) 55 3 677129

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Giống lúa cho các tỉnh phía Nam

 
CÂY LƯƠNG THỰC
. Sản xuất và cung ứng giống lúa các tỉnh phía Nam là thông tin Diễn đàn Khuyến Nông @ Nông nghiệp lần thứ 5 – 2011 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia vừa tổ chức mới đây tại An Giang. Loạt bài trong sách này là đặc biệt quan trọng để hiểu biết thực trạng, tiến bộ mới, thuận lợi và khó khăn của nghề lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long vùng lúa lớn nhất Việt Nam.Tóm tắt một sô tin chính:


GS.TS. Nguyễn Văn Luật, 2011.  Loại giống và hạt giống lúa cho sản xuất ở ĐBSCL đã cập nhật thông tin những giống lúa mới triển vọng nhất ở các tỉnh Nam Bộ: “Hội thảo đánh giá giống lúa hàng vụ do Viện Lúa ĐBSCL tổ chức hàng vài thập kỷ nay, năm nay vào ngày 16/02/2011, có trên 600 người tham dự đã bầu chọn giống lúa “hoa hậu” là OM10041; giống “á hậu” là OM 54541; giống đạt “ngôi thứ 3” là OM 6904 và một số giống khác. Đây mới chỉ là bước khởi đầu, vì đưa được vào sản xuất, còn phải nhân hạt giống, trồng thử để người nông dân tự đánh giá ngay trên đồng đất của mình. Theo trang tin điện tử của Viện Lúa ĐBSCL thì Viện đã có 16 giống lúa chịu mặn gồm các giống thuộc bộ giống OM 5464, 2488, 2818, 6379, 6677, 6074, 4276, 6690, 5651, 6521, 5199ĐB, 576, 2517, 5472, 6561, 2395. Trong đó có 15 giống đã được đưa vào sản xuất đại trà tại các tỉnh ven biển. Qua thực tế những giống này có ưu điểm kháng sâu bệnh tốt, cho năng suất cao, ổn định từ 5 – 7 tấn/ha, phẩm chất gạo tốt, đạt chuẩn xuất khẩu và đang được Cục Trồng trọt khuyến khích nông dân sử dụng rộng rãi trong điều kiện nước mặn xâm nhập và tình hình khô hạn như hiện nay”. (xem tiếp)

TS Nguyễn Trung Tiền, 2011. Phát triển sản xuất lúa gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long , đã chỉ rõ :Đồng  bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích trồng lúa khoảng 3,9 triệu ha, trong đó diện tích lúa cao sản (hè thu-đông xuân) mỗi vụ khoảng 1,6-1,7 triệu ha. Là vựa lúa lớn nhất của cả nước, hàng năm Vùng này đóng góp trên 50% sản lượng lúa và trên 90% tổng lượng gạo xuất khẩu của nước ta. Cây lúa hiện nay và trong những năm tới vẫn là cây trồng chủ lực của vùng ĐBSCL.Trong năm 2010 sản lượng và doanh thu xuất khẩu gạo đều tăng vượt bậc so với các năm trước đây. Theo ông Trương Thanh Phong – chủ tịch VFA – xuất khẩu gạo VN năm 2010 đạt 6,754 triệu tấn với trị giá gần 3 tỉ USD, giá xuất khẩu bình quân trên 431 USD/tấn và gần bằng với mức giá gạo Thái Lan. Tuy nhiên, để phát triển lúa vùng ĐBSCL nói riêng, Việt Nam nói chung và hướng đến cạnh tranh sòng phẵng với các nước khác mà đứng đầu là Thái Lan thì Việt Nam còn phải khắc phục và cải thiện nhiều hơn nữa những vấn đề cơ bản (xem tiếp)

GS.TS. Bùi Chí Bửu, GS.TS. Nguyễn Thị Lang, 2011. Cải tiến giống lúa phẩm chất gạo tốt tiếp cận chiến lược mới đã khái quát những thành tựu mới nhất trên thế giới và Việt Nam và đúc kết:. “Năng suất lúa là yếu tố cơ bản cho phép việc điều chỉnh mục đích sử dụng diện tích lúa. Khả năng năng suất lúa lai tăng so với lúa thuần 15-20%. Khả năng sử dụng công nghệ sinh học tạo giống lúa quang hợp theo chu trình C4 tăng năng suất hơn 40% (có nghĩa là năng suất tối đa sẽ đạt 12-16 tấn /ha). Bên cạnh đó, việc cải tiến kỹ thuật bón phân làm gia tăng hiệu quả sử dụng phân đạm từ 40% hiện nay lên 70% trong tương lai, tưới tiết kiệm nước, cộng thêm các giải pháp kỹ thuật đồng bộ khác sẽ góp phần quan trọng vào việc giảm giá thành. Cải tiến phẩm chất lúa gạo có ý nghĩa quyết định để tiếp cận mục tiêu phát triển sản xuất lúa theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững.” (xem tiếp)

PGS.TS. Phạm Văn Dư, ThS. Lê Thanh Tùng, 2011. Thành tựu và giới hạn của việc áp dụng giống lúa cao sản ở ĐBSCL đã khái quát thông tin về: Thành tựu của Cách mạng xanh từ năm 1961 đến 2000; Nhập nội, nghiên cứu phát triển các giống lúa mới ở ĐBSCL; Tình hình thặng dư lương thực dành cho xuất khẩu; Thành tựu và giới hạn của việc sử dụng giống lúa cao sản ở ĐBSCL. Bài báo nhấn mạnh: “Việc sử dụng giống lúa cao sản ngày nay đã giúp Việt Nam tiến rất xa trong canh tác thâm canh so với các nước trong khu vực. Rất nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được áp dụng giúp nông dân nâng cao dần năng suất qua các phương thưc sản xuất mới”..”Những vấn đề lớn cần suy nghĩ là: Việc bảo tồn tài nguyên tính đa dạng sinh học của giống lúa; Sự thu hẹp và mất dần các vùng sinh thái tự nhiên; Sự thay đổi về di truyền học tính kháng, tương tác ký sinh và ký chủ. Sự thay đổi về môi trường đất trồng lúa, ô nhiễm nguồn nước sạch, tài nguyên thủy sản; Chín tồn tại căn bản cần cải thiện về mặt kỹ thuật của hệ thống sản xuất và cung ứng giống lúa”. Tác giả đã nhấn mạnh bốn giải pháp chính: “1) Cần xây dựng quy trình thực hành nông nghiệp tốt (GAP) cho sản xuất lúa, trước mắt là VietGAP nhằm từng bước bảo đảm được chất lượng đã cam kết và đang được đòi hỏi trên thị trường thế giới. 2) Thực hiện chuyên canh trên quy mô tương đối lớn để bảo đảm chất lượng được nâng cao và duy trì ổn định, bảo đảm khả năng giao một lượng sản phẩm tương đối lớn trong thời hạn tương đối ngắn, theo kịp yêu cầu của thị trường…. 3) Cần có những dự án được kết hợp thành những chương trình mục tiêu, thực hiện một cách kiên trì và nhất quán để đạt được những tiến bộ rõ rệt trong thời gian ngắn. Động lực thị trường có thể sẽ giúp người nông dân tiếp cận nhanh hơn với các phương pháp và tác phong canh tác mới, từ bỏ cách làm ăn cũ, tư duy và tác phong cũ không còn thích hợp. 4) Giải quyết thỏa đáng quan hệ giữa Nhà nước, nông dân và các doanh nghiệp xuất khẩu gạo trong phân phối lợi nhuận theo hướng quan tâm nhiều hơn đối với người trồng lúa.” Đây là những vấn đề thực sự quan trọng và cấp thiết để phát triển sản xuất lúa gạo, góp phần nâng cao  thu nhập và đời sống của nông dân.(xem tiếp)

Nguyễn Phước Tuyên 2011. Những tiến bộ sản xuất lúa lai trên thế giới. Lúa lai là kỹ thuật chìa khóa để gia tăng năng suất, sản lượng lúa Trung Quốc là nước phát triển lúa lai nhất thế giới. Đến năm 2010, diện tích lúa lai Trung Quốc lên 20 triệu ha, chiếm 70% diện tích canh tác lúa của Trung Quốc, đã góp phần đưa năng suất lúa từ 4,24 tấn/ha của năm 1979 lên 6,58 tấn/ha năm 2009, trong khi năng suất lúa trung bình của thế giới chỉ có 4,32 tấn/ha (FAOSTAT, 2011), Diện tích lúa lai của các nước ngoài Trung Quốc trên 3 triệu ha, trong đó Việt Nam khoảng 600.000 ha, chủ yếu trồng ở các tỉnh phía Bắc và một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên. Các dòng lai giữa Indica và Japonia đều cho năng suất trên 9 tấn/ha. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã lai tạo ra Việt Lai 20 vào năm 2004 đã được công nhận là giống quốc gia đầu tiên của Việt Nam. Từ đó đến nay, có nhiều giống lúa lai khác được ra đời như TH3-3, TH5-1, TH 3-4 và Việt Lai 24, những giống này cũng đã được công nhận là giống quốc gia và đang được sản xuất trên diện tích hàng chục nghìn héc-ta là những thành công ban đầu của canh tác tự lai tạo và sản xuất hạt giống lúa lai tại Việt Nam.
(xem tiếp)

 

Nguyễn Phước Tuyên 2011. Triển vọng canh tác lúa Nhật cho các nước châu Á. Việc lai tạo giữa giống lúa tiên Indica vùng nhiệt đới với giống lúa cánh Japonica vùng cận nhiệt đới và ôn đới đã tạo nên những đột phá nâng cao năng suất lúa, tăng tính chống chịu lạnh, kháng bệnh cháy lá, cháy bìa lá, khô vằn, cải thiện cây lúa vàng lá sớm, hình dạng hạt gạo, độ dẻo, hóa hồ và các đặc tính khác. Cuộc cách mạng xanh bắt đầu bằng giống lúa IR8 là kết quả của lai tạo giữa giống Japonica của Trung Quốc là Dee-geo-woo-gen với giống Peta của Indonesia. Kết quả đã làm tăng năng suất lúa từ 2-3 tấn/ha lên 8-10 tấn/ha. Tại Hàn Quốc, việc phổ biến giống lúa cao sản Tongil là kết quả của lai tạo giữa giống lúa Japonica và Indica đã giúp Hàn Quốc thành công trong tự túc lương thực từ năm 1972. Hiện các dòng lai Japonica thích nghi với điều kiện nhiệt đới đang được Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) và Hàn Quốc phát triển theo hướng cải thiện năng suất, dạng hình cây lúa, chống đổ ngả, kháng sâu bệnh chính, chống chịu được điều kiện môi trường khắc nghiệt. IRRI gần đây đã phóng thích hai giống gạo tròn nhiệt đới Japonica mang tên IRRI 142 (NSIC Rc170) và IRRI 152 (NSIC Rc220) để canh tác trên diện rộng. Các giống lúa này mang đầy kỳ vọng giúp nông dân Philippines đạt lợi nhuận cao hơn, và nhất là giúp người tiêu dùng có thể thưởng thức được gạo Nhật với giá rẻ; đồng thời cũng mở ra triển vọng lớn đối với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Hoàng Kim, Hoàng Long
Điểm tin Tổng hơp Cây Lương thực

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia 2011. Sản xuất và cung ứng lúa giống các tỉnh phía Nam. Diễn đàn Khuyến Nông @ Nông nghiệp lần thứ 5. PGS.TS. Mai Thành Phụng (chủ biên), Ths. Phạm Văn Tình, KS. Vũ Tiết Sơn. Nhà Xuất bản Nông nghiệp, trang 8-29.  Hoàng Kim, Hoàng Long biên tập mạng và post  theo bản email trực tiếp từ PGS.TS. Mai Thành Phụng

MỤC LỤC (sẽ đăng tiếp và cập nhật tại đây)
Loại giống và hạt giống lúa cho sản xuất ở ĐBSCL
GSTS Nguyễn Văn Luật
Phát triển sản xuất lúa gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long

TS. Nguyễn Trung Tiền.
Cải tiến giống lúa phẩm chất gạo tốt tiếp cận chiến lược mới  

GS.TS. Bùi Chí Bửu và GS.TS. Nguyễn Thị Lang
Thành tựu và giới hạn của việc áp dụng giống lúa cao sản ở ĐBSCL
PGS.TS. Phạm Văn Dư, ThS. Lê Thanh Tùng
Những tiến bộ sản xuất lúa lai trên thế giới
ThS. Nguyễn Phước TuyênV
Triển vọng canh tác lúa Nhật cho các nước châu Á

ThS. Nguyễn Phước Tuyên

(Còn tiếp)

Trở về đầu trang:
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC, CÂY LƯƠNG THỰC, FOOD CROPS