Nông thôn trong mắt Trần Đăng Khoa


NGỌC PHƯƠNG NAM. “Cái còn thì vẫn còn nguyên. Cái tan dù tưởng vững bền cũng tan” Trần Đăng Khoa kể Thời sự làng tôi với một lối văn giản dị: “- Này, vừa rồi anh có nghe đài không? Mẹ tôi hỏi với vẻ mặt nghiêm trọng. Tôi đâm hoảng. Chắc lại có ông to to nào vừa mới chết chăng? Hay là có chuyện gì? – À, là đài nói về làng mình. Thế mà nhà mình lại không biết để mở nghe mới tiếc chứ. Chẳng biết cô nhà báo kể những chuyện gì mà hay lắm…” Cứ thế, câu chuyện cuốn hút ta về vùng quê Hải Dương nơi Khoa sinh ra và lớn lên.Trần Đăng Khoa nói về nông thôn mới ám ảnh tôi sâu sắc kỳ lạ như câu thơ thần đồng của anh năm xưa mà tôi đã thuộc lòng từ nhỏ “Năm nay em lớn lên rồi/ Không còn nhỏ xíu như hồi lên năm/ Nhìn trời, trời bớt xa xăm/ Nhìn sao, sao cách ngang tầm cánh tay”. Phải trãi nghiệm mới thấu hiểu những chuyển đổi của nông thôn Việt trên nữa thế kỷ. Tôi tin rằng nhiều người sẽ tìm đến và nhiều năm sau vẫn còn quay lại với trang văn này Thời sự làng tôi

Bạn ước gặt gì hôm nay ?


Tám điều nhịn, chín điều lành

Bạn gieo ích kỷ Bạn gặt cô đơn
Bạn gieo kiêu hãnh Bạn gặt đố kỵ
Bạn gieo mách lẽo Bạn gặt âu lo
Bạn gieo khoác lác Bạn gặt phiền muộn

Bạn gieo lười biếng Bạn gặt tổn hại
Bạn gieo dối trá Bặn gặt ngờ vực
Bạn gieo tham lam Bạn gặt huỷ diệt
Bân gieo tội lỗi Bạn gặt kẻ thù

Bạn gieo thành thật Bạn gặt lòng tin
Bạn gieo lòng tốt Bạn gặt thân thiện
Bạn gieo khiêm tốn Bạn gặt cao thượng
Bạn gieo kiên nhẫn Bạn gặt chiến thắng

Bạn gieo cởi mở Bạn gặt thân mật
Bạn gieo tha thứ Bạn gặt hoà giải
Bạn gieo chịu đựng Bạn gặt cộng tác
Bạn gieo chăm chỉ Bạn gặt thành công

Chăm làm điều lành Bạn thành người tốt

Hoàng Kim
(Sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn)

5 PHÚT THƯ GIẢN

Lạ và quen

DẠY VÀ HỌC. Tôi chép tặng bạn hai bài Lạ mà Quen: Trần thế và Truyện kể có nhiều thành ngữ tục ngữ nhất. Lạ vì thời buổi này có người đã cai Tivi và nay thì cai luôn đọc báo. Lạ vì bài văn vui vui đầy ắp thành ngữ, tục ngữ. Quen vì ý nghĩ “Vất bỏ ngoài tai mọi chuyện đời/ Lòng không vướng bận dạ an thôi”.

TRẦN THẾ

Nguyễn Ngọc Tư

Ba tháng, cũng có thể lâu hơn, mình không đọc báo. Mình coi như đó là cuộc…cách mạng, như bốn năm trước mình cai… ti vi. Nghĩ là mình cũng qua được thôi, dù trước đó buổi sáng chưa cầm tờ báo như thể ngày vẫn chưa mở, như báo là một thứ không khí để thở. Và buổi sáng hôm đó, khi ghé qua quán cà phê mà bọn mình hay ngồi, cậu nhóc bán báo quen chưng hửng mếu máo than mất mối rồi khi thấy mình khỏa tay, lắc đầu từ chối.

Chỉ là một từ bỏ nhỏ, tưởng không can hệ gì mà cuộc sống mình bỗng khác. Mình cảm giác đi bên rìa đời, bên bờ khác, an nhiên bước chậm trong khi thế giới vẫn giẫm đạp chen nhau bươn tới… Thấy rơi trong bầu không khí nhẹ nhõm, êm đềm. Những sáng ngồi quán vị cà phê không còn đắng ngắt, đắng đến nghẹn đi vì những trang báo ngày chưa ráo mực lấy từ giỏ xe thằng nhỏ bán dạo. Không còn xiên thấu lòng mình hình ảnh một bàn tay thò ra khỏi mái ngói kêu cứu giữa dòng nước lũ, không va đập đau điếng vào mình cái cảnh trẻ nhỏ bị bọn chăn dắt lột trần truồng nằm dưới mưa. Không lửa hắt làm máu mình sôi lên khi đọc thấy tin tức một cánh rừng bị bức tử, những con voi bị bắn chết…

Không gì cả. Những tin tức xa xôi đâu đó dưới trời này đã bị chặn, thì vài sự kiện lao xao của cái thành phố nhỏ nơi mình sống chỉ có thể làm mình xao động một chút, rồi thôi. Giờ thực sự mình với mình, với sách, với trẻ con. Vài ông bạn từng thuyết phục mình bỏ đọc báo, nhắn đi nhắn lại rằng đừng tưởng đấy là kiến thức, đừng tưởng biết hết thật ra chẳng biết gì, rằng đó là bề nổi của cuộc sống, đừng nên nhìn đời theo cách ấy… có vẻ đắc chí, thế chứ, đã bảo rồi mà.

Mình bắt đầu đi dụ dỗ bạn bè, ca tụng việc không đọc báo như đã tu nửa cuộc, như sống thần tiên trên núi, mọi thứ chung quanh tươi tắn và thanh sạch. Bạn rên lên kêu khó. Buổi sáng mà không cầm tờ báo trên tay thấy như đói, dù lắm khi báo cũng không có gì để đọc, dù thông tin bạn tìm được trong lúc lội mạng xã hội vẫn hay ho sinh động hơn nhiều. Biết là mất thời gian nhưng nhiệt độ cuộc sống hiện lên trên ấy, bạn phân trần, không đu theo thấy như bị bỏ rơi. Mình cười thôi bạn cứ ở lại chơi, mình lên núi đây. Rồi thì ai quan, ai sắm du thuyền triệu đô, đất nước nào vừa chính biến, dòng sông nào vừa giãy chết… không còn nhồi máu tim mình nữa.

Dường như đó là cuộc chạy trốn, đôi lần mình nghĩ vậy, khi nhìn quanh bỗng vắng. Nhận ra chẳng phải người đời cứ không đọc báo mà thành tiên. Nông dân bận bịu ngó trời ngay ngáy lo mùa thất bát, buôn gánh bán bưng cùng với đánh giày bạc mặt mòn chân cho cuộc mưu sinh, sư bận kệ kinh, mấy chị nội trợ quẩn quanh với cá lên giá chồng nhậu khuya. Mình có chút bơ vơ.

Và một bữa mình ngoắc thằng nhỏ bán báo lại, như cú tiếp đất sau bao ngày lơ lửng. Trải tờ báo trước mặt, lướt qua từng trang một, mình bỗng nhận ra chưa từng bị đứt đoạn dù đã đi vắng cũng lâu rồi. Thế giới vẫn đầy nước mắt và hỗn loạn y hệt hôm mình rời khỏi. Một chiếc tàu du lịch chìm mang đi nhiều trẻ con, một xóm “nhà không nóc” cũng nheo nhóc con nít mồ côi cha, một ông già bị chính máu thịt ruột ràng đuổi ra đường sống đời bờ bụi, những ngư dân bị hiếp đáp bỏ mạng ngoài khơi… Lại là cảm giác bị trăm con sóng nhồi, bị que xiên qua thịt da, bị xóc dằm, thấy chính mình bị giẫm đạp, phẩn uất dồn lên nghẹn cổ. Rời rã. Mệt nhừ.

Lần đầu tiên mình nhận ra – sau chuyến phủi bụi trần thế thõng tay đi chơi núi – những cảm xúc ngột ngạt bị đẩy đến tận cùng, đến ngộp thở đó có khi cũng cần thiết cho mình, một người viết. Chữ bật ra từ những nỗi đau, biết đâu…

Nguồn: Viet-studies, trang Nguyễn Ngọc Tư

TRUYỆN KỂ CÓ NHIỀU THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ NHẤT

THỪA MỘT CON THÌ CÓ!

Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, đứng núi này trông núi nọ, già kén kẹn hom, ghét của nào trời trao của ấy. Chị nọ phận hẩm duyên ôi, kết tóc xe tơ với một anh chàng mặt nạc đóm dày, xấu ma chê quỷ hờn lại đần độn, ngốc nghếch, vô tâm vô tính, ruột để ngoài da, thiên lôi chỉ đâu đánh đấy, mười tám cũng ừ mười tư cũng gật, học chẳng hay, cày chẳng biết, lúng túng như thợ vụng mất kim, chỉ được cái sáng tai họ điếc tai cày là giỏi!

Trăm dâu đổ đầu tằm, giỗ tết cúng bái trong nhà, công to việc lớn ngoài xóm, hai sương một nắng, tất bật quanh năm, một tay chị lo toan định liệu. Anh chồng thì như gà què ăn quẩn cối xay, lừ đừ như ông từ vào đền, như cỗ máy không giật không động. Giàu vì bạn, sang vì vợ, hang xóm láng giềng kháo nhau:”chàng ngốc thật tốt số, mả táng hàm rồng, như mèo mù vớ được cá rán”.

Chị vợ mỏng mày hay hạt, tháo vát đảm đang, hay lam hay làm, vớ phải chàng ngốc đành nước mắt ngắn nước mắt dài, đèo sầu nuốt tủi, ngậm bồ hòn làm ngọt cho qua ngày đoạn tháng. Nhiều lúc tức bầm gan tím ruột, cực chẳng đã, chị định một liều ba bảy cũng liều, lành làm gáo vỡ làm muôi, rồi anh đi đường anh, tôi đi đường tôi cho thoát nợ. Nhưng gái có chồng như gong đeo cổ, chim vào lồng biết thuở nào ra, nên đành ngậm đắng nuốt cay, một điều nhịn chín điều lành, tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại, vợ chồng đóng cửa bảo nhau cho êm cửa êm nhà, sao nỡ vạch áo cho người xem lưng, xấu chàng hổ ai?

Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ thứ ba tu chùa. Biết chồng tại gia không trot, liền trổ tài điều binh khiển tướng dạy chồng một phen, những mong mở mày mở mặt với bàn dân thiên hạ, không thua anh kém chị trong họ ngoài làng.
Một hôm ngày lành tháng tốt, trời quang mây tạnh, giữa thanh thiên bạch nhật, chị vợ dỗ ngon dỗ ngọt bảo chồng đi chợ mua bò, không quên dặn đi dặn lại: đến chợ phải tuỳ cơ ứng biến, xem mặt đặt tên, liệu cơm gắp mắm, tiền trao cháo múc, đồng tiền phải liền khúc ruột kẻo lại mất cả chì lẫn chài.

Được lời như cởi tấm long, ngốc ta mở cờ trong bụng, gật đầu như búa máy, vội khăn gói quả mướp lên đường quyết phen này lập công chuộc tội. Bụng bảo dạ, phải đi đến nơi về đến chốn, một sự bất tín vạn sự bất tin, ngốc quàng chân lên cổ đi như chạy đến chợ. Chợ giữa phiên, người đông như kiến, áo quần như nêm, biết bao của ngon vật lạ, thèm rỏ dãi mà đành nhắm mắt bước qua. Hai tay giữ bọc tiền khư khư như từ giữ oản, ngốc nuốt nước bọt bước đến bãi bán bò.

Sau một hồi bới lông tìm vết, cò kè bớt một thêm hai, nài lên ép xuống, cuối cùng ngốc cũng mua được 6 con bò. Thấy mình cũng được việc, không đến nỗi ăn không ngồi rồi báo vợ hại con, ngốc mừng như được của. Hai năm rõ mười, ai dám bảo anh ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa. Nghĩ vậy, ngốc ung dung leo lên lưng con bò đi đầu, mồm hô miệng hét diễu võ dương oai, lùa đàn bò ra về mà lòng vui như hội.

Giữa đường sực nhớ lời vợ dặn, suy đi tính lại, cẩn tắc vô áy náy, ngốc quyết định đếm lại đàn bò cho chắc ăn. Ngoảnh trước ngó sau, đếm đi đếm lại, đếm tái đếm hồi chỉ thấy có 5 con, còn một con không cánh mà bay đi mất. Toát mồ hôi, dựng tóc gáy, mặt cắt không còn giọt máu, ngốc vò đầu gãi tai, sợ về nhà vợ mắng cho mất mặn mất nhạt rồi lại bù lu bù loa kêu làng kêu nước mà than than trách phận, ngốc về nhà với bộ mặt buồn thiu như đưa đám.
Thấy chồng về, chị vợ tươi như hoa ra đón, nhưng ngốc vẫn ngồi như bụt mọc trên lưng con bò đi đầu, chắp tay lạy vợ như tế sao:

– Mình ơi, tôi đánh mất bò, xin mình tha tội cho tôi…

Nhìn chồng mặt như chàm đổ mình dường giẽ run, chị vợ không khỏi lo vốn liếng đi đời nhà ma, liền rít lên như xé lụa:

– Đồ ăn hại. Đàn ông con trai mà trói gà không chặt. Làm sao lại để bò sổng?

Sợ thót tim vãi đái, nhưng ngốc vẫn lấy hết sức bình tĩnh để phân trần:

– Tôi mua tất cả 6 con, họ giao đủ 6, bây giờ đếm mãi vẫn chỉ 5 con.

Nhìn ngốc ta vẫn ngồi như đóng đinh trên lưng bò, chị vợ hiểu rõ đầu đuôi cơ sự, dở khóc dở cười bảo chồng:

– Thôi xuống đi! Thiếu đâu mà thiếu, có mà thừa một con thì có!!!

Nguồn: http://dichthuatvietnam.info/showthread.php?t=91

THUNG DUNG, DẠY VÀ HỌC

website bách khoa toàn thư văn hóa Việt


THUNG DUNG. Câu chuyện đưa những thí dụ, những nội dung lên các website làm sống dậy trong thế giới mạng những thông tin hữu ích không phải là câu chuyên quá xa lạ mà ý nghĩa của câu chuyện trong cuộc sống đích thực lần này chính là ở việc những người đi “vác tù và hàng tổng” đang bằng những nổ lực cá nhân để có thể xây dựng một cách đầy đủ nhất, đa dạng nhất, đồ sộ nhất về tư liệu để có thể tạo nên một dung diện về văn hóa Việt Nam và cùng với điều đó họ cũng là những người tiên phong đưa công nghệ Wiki 2.0 vào Việt Nam để tất cả những người sử dụng có thể cùng tham gia xây dựng văn hóa Việt với khái niệm đây là một thực thể sống, không bất biến, luôn vận động cùng với sự đóng góp của tất cả mọi người. Chúng ta hãy đến với video website bách khoa toàn thư văn hóa Việt. Chào mừng bạn đến với những tấm lòng và những bài viết sâu sắc, tâm huyết đối với sự nghiệp giáo dục và chấn hưng văn hóa http://vhv.com.vn/

TRÁI TIM HOÀN HẢO
Có một chàng thanh niên đứng giữa thị trấn và tuyên bố mình có trái tim đẹp nhất vì chẳng hề có tì vết hay rạn nứt nào. Đám đông đều đồng ý đó là trái tim đẹp nhất mà họ từng thấy. Bỗng một cụ già xuất hiện và nói:” Trái tim của anh không đẹp bằng trái tim tôi!”. Chàng trai cùng đám đông ngắm nhìn trái tim của cụ. Nó đang đập mạnh mẽ nhưng đã đầy những vết sẹo. Có những phần của tim đã bị lấy ra và những mảnh tim khác được đắp vào nhưng không vừa khít nên tạo ra một bề mặt sần sùi, lởm chởm; có cả những đường rãnh khuyết vào mà không hề có mảnh tim nào trám thay thế. Chàng trai cưòi nói: “Chắc là cụ nói đùa! Trái tim của tôi hoàn hảo, còn trái tim của cụ chỉ là những mảnh chắp, đầy sẹo và vết cắt. ”

– Mỗi vết cắt trong tim tôi tượng trưng cho một nguời mà tôi yêu, không chỉ là những cô gái mà còn là cha mẹ, anh chị, bạn bè… Tôi xé một mẩu tim mình trao cho họ, thường thì họ cũng sẽ trao lại một mẩu tim của họ để tôi đắp vào nơi vừa xé ra. Thế nhưng những mẩu tim chẳng hoàn toàn giống nhau, mẩu tim của cha mẹ trao cho tôi lớn hơn mẩu tim tôi trao lại họ, ngược lại với mẩu tim của tôi va con cái tôi. Không bằng nhau nên chúng tạo ra những vết sần sùi mà tôi luôn yêu mến vì chúng nhắc nhở đến tình yêu mà tôi đã chia sẻ. Thỉnh thoảng tôi trao mẩu tim của mình nhưng không hề được nhận lại gì, chúng tạo nên những vết khuyết. Tình yêu đôi lúc không cần sự đền đáp qua lại. Dù những vết khuyết đó thật đau đớn nhưng tôi vẫn luôn hy vọng mộtngày nào đó họ sẽ trao lại cho tôi mẩu tim của họ, lấp đầy khoản trống mà tôi luôn chờ đợi.

Chàng trai đứng yên với giọt nước mắt lăn trên má. Anh bước tới, xé một mẩu từ trái tim hoàn hảo của mình và trao cho cụ già. Cụ già cũng xé một mẩu từ trái tim đầy vết tích của cụ trao cho chàng trai. Chúng vừa nhưng không hoàn toàn khớp nhau, tạo nên một đường lởm chởm trên trái tim chàng trai. Trái tim của anh không còn hoàn hảo nhưng lại đẹp hơn bao giờ hết vì tình yêu của cụ già đã chảy trong tim anh…

NGƯỜI NHÂN VIÊN SẾP CẦN

Chúng ta ai cũng có mặt ưu điểm vượt trội, để trở thành một nhân viên trụ cột của công ty, ngoài việc nâng cao năng lực nghiệp vụ, bạn cần thể hiện mình là một người có giá trị.

Người nhân viên có giá trị cần trang bị cho mình :
– Cần nỗ lực làm việc cho công ty, sau đó mới tính đến sự báo đáp từ công ty
– Nên đứng từ góc độ của công ty xem xét mọi việc, đối đãi người khác như với chính bản thân mình; luôn tin tưởng vào công việc của mình
– Trở thành người có khả năng giả quyết vấn đề, chứ không phải là người tạo nên mọi vấn đề rắc rối
– Không bao giờ nói “ không” với công việc

Nâng cao năng lực, nỗ lực trong mọi công việc:
Tự giác nâng cao phẩm chất và năng lực bản thân, đừng quá quan tâm đến việc công ty có thăng chức và tăng lương cho bạn hay không. Mà hãy tập trung và hoàn thành công việc, làm các công việc khác hợp với khả năng của mình, bắt đầu từ việc nhỏ nhất để tích lũy thêm kinh nghiệm. Thái độ tích cực và ham học hỏi sẽ rất có ích cho bạn sau này.

Thiết lập các mối quan hệ
So với công việc thì việc xử lí công việc và tạo mối quan hệ với đồng nghiệp, khách hàng còn khó hơn rất nhiều. Hãy dùng thái độ chân thành để thiết lập các mối quan hệ. Điều này không những giúp bạn làm việc một cách thoải mái, còn thúc đẩy tinh thần đoàn kết, nâng cao sự bền chặt của công ty và hiệu quả công việc. Nên đứng vào vị trí của người khác để suy xét mọi vấn đề của công việc. Điều này hoàn toàn có lợi cho sự nghiệp của bạn.

Chú trọng nâng cao hiệu quả công việc
Trong thời đại công nghiệp hiện nay, thời gian chính là tiền bạc, nâng cao hiệu quả công việc đồng thời nâng cao giá trị sáng tạo, tính cạnh tranh và giảm chi tiêu ngân sách cho công ty mang đến hiệu quả kinh tế thực tế. Qua đó để sếp thấy sự cố gắng của bạn xứng đáng đồng lương mà công ty trả cho bạn.

Trở thành người giải quyết các vấn đề
Để trở thành một người trợ lí đắc lực của sếp, khi gặp các vấn đề trong công việc bạn cần đưa ra cách giải quyết, chứ không phải là ỷ lại sếp. Sếp luôn là người có trách nhiệm và người nhân viên sáng tạo là biết cách giúp sếp giải quyết các vấn đề khó khăn. Những nhân viên luôn chủ động hoàn thành công việc được giao và vì lợi ích công ty làm tốt cả phần việc không trong nhiệm vụ của mình là người sếp luôn cần. Ngày nay làm việc dập khuân không phải là mô típ cho một nhân viên năng động.

Công việc chính là sự nghiệp của mình
Bất luận ở giai đoạn nào của sự nghiệp hãy nhiệt tình, năng động, không ngừng sáng tạo vì công ty, hoàn thành và nâng cao giá trị công việc. Không nên có suy nghĩ “ đây không phải là phần việc của tôi ”, vấn đề khó khăn của một người có thể sẽ là cơ hội của người khác, hãy nắm bắt bất cứ cơ hội nào mà bạn có.
Chỉ cần bạn biết kiềm chế, không sợ sự cô đơn và sự cám dỗ của những thú vui thì hoàn thành những kế hoạch của từng ngày , lâu ngày bạn sẽ có những ưu thế hơn người khiến bản thân ngày càng có giá trị.
Giống như nước có thể bào mòn đá vậy những việc bình thường nếu quyết tâm và kiên trì sẽ xuất hiện kì tích mà ta khó đoán trước.

MUỐN THÀNH CÔNG THÌ HÃY ĐỌC BÀI NÀY

Ðây là bài diễn văn của Larry Ellison (Chủ tịch Oracle) tại ÐH Yale vào lễ tốt nghiệp năm 2000 và cũng vì nó, ông bị lôi ra khỏi sân khấu khi đang diễn thuyết.

“Là SV của ÐH Yale, tôi xin lỗi nếu các bạn có thể chịu đựng được phần mở đầu trước, nhưng tôi muốn các bạn làm một điều gì đó cho tôi. Xin hãy nhìn chung quanh bạn. Hãy nhìn người bạn cùng lớp bên trái bạn. Hãy nhìn người bên phải bạn. Bây giờ, hãy xem xét điều này: 5 năm nữa, 10 năm nữa, thậm chí 30 năm nữa, kì quặc là những người bên trái bạn sẽ trở thành người thua cuộc (Loser ). Người ngồi bên phải bạn lúc đó cũng là người thua cuộc. Và bạn, người ở giữa sẽ như thế nào?

Bạn có thể mong mỏi điều gì hơn? Rốt cục bạn cũng sẽ là một gã tồi mà thôi. Tất cả đều thua. Tất cả. Thực tế, khi tôi tìm kiếm trong số những người trước mặt tôi hôm nay, tôi không thấy được hàng ngàn tia hi vọng cho một ngày mai tươi sáng. Tôi không thấy hàng ngàn người lãnh đạo tương lai trong hàng ngàn ngành công nghiệp. Tôi chỉ thấy hàng ngàn kẻ thua cuộc. Bạn lo lắng ư? Dễ hiểu thôi. Sau cùng, tôi, Lawrence “Larry” Ellison, người bỏ học đại học nửa chừng, cả gan hùng hồn thốt ra những điều trái lẽ phải như thế trước khóa tốt nghiệp của một trong những viện có uy tín nhất đất nước này?

Tôi sẽ nói cho các bạn biết tại sao?

Bởi vì tôi, Lawrence “Larry” Ellison, người giàu thứ 2 trên hành tinh, là một kẻ bỏ học giữa chừng, mà các bạn thì không. Bởi vì Bill Gates, người giàu nhất thế giới dù sao đi nữa cũng là một kẻ bỏ học giữa chừng, mà các bạn thì không. Bởi vì Paul Allen, người giàu thứ 3 trên thế giới, cũng bỏ học ÐH giữa chừng, và bạn thì không làm điều đó. Và cứ tính như thế tiếp tục đi. Cho đến Michael Dell, người giàu thứ 9 trên thế giới và ngày càng đi lên rất nhanh, cũng là một thằng bỏ học giữa chừng và bạn, vâng chính lại là bạn, không như thế. Bạn thấy đảo lộn rồi ư? Có thể hiểu được mà.

Vì vậy hãy để tôi chọc giận cái tôi trong bạn bằng cách chỉ ra, một cách thẳng thắn, là bằng cấp của bạn chẳng có giá trị gì hết. Phần lớn các bạn, tôi tưởng tượng là, đã trải qua 4,5 năm ở đây, bằng nhiều cách bạn cố gắng học và chịu đựng những gì sẽ có lợi cho bạn trong những năm sắp tới. Bạn đã lập ra một thói quen làm việc tốt. Bạn đã thiết lập nên một mạng lưới các quan hệ để có thể giúp đỡ bạn khi bạn vấp ngã trên con đường của mình. Và bạn đã tạo ra những gì có quan hệ suốt đời với từ “cách chữa bệnh”.

Tất cả điều đó đều tốt. Sự thật là bạn sẽ cần đến mạng lưới đó. Bạn sẽ cần những thói quen làm việc chăm chỉ. Bạn sẽ cần “cách chữa bệnh”. Bạn sẽ cần nó vì bạn không bao giờ bỏ học nửa chừng, và chính vì thế, vâng, bạn sẽ không bao giờ ở trong số những người giàu nhất thế giới. Oh, chắc chắn là làm theo cách của bạn sẽ không bao giờ vươn tới số 10, 11 như Steve Ballmer. Nhưng mà, tôi không nói cho bạn biết là thực sự ông ta đang làm cho ai phải không?

Và để có được thành tích đó, ông ta đã bỏ học. Hơi trễ, đó là sai lầm lớn. Cuối cùng, tôi nhận ra rằng, nhiều bạn ở đây, hi vọng là đa số các bạn, tự hỏi rằng ” Tôi có thể làm cái gì đây? Không còn hi vọng cho tôi nữa sao?”

Thật sự là không. Quá trễ rồi. Bạn đã miệt mài quá nhiều, tôi nghĩ là bạn biết là quá nhiều. Bạn sẽ không là người thứ 9. Bạn có một cái mũ dính liền, tôi không ám chỉ đến cái mũ vuông ( trong đồng phục lễ tốt nghiệp) mà bạn đang đội trên đầu. Hmm… Bạn thực sự thấy lo lắng ư ? Dễ hiểu mà. Vì thế đây có lẽ là dịp tốt để nuôi dưỡng niềm hi vọng. Không phải cho các bạn mà là cho khóa mới sắp tới kia. Các bạn là đồ phế thải rồi, vì thế tôi sẽ để các bạn lãnh mức lương thảm hại 200.000 đô la một năm, nơi mà đơn xin vào làm của các bạn sẽ được những thằng bỏ học hai năm trước đây kí.

Thay vào đó, tôi muôn mang lại hi vọng cho những bạn mới vào trường. Tôi muốn nói với các bạn, là tôi nhấn mạnh điều này: nên bỏ học. Hãy xếp đồ đạc và cả những ý tưởng lại và đừng quay trở lại nữa. Bỏ học đi. Ðứng dậy đi. Ðiều tôi muốn nói với bạn là cái mũ và áo choàng tốt nghiệp sẽ kéo bạn xuống chắc chắn như là những người bảo vệ kia sẽ lôi cổ tôi xuống khỏi sân khấu này…

(Ðến lúc này thì chủ tịch của Oracle bị mời xuống khỏi sân khấu)

Bạn hãy tự trả lời: Vì sao như thế?

Nguồn: http://vhv.com.vn/ ;
http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim

THUNG DUNG, DẠY VÀ HỌC

Lời thương

DẠY VÀ HỌC. Bẵng một thời gian chưa đến thăm anh (Bulukhin- Nguyễn Quốc Toàn) Hôm nay tôi ghé lại,và chợt lặng người trước bài “Lời thề cỏ may” anh giới thiệu bài viết của cậu con Nguyễn Quốc Tuấn. Mục cảm nhận có bản nhạc “Anh còn nợ em” thấm đẫm tính nhân văn của nhạc sĩ Anh Bằng qua lời ca ngọt ngào Thiên Kim (+Tăng Thanh Hà) do bạn anh post tặng. Anh đã cố tình dùng lại tiêu đề “Lời thề cỏ may” của Trần Đăng Khoa trích trong tuyệt phẩm “Ngày Tết đọc 5 bài thơ lục bát” bình bài thơ cùng tựa đề này của Phạm Công Trứ. Ba góc nhìn đều có những sâu lắng riêng. Xin được chép chung những bài này vào “kho báu” để mọi người cùng đọc.

LỜi THỀ CỎ MAY


Nguyễn Quốc Tuấn

Cậu con trai Bu đang hành nghề kiến trúc và viết báo vặt ở Sài Gòn, cu cậu chỉ có thủy chung với Facebook. Nó thường “vẽ” chân dung bạn bè theo bút pháp cường điệu và lộng ngôn, đọc là cười lăn. Ấy thế mà những thằng bạn được nó “vẽ” lên không tự ái, lại khoái chí nữa. LỜI THỀ CỎ MAY là nó tự vẽ mình cũng một bút pháp trên…Và các cô gái mới lớn ơi, hãy cảnh giác bọn con trai nhé, nhớ đấy.

Thời sinh viên, dù đói khổ mốc cả mỏ, nhưng cái khoản yêu đương thì mình thuộc dạng no đủ, dăm bữa nửa tháng là đau đáu em A, vài tuần lại sang em B, em nào mình cũng nói yêu đương một cách chân thành và đầy trách nhiệm. Cứ như thế, mấy năm đại học, trái tim không biết mệt mỏi. Yêu và yêu thôi, hehe…

Ở ngoài Hà Nội, chỉ nói ” Anh yêu em” là đủ ý, thông tin được gửi đi một cách perfect. Nhưng Sài Gòn…

Vào sài gòn, quen cô gái đầu tiên có tên là Th, một bận, cô ấy hỏi, “Anh thương em không” Mới nghe, thấy lạ tai, cái từ “thương” sao mà sến rện, cải lương. Mình trả lời ngay, anh yêu em chứ thương thì nhằm nhò gì.

Người Sài Gòn nói riêng và Nam Bộ nói chung không dùng mỹ từ “yêu” như các nơi khác. “Ủa, mày thương con nhỏ đó hả?” Ê, thằng đó thương mày thiệt đó nghen”

Phải đến cả năm sau, mình mới “ngộ” ra từ thương của người miền Nam. Thứ nhất, người Nam không màu mè, ái ngữ của họ mộc mạc như suy nghĩ vậy. Từ “yêu” trong đầu người Nam chỉ có ở tiểu thuyết, hoặc trên phim ảnh mà thôi. Nam nữ “thương” nhau, chứ họ không cần yêu, “có lẽ phụ nữ Nam Bộ không biết “yêu” là gì???”

Đúng vậy, Vợ chồng, bồ bịch, có khi chẳng nhất thiết phải yêu nhau say đắm. Chẳng cần phải mượn cái phạm trù bao la rộng lớn như thế để chứng mình tình cảm với nhau, Vợ chồng thương nhau, nam nữ thương nhau, người với người thương nhau là đủ rồi.

Riêng mình, khi cuốn lịch cuộc đời mỏng dần theo năm tháng, thì khái niệm “yêu” trở nên mong manh, và dễ vỡ. Khái niệm đó ngày càng rời xa tâm thức, nó không thuộc vùng cảm xúc trong trái tim mình. Vì yêu là là ràng buộc nhiều thứ, vì điều này vì điều kia, thậm chí là vì…thương nữa, hihihi

Hãy yêu nhau đi khi rừng thay lá…Hãy yêu nhau đi quên ngày u tối….Hãy yêu nhau đi bên đời nguy khốn….là những câu hát đã nhạt phai rất nhiều trong mình, dù trước đây là vũ khí đắc lực. Hễ đưa em nào đến quán ca fe có thêm cây đàn ghita nữa là em ngã đạn, phải dựng em lên nói một câu cho đủ bộ là “Anh yêu em”… Cách đây vài năm, tình cờ gặp lại Th trong quán cafe, Th giờ đã 2 con mà nhan sắc vẫn đang làm mòn con mắt lắm.

Ủa, phải Tuấn hông?

Ừ, Th hả, lâu ngày quá.

…….

Hồi trước Tuấn đâu có thương Th ?

Có chứ. Yêu chết bỏ mà!

Chỉ Yêu thôi đúng hông?

Nhắc lại chuyện này làm gf?

nhắc lại để Tuấn thấy đang nợ Th nhiều lắm

Ví dụ?

“Công viên, ghế đá…nắng chiếu qua tim và cuộc tình đã lỡ”

Ơ, ơ … đó là ông nhạc sĩ Anh Bằng nợ chứ

(Cười)

Giá như hồi đó mình đừng yêu ai cả, mà thương thật nhiều, rồi giá như hồi đó mình trả lời “ừ thương” trong câu chuyện với Th một cách tự nhiên, không thấy sến rện, không thấy cải lương thì bây giờ sao nhỉ? Chắc là không “nợ nần” chi ai cả. Thiết nghĩ, trải nghiệm cuộc sống giống như đi qua những cánh đồng cỏ may, đôi khi phải dừng bước để gỡ những lời thề, văn chương gọi là “lời thề cỏ may” hị hị hị!

LỜI THỀ CỎ MAY

Trần Đăng Khoa

Giữa lúc người ta xuôi về thành phố , thì Phạm Công Trứ lại ngược ra ngoại ô, trở về làng quê, và rồi anh cứ đi mãi , đi hút mãi về xứ dân gian. Ở đó anh gặp Nguyễn Bính, và ngay lập tức anh đã bị ông thi sĩ đồng hương này bắt mất hồn ! Bởi vậy, có một nhà thơ ở bậc đàn anh, đọc xong Trứ bảo: “Đời đã có một Nguyễn Bính rồi. Có nên cần thêm một Nguyễn Bính hạng hai, hạng ba nữa không ?

Nói thế thì oan cho Trứ quá . Anh đâu phải Nguyễn Bính. Dú có khoác tấm áo the, có đội cái khăn xếp xưa của Nguyễn Bính cũng đâu đã phải là Nguyễn Bính. Hãy xem cô gái nhà quê ra tỉnh này về thì rõ. Cái áo chẽn, cái quần bò đã khác xa cái áo the quần lĩnh cổ cài khuy bấm ngày xưa, chí ít cũng là sự khác biệt về một trang phục của thiếu nữ ở hai thời.

Dẫu khác thế, người đọc Phạm Công Trứ vẫn cứ nhớ đến Nguyễn Bính. Giá không có Nguyễn Bính, có lẽ Phạm Công Trứ đã có một cái chiếu giữa làng văn. Nhưng cái chiếu Trứ đang ngồi vào hiện nay, Nguyễn Bính đã ngã bóng mình xuống đó cách đây nữa thế kỷ. Bởi thế, thơ Trứ có chỗ quả cũng cớm nắng, xanh xao. Thiết tưởng, Trứ cũng có thể bắt chước người xưa , ngữa mặt lên trời mà than rằng: Trời đã sinh ra Trứ sao trước đó còn sinh ra Bính?

LỜI THỀ CỎ MAY

Phạm Công Trứ

Làm sao quên được tuổi thơ
Tuổi vàng tuổi ngọc tôi ngờ lời ai
Thủa ấy tôi mới lên mười
Còn em lên bảy theo tôi cả ngày
Quần em dệt kín bông may
Aó tôi cúc đứt mực rây tím bầm
Tuổi thơ chân đất đầu trần
Từ trong lấm láp em thầm lớn lên
Bây giờ xinh đẹp là em
Em ra thành phố dần quên một thời
Về quê ăn tết vừa rồi
Em tôi áo chẽn, em tôi quần bò
Gặp tôi em hỏi hững hờ
Anh chưa lấy vợ còn chờ đợi ai?
Em đi để lại chuỗi cười
Trong tôi vỡ một khoảng trời pha lê
Trăng vàng đêm ấy bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may.

THUNG DUNG, DẠY VÀ HỌC

Lại thêm một tài liệu quý về Hồ Chí Minh

DANHNHANVIET. Tiếp theo bài viết “Huyền thoại kép” Hồ Chí Minh vinh quang và những hệ lụy là bài viết Thử tìm lời giải cho câu hỏi: Cụ Hồ là ai? cũng của tác giả Ngô Trần Đức. Đây là công trình nghiên cứu có chứng cứ và tư liệu, cẩn trọng và khách quan. “Cụ Hồ là người chiến thắng, vì nền tảng văn hóa của Cụ sâu rộng, lý tưởng của Cụ cao cả, phẩm cách của Cụ trong sáng, phương pháp tư duy của Cụ uyển chuyển, biết linh hoạt ứng biến trước mọi hoàn cảnh, như Cụ thường nói “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, khi “tình hình, nhiệm vụ đã thay đổi,… chính sách và khẩu hiệu cũng phải thay đổi cho hợp với tình hình mới”.Vì vậy, Cụ được thừa nhận là biểu tượng cho khát vọng Độc lập, Tự do, Lương tâm và Trí tuệ của các dân tộc bị áp bức; được Tạp chí Time của Mỹ tổ chức bầu chọn vào danh sách 20 nhà lãnh đạo có uy tín hàng đầu trong tổng số 100 nhân vật được bầu chọn là những người nổi tiếng nhất thế giới trong thế kỷ XX.”

THỬ TÌM LỜI GIẢI CHO CÂU HỎI: CỤ HỒ LÀ AI?

Ngô Trần Đức

Cụ Hồ là ai? Đây là một câu hỏi được giới nghiên cứu trong và ngoài nước nêu lên từ lâu, đã có nhiều lời giải khác nhau, đến nay vẫn tiếp tục có thêm những kiến giải mới. Điều đó cho thấy Hồ Chí Minh quả là một nhân vật đa dạng, phong phú, hấp dẫn, có khả năng sống với nhiều thời đại. Vậy Cụ Hồ là ai? Là dân tộc chủ nghĩa hay quốc tế chủ nghĩa? Là người mácxít hay người theo đạo Khổng? Là cộng hòa, cộng sản hay xã hội dân chủ? Chủ nghĩa cộng sản với Hồ Chí Minh là mục đích hay là phương tiện? v.v..

I. Lược qua một vài ý kiến tiêu biểu

Ph. Devillers trong lời Tựa cho cuốn “Hô Chi Minh à Paris 1917-1923” của Thu Trang-Gaspard, có nêu câu hỏi: Tại Đại hội Tours, Nguyễn Ái Quốc tin theo Luận cương của Lênin, bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc Tế 3, nhưng ông đã phải là người mácxít chưa? Ông có tin vào sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, một giai cấp lúc đó còn hết sức nhỏ bé về số lượng ở Đông Dương? Ông có tin vào học thuyết đấu tranh giai cấp và sự cần thiết phải xây dựng một nền chuyên chính vô sản hay chưa? Tại sao lúc nào ông cũng chỉ tập trung vào vấn đề thuộc địa, đặt nó lên trên tất cả các vấn đề khác?

“Ông tin vào lời kêu gọi “vô sản toàn thế giới liên hiệp lại”, bởi đối với ông, việc giải phóng đất nước bị chinh phục chỉ có thể tiến hành bằng bạo lực chứ không thể bằng những cải cách rụt rè. Vậy, cần làm rõ: sự lựa chọn đó xuất phát từ niềm tin trong hệ tư tưỏng, từ sự ngả theo hệ lý luận mácxit một cách sâu sắc hay chỉ là từ một nhu cầu thực tế? Nếu cách xử sự của Pháp khác đi thì phải chăng Người vẫn chỉ có một sự lựa chọn đó?”[1].

Alain Ruscio trong bài “Chân dung một người bônsêvich vàng”[2] cũng nêu một câu hỏi: Nguyễn Ái Quốc có thật sự muốn trở thành một đảng viên Xã hội không? Để trả lời, ông dẫn Trần Dân Tiên : Tôi vào Đảng Xã hội Pháp “ chỉ vì đấy là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Theo Ruscio, nghiã là Nguyễn Ái Quốc chỉ nhắc đến lý tưởng cộng hoà Pháp chứ không phải đến truyền thống chủ nghĩa xã hội Pháp hay Cách mạng tháng Mười Nga? Tác phẩm chính trị đầu tiên mà Nguyễn dịch ra tiếng Việt không phải là“Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” của Mác – Enghen hay “Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” của Lênin, mà là “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu!

Cũng theo Ruscio, nguờì ta không tìm thấy một dấu hiệu nào cho biết dự kiến chính trị của Nguyễn Ái Quốc vào thời đó rằng sau khi giành được độc lập sẽ xây dựng An Nam thành một nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa!

Pierre Brocheux, một sử gia Pháp đã hơn 50 năm nghiên cứu về Hồ Chí Minh, lại đưa ra một nhận định: “Hồ Chí Minh là một người theo đạo Khổng, ông ưa các giải pháp ôn hoà hơn là cực đoan”. Hồ Chí Minh đã lên án các cuộc đánh người, giết người trong Cải Cách Ruộng Đất, và gọi như thế là hành xử theo lối bọn đế quốc, là hành vi tội phạm, là tội ác!

Theo Brocheux, Hồ Chí Minh có một lần viết về vụ Trăm hoa đua nở ở Trung Quốc, có gọi các nhà văn – như Đinh Linh – là phái hữu; nhưng ông không hề nhắc tới tên của bất cứ văn nghệ sĩ, trí thức nào của Viêt Nam.[3]

GS Nhật Bản Yoshiharu Tsuboi (Đại học Waseda) trong tham luận tại Hội thảo Việt Nam học lần thứ ba, nêu vấn đề: “Có lẽ giá trị mà Hồ Chí Minh coi trọng nhất trong suốt cuộc đời mình là những giá trị của nền cộng hoà mà cơ sở lý luận của nó là Tự do, Bình đẳng, Bác ái”.Theo ông, tinh thần cộng hoà Pháp mang tính lý tưởng rất cao, nó không quan tâm đến con người đó là ai, sinh ra ở đâu, trong gia đình, dòng họ nào,…vấn đề quan trọng là giá trị của bản thân con người đó có đủ khả năng suy nghĩ một cách lý tính hay không?

Nền cộng hoà được xây dựng bởi những cá nhân, theo quan điểm giá trị mới về con người, rất khác với quan niệm của Nho giáo. Hồ Chí Minh là nhà chính trị duy nhất ở châu Á đã nhận thức được một cách đúng đắn tinh thần của nền cộng hòa Pháp và đã cố gắng đưa nó vào Việt Nam. Khi đã trở thành người cộng sản, Hồ Chí Minh vẫn ưu tiên đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho mục tiêu Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Ông phân tich:

– Độc lập mà Hồ Chí Minh muốn là một nhà nước có chủ quyền, theo quan niệm cận đại, xây dựng một chế độ Dân chủ Cộng hòa, xây dựng con người mới gánh vác công việc quốc gia.

– Tự do không đơn thuần chỉ là quyền tự do định đoạt chính sách đối nội, đối ngoại của một nhà nước độc lập, mà là quyền tự do của mỗi người dân được hưởng với khả năng và trách nhiệm của mình, của một chủ thể xây dựng nền cộng hòa.

– Hạnh phúc nghĩa là mỗi người đều có quyền mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình và phải biết chủ động tích cực đấu tranh để giành lấy hạnh phúc.

Như vậy, theo ông về mặt này, ông Hồ không phải là người cộng sản chính thống theo quan điểm Mác –Lênin. Cho nên, nếu chỉ lấy ý thức hệ Mác-Lênin để lý giải cụ Hồ là không đầy đủ, do còn thiếu cái nền văn hoá – tư tưởng phương Tây, do không nắm được “tinh thần cộng hoà”, mà vẫn đóng khung trong cách nhìn “đấu tranh giai cấp”. Bản thân ông Hồ, để nhận viện trợ của phe xã hội chủ nghĩa cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, ông đã phải phát ngôn và hành động như một người cộng sản, đó là do thúc ép của hoàn cảnh lịch sử, mà ông không có sự lựa chọn nào khác!

Ngoài ra, có một vài học giả Việt Nam, gần đây cũng đưa ra những nhận định riêng của mình về Hồ Chí Minh . Có người cho rằng Hồ Chí Minh chỉ khoác áo cộng sản chứ không phải là người cộng sản, ông là người xã hội dân chủ từ gốc rễ.

GS Hoàng Ngọc Hiến, phát biểu trong một hội thảo, cho rằng sự tiếp nhận chủ nghĩa Mác ở Hồ Chí Minh là một quá trình, phải nghiên cứu quá trình đó để xem Hồ Chí Minh đã tiếp biến chủ nghĩa Mác như thế nào? Theo GS Hiến, Nguyễn Ái Quốc từng ở chung với Phan Văn Trường khoảng 6 tháng, đó là Trường Đại học của Cụ Hồ! mà ông Trường lại là một người xã hội từ đầu đến chân! Tuy không nói thẳng ra, nhưng người nghe đều hiểu ý của ông: Hồ Chí Minh là một người xã hội dân chủ hơn là một người cộng sản.

Còn có thể dẫn thêm một vài ý kiến khác nữa, nhưng trên đây là mấy lập luận tiêu biểu. Vậy Hồ Chí Minh là ai? Cộng sản hay Dân tộc? người yêu nước hay chiến sĩ quốc tế? Cộng hòa, Cộng sản hay Xã hội dân chủ? Theo chủ nghĩa Mác hay theo đạo Khổng, v.v..

II. Thử tìm lời giải cho câu hỏi: Cụ Hồ là ai ?

Để trả lời câu hỏi này một cách rõ ràng, theo tôi, không thể chỉ dựa vào một, hai yếu tố nào đó một cách tách biệt để lập luận, lý giải, rồi khẳng định Cụ Hồ là ai. Theo thiển ý, phải đặt mỗi yếu tố đó trong tổng thể cuộc đời Hồ Chí Minh, nhân cách Hồ Chí Minh, văn hoá Hồ Chí Minh, phương pháp hành xử Hồ Chí Minh,…mới hiểu đúng được thực chất con người Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Một nhà báo Mỹ, từ rất sớm đã đưa ra nhận xét: “Hồ Chí Minh là một trong số những nhân vật lạ lùng nhất của thời đại chúng ta: một chút Gandhi, một chút Lênin,…nhưng hoàn toàn Việt Nam”[4]. Đây là một gợi ý cần được tham khảo.

Hồ Chí Minh là người Việt Nam nhất trong những người Việt Nam, là sự kết tinh những giá trị tiêu biểu nhất của văn hoá – lịch sử – đất nước và con người Việt Nam. Do đó, muốn hiểu được Hồ Chí Minh, phải bắt đầu từ hiểu văn hoá và con người Việt Nam.

Đó là một nền văn hoá khoan dung, cởi mở, có khả năng dung hoá, tích hợp những yếu tố tích cực, tiến bộ từ ngoài vào, không chút hẹp hòi, kỳ thị, miễn là nó không đi ngược lại với bản chất nhân văn của văn hoá Việt Nam. Vì vậy, văn hoá Việt Nam sớm có hiện tượng “tam giáo đồng nguyên”. Con người nông dân Việt Nam ngày xưa vốn rất thực tế, họ có thể vừa thờ Thần, thờ Phật lại vừa thờ cả ma quỷ (thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề), không hoàn toàn tin, nhưng để nó không trở thành kẻ thù của mình, không làm hại mình, đơn giản vậy thôi. Cũng nên coi đó là một nét khôn ngoan trong phương pháp xử thế của người Việt xưa mà ta cần xem xét.

Khi còn ở trong nước, Nuyễn Tất Thành đã được hấp thụ một nền Quốc học và Khổng học khá cơ bản, đủ sức tạo cho anh một bản lĩnh văn hoá vững vàng để có thể “hòa nhi bất đồng”.

Ra nước ngoài, anh Thành có điều kiện đi nhiều, hiểu rộng, biết nhiều ngoại ngữ, đến được nhiều nước, làm nhiều nghề, tiếp xúc với nhiều vĩ nhân,…nghĩa là có cơ hội tiếp xúc với nhiều nền văn hoá, gia nhập nhiều tổ chức, vào nhiều hội, đoàn (Công đoàn lao động hải ngoại ở Anh, các Hội du lịch, Hội nghệ thuật và khoa học, Câu lạc bộ Faubourg ở Pháp, Đảng Xã hội. Sau khi đã vào Đảng Cộng sản rồi, vẫn tham gia Hội Nhân quyền, rồi cả Hội Tam điểm, đến với chủ nghĩa Mác rồi vẫn đến với chủ nghĩa Tôn Dật Tiên,…) để học cách tổ chức, khảo sát các cơ chế chính trị – xã hội,…nhằm chắt lọc lấy cái hay, cái tốt, cái thích hợp, phục vụ cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc và xây dựng nước Việt Nam độc lập trong tương lai.

Do vậy, Hồ Chí Minh được coi là biểu tượng của sự tích hợp văn hoá Đông-Tây. Nói tích hợp nghĩa là biết tiếp thu có chọn lọc những giá trị từ bên ngoài nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng bên cạnh sự thâu hoá những giá trị chung của nhân loại. Cho nên không có gì lạ khi thấy trong văn hoá Hồ Chí Minh chứa đựng những yếu tố tích cực của tinh thần cộng hoà Pháp, dân chủ và nhân quyền Mỹ, tinh thần trọng đạo đức của Khổng giáo, đức từ bi, cứu khổ, cứu nạn của Phật, lòng nhân ái của Chúa, phép biện chứng của Mác, tinh thần cách mạng của Lênin, chủ thuyết Tam Dân của Tôn Dật Tiên, v.v..mà vẫn hoàn toàn Việt Nam. Như ta đã thấy: khi còn ở Pháp hay Nga, Nguyễn Ái Quốc có thể mặc Âu phục, đội mũ phớt, thắt cravate, viết báo, đọc diễn văn với một văn phong rất “Tây”, nhưng khi về Trung Quốc lại giản dị trong bộ quân phục Bát lộ quân; sang Thái Lan, ở chùa, khoác áo cà sa; về đến Chỉ Thôn (Vân Nam) lại sẵn sàng viết và đọc văn tế cầu hồn cho những kiều bào ta bị bom Nhật sát hại:

Nam mô bồ tát đế tôn,
Tiếp dẫn linh hồn về Mạc tư khoa
!

Người chiến thắng là người không “chấp nê”, mà có tinh thần “phá chấp”, biết thích ứng trước tình hình thực tế mà không để đánh mất mình – đúng như Hồ Chí Minh đã từng trả lời khi có người hỏi: ông là ai? -Tôi vẫn là tôi ngày trước, một người yêu nước.Vận dụng phương pháp trên vào tìm hiểu Cụ Hồ là ai, chúng tôi thử từng bước lý giải những vấn đề đang đặt ra.

1. Hồ Chí Minh có phải là người suốt đời theo lý tưởng cộng hoà?

Trở lại ý kiến của GS Nhật Bản Tsuboi cho rằng “giá trị mà Hồ Chí Minh coi trọng suốt đời mình là tinh thần cộng hoà, mà cơ sở của nó là Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, liệu có phải hoàn toàn như vậy không?

Đúng là trên hành trình đi ra với văn hoá nhân loại, Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của văn hoá Pháp trước tiên và có lẽ nó cũng để lại những dấu ấn sâu đậm trong nội dung và phong cách văn hoá của Cụ Hồ. Tại Pháp, Hồ Chí Minh đã tiếp thu lý tưởng nhân quyền, dân quyền và pháp quyền của các nhà Khai sáng Pháp, vận dụng nó vào cuộc đấu tranh, phê phán chế độ thực dân, đòi các quyền ấy cho nhân dân các nước thuộc địa. Yêu sách 8 điểm, lời mở đầu Tuyên ngôn Độc lập 1945, bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946,…đều in dấu ảnh hưởng các giá trị của nền cộng hoà Pháp, nó đã trở thành một phần trong mục tiêu mà Hồ Chí Minh theo đuổi – nhưng đó có phải là cái đích duy nhất và mục tiêu cuối cùng của ông hay không, thì vẫn cần phải bàn thêm .

Theo tôi, cái giá trị lớn nhất mà Hồ Chí Minh theo đuổi suốt đời, như chính Người đã tuyên bố là “Độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi, đó là tất cả những gì tôi muốn, đó là tất cả những gì tôi hiểu”. Điều quan trọng ấy rất tiếc lại không có trong bảng giá trị của nền cộng hoà Pháp. Đó cũng là điều mà trong khi đàm phán, tranh luận với chính giới Pháp năm 1946, Cụ đã chủ động bổ sung vào. Hồ Chí Minh có lần nói: “Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức: Tự do, Bình đẳng, Bác ái, Độc lập”[5]. Thêm Độc lập vào để ràng buộc họ: “Nước Pháp muốn độc lập, không có lý gì lại muốn nước Việt Nam không độc lập?”

GS Tsuboi đã lý giải khẩu hiệu Tự do, Bình đẳng, Bác ái rất đúng với tinh thần phương Tây, nhưng lại không thật đúng theo quan niệm của Hồ Chí Minh.

Tự do theo tinh thần cộng hoà Pháp trước hết là tự do cá nhân, vì tiền đề của nền cộng hòa Pháp được xây dựng trên quan điểm giá trị về con người cá nhân, nhất là quyền tự do cá nhân.

Còn Hồ Chí Minh, trước hết vẫn là sản phẩm của nền văn hoá Việt Nam, văn hoá Phương Đông, vốn đề cao tinh thần cộng đồng, luôn đặt quốc gia, dân tộc lên trên cá nhân. Tự do theo tinh thần Hồ Chí Minh trước hết vẫn là tự do của toàn dân tộc chứ chưa phải là tự do cá nhân, là giải phóng cho dân tộc thoát khỏi ách nô lệ thực dân, được làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình (chứ chưa lấy giải phóng tự do cá nhân làm mục tiêu).

Bình đẳng hiểu theo tinh thần cộng hoà là chống lại mọi sự phân biệt đối xử về dân tộc, màu da, giới tinh,…Mỗi cá nhân sinh ra đều có giá trị như nhau, như Tuyên ngôn Độc lập 1776 của nước Mỹ mà Hồ Chí Minh đã trích dẫn: ‘Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng” và coi đó là quyền tự nhiên của con người: bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi, về nhân phẩm, về cơ hội, nhất là bình đẳng trước pháp luật.

Bình đẳng là một khái niệm không xa lạ với Hồ Chí Minh vì nó vốn là một lý tưởng, một ước mơ ngàn đời của nhân dân lao động Việt Nam về một xã hội công bằng, không còn áp bức bất công, không còn cách biệt giầu, nghèo…

Tuy nhiên, quan niệm của Hồ Chí Minh về bình đẳng cũng có nội dung khác với phương Tây: nếu tinh thần cộng hoà coi trọng quyền bình đẳng giữa các cá nhân thì Hồ Chí Minh lại nâng nó lên thành quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Từ Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, Hồ Chí Minh suy ra: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Bác ái (fraternité: có lẽ phải dịch là Hữu ái mới phù hợp, vì gốc của nó là từ frère, fraternel, nghĩa là tình anh em, tình đồng đội. Bác ái (philanthropie) có nghĩa quá rộng, nó đòi hỏi một tình cảm xuyên dân tộc, xuyên giai cấp, theo kiểu thuyết kiêm ái của Mặc tử, hay lòng bác ái của Chúa : phải yêu cả kẻ thù của mình!).

Hữu ái gần với Hồ Chí Minh hơn, ông vốn từng là môn đệ của Khổng giáo, sớm thấm nhuần tinh thần “tứ hải giai huynh đệ”, nên Hồ Chí Minh thường quen gọi những ngưòi lao động, các dân tộc bị áp bức là anh em. (hỡi anh em ở các thuộc địa!, các dân tộc anh em, các nước anh em, vừa là đồng chí, vừa là anh em,…)

Tóm lại, Hồ Chí Minh nhận thức Tự do, Bình đẳng, Bác ái qua lăng kính của người dân bị áp bức châu Á chứ không theo tinh thần cách mạng tư sản Pháp, nên ông chỉ coi đó là những yếu tố cần chứ chưa đủ. Vì vậy, không thể coi những giá trị của nền cộng hoà Pháp là mục tiêu theo đuổi suốt đời của Hồ Chí Minh .

2. Hồ Chí Minh có phải chỉ thuần túy là người theo chủ nghĩa dân tộc?

a. Hồ Chí Minh trước hết là một người yêu nước nồng nhiệt

Điều này đã được khẳng định trong danh xưng của Cụ: Hồ Chí Minh trước sau vẫn là Nguyễn Ái Quốc= một người yêu nước. Năm 1960, vào lúc thịnh thời của chủ nghĩa xã hội, trong bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin”, Hồ Chí Minh đã viết: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế Thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa Xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

Như vậy, Cụ Hồ đã nói rõ về con đường cách mạng của mình là từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Do đó, trả lời câu hỏi Cụ Hồ là ai, phải nhận thức được sứ mệnh kép đó, chứ không nên tách bạch một cách cực đoan, siêu hình: hoặc chỉ là người này (theo chủ nghĩa dân tộc) hoặc chỉ là người kia (theo chủ nghĩa quốc tế), chỉ là người mácxit hay chỉ là người theo đạo Khổng. Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa, nên không thể quy bộ mặt tinh thần của ông vào một dạng đơn nhất nào. Tuy nhiên, trong sự đa dạng đó, vẫn cần thiết phải xác định đâu là mặt chủ thể trong nhân cách của Hồ Chí Minh.

Là người nô lệ mất nước, ra đi tim đường cứu nước, khát vọng cháy bỏng mà chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành mang theo là khát vọng giải phóng dân tộc và canh tân đất nước. Sau này, Hồ Chí Minh đã nói một câu thống thiết: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là lo làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Yêu nước đã trở thành lẽ sống, thành tiêu chuẩn chân lý để ông xét đoán con người và việc đời. Trước sự phân liệt của Đảng Xã hội ở Đại hội Tours, có người hỏi: anh sẽ bỏ phiếu cho Quốc tế nào? -Thế Quốc tế nào bênh vực các dân tộc thuộc địa? Được trả lời là Quốc tế 3, anh quyết định bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế 3. Đó không phải là một quyết định cảm tính, mà là theo lý tưởng, theo mục tiêu cứu nước của anh. Vì sao có thể nói như vậy?

Trong 10 năm đầu, Nguyễn Tất Thành đã đi khắp thế giới, hướng đến mọi chân trời để tìm đường thực hiện lý tưởng, nhưng không có bàn tay thân thiện nào chìa ra với anh, vì vào hai thập niên đầu thế kỷ XX, vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa vẫn còn là một vấn đề quá mới, quá lớn đối với thế giới, ngay Mác và Enghen trước đó cũng chưa đưa ra được câu trả lời thật rõ ràng, còn các Đảng Xã hội Quốc tế 2 lại chưa vượt qua được tâm lý dân tộc hẹp hòi, vì lợi ích quốc gia, họ vẫn ủng hộ chính sách thuộc địa của nhà nước tư bản. Mặt khác, cũng do cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa chưa phát triển mạnh mẽ, thực tiễn thời đại chưa hé ra được lời giải đáp rõ ràng.

Chỉ sau thắng lợi của Cách mạng tháng 10 Nga, với sự thành lập Quốc tế 3 và Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin được công bố, tiếp theo là Đại hội Ba-cu, nêu cao tinh thần đoàn kết anh em giữa các dân tộc phương Đông với giai cấp vô sản phương Tây, rồi cùng với kinh nghiệm thực tiễn hoạt động và đấu tranh của bản thân, Nguyễn Ái Quốc mới dần dần đi tới được nhận thức rằng: “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[6]. Do đó, Nguyễn Ái Quốc đã từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa quốc tế.

Tuy nhiên, trong cái song đề đó, vẫn phải thấy mặt chính, mặt chủ thể của nó, đó là mặt nào? Có người nêu thắc mắc: tại sao Nguyễn Ái Quốc lúc nào cũng chỉ đề cập đến vấn đề thuộc địa mà ít hoặc không đề cập đến những vấn đề nóng bỏng khác trong phong trào cộng sản quốc tế lúc bấy giờ, vậy ông là người cộng sản theo chủ nghĩa quốc tế hay thuần túy chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc?

Thử hỏi, một người dân mất nước, đang đi tìm đường cứu nước làm sao lại không nói nhiều về vấn đề thuộc địa khi từng ngày, từng giờ chủ nghĩa thực dân đang gieo tai họa, đau khổ lên cuộc sống của đồng bào mình, tại sao lại không đề cao chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, vốn là “động lực vĩ đại và duy nhất” của họ?

Hãy nghe ý kiến của một người cộng sản phương Tây, ông Ch. Fourniau: “Vấn đề duy nhất đặt ra là cần hiểu rõ tại sao và như thế nào mà một người dân thuộc địa tất nhiên phải theo chủ nghĩa dân tộc? và tại sao lại tìm được ở chủ nghĩa cộng sản như là con đường duy nhất để thực hiện độc lập cho Tổ quốc mình?”[7]Tất nhiên, chủ nghĩa dân tộc và “dân tộc chủ nghĩa” là hai khái niệm khác nhau. J. Jaurès – lãnh tụ hàng đầu của Đảng Xã hội Pháp, từng nói đại ý: Một ít chủ nghĩa yêu nước thì đưa ta xa rời chủ nghĩa quốc tế, rất nhiều chủ nghĩa yêu nước thì đưa ta vào trung tâm của chủ nghĩa quốc tế. Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh chinh là biểu tượng cao đẹp của tinh thần đó.

b. Hồ Chí Minh đồng thời là một chiến sĩ quốc tế trong sáng

Từ người yêu nước trở thành người cộng sản, được tiếp nhận phương pháp làm việc biện chứng, trí tuệ của Nguyễn Ái Quốc được nâng cao thêm, tầm nhìn thời đại được mở rộng hơn, bạn bè, đồng chí trở nên đông đảo hơn, sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế cũng ngày càng to lớn và hiệu quả hơn, triển vọng thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng của Việt Nam cũng trở nên sáng sủa hơn.

Sau khi trở thành người cộng sản, cùng với các thành viên khác gốc thuộc địa, Nguyễn Aí Quốc đã kiến nghị với Đảng Cộng sản Pháp lập ra Ban nghiên cứu Thuộc địa, xuất bản báo Le Paria, tham gia sáng lập Hội liên hiệp Thuộc địa, kiến nghị với báo L’Humanité mở chuyên mục thường xuyên về vấn đề thuộc địa. Tên tuổi Nguyễn Áí Quốc trên các bài báo dần dần trở nên quen thuộc với các dân tộc bị áp bức đang đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân.

Nguyễn Áí Quốc trở thành người cộng sản đồng thời cũng trở thành một chiến sĩ quốc tế chân chính. Ông không chỉ quan tâm đến số phận các dân tộc Đông Dương mà còn quan tâm tới số phận của tất cả những “người cùng khổ” trên trái đất: ủng hộ nền độc lập của nhân dân Airơlen, bênh vực quyền lợi của người Mỹ da đen, lên án tội ác của chủ nghĩa thực dân gây ra ở Đahômây, Angiêri, Mađagaxca,…

Có thể nói, Nguyễn Ái Quốc là người có công lớn trong việc đấu tranh, bảo vệ, phát triển và hiện thực hoá học thuyết Lênin về cách mạng thuộc địa bằng thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tôc của Việt Nam và thắng lợi của phong trào giải phóng dân tôc trên thế giới trong thế kỷ XX.

Chính Đảng Cộng sản Pháp đã đánh giá rất cao những cống hiến của Nguyễn Ái Quốc vào đường lối của Đảng Pháp trong vấn đề thuộc địa: “Nguyễn Ái Quốc đã có đóng góp quan trọng vào việc hình thành truyền thống chống chủ nghĩa thực dân, một truyền thống làm vẻ vang cho Đảng Cộng sản Pháp…Vậy thì hẳn rằng Người phải được coi là một trong những người thầy của Đảng Cộng sản Pháp về những vấn đề thuộc địa”[8].

3. Hồ Chí Minh phải chăng là một người xã hội dân chủ?

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là người yêu nước và chiến sĩ quốc tế, điều đó không ai có thể phủ nhận, nhưng liệu ông có phải là người xã hội dân chủ?

Hiện nay, khi mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ Thụy Điển đang được ca ngợi, có một số người lại cho rằng Hồ Chí Minh không phải là cộng sản, mà về thực chất ông là người xã hội dân chủ từ trong gốc rễ!

a. Trước hết, cần nhìn lại xem có khi nào Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh phủ nhận danh hiệu người cộng sản của mình không?

Trong gần 50 năm làm người cộng sản, khi thuận lợi, lúc khó khăn, dù chi là người thợ ảnh bình thường hay đã là vị chủ tịch nước, khi bị giam hãm chốn ngục tù hay đã lên tới tuyệt đỉnh vinh quang,…Hồ Chí Minh lúc nào cũng tỏ rõ là người cộng sản thuỷ chung, thắng không kiêu, khó không nản, chưa từng thấy khi nào ông phủ nhận danh hiệu cộng sản của mình.

Tháng 8 năm 1944, được Trương Phát Khuê trả lại tự do sau hơn một năm cầm tù, trước khi rời Liễu Châu, Hồ Chí Minh nói thẳng với Trương: “Tôi là một người cộng sản, nhưng điều tôi quan tâm hiện nay là Tự do, Độc lập của Việt Nam chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản. Tôi có một lời đảm bảo đặc biệt với ông rằng: chủ nghĩa cộng sản sẽ chưa được thực hiện ở Việt Nam trong vòng 50 năm tới”[9].

Giữa năm 1946, ở Paris, một nhà báo cánh hữu muốn làm giảm thiện cảm của những người Pháp không ưa chủ nghĩa cộng sản đối với Hồ Chí Minh, đã đưa ra một câu hỏi: “Thưa Chủ tịch, Ngài có phải là cộng sản không?”, Chủ tịch Hồ Chí Minh bình thản đi tới lẵng hoa bày trên bàn, rút ra từng bông lần lượt đem tặng cho những người có mặt, trước hết là cho chị em phụ nữ, và nói rằng: “Tôi là người cộng sản như thế này này”(Je suis communiste comme ça!). Hồ Chí Minh hiểu thâm ý của nhà báo Pháp khi đưa ra câu hỏi không thân thiện nói trên, nghĩa là muốn mượn hình ảnh người cộng sản đang bị bêu xấu trong các tấm áp phich xuất hiện trên đường phố Paris thời bấy giờ để hạ uy tín của Hồ Chí Minh. Nhưng cử chỉ văn hoá trang nhã, lịch thiệp của ông đã cho các quan khách thấy hình ảnh một người cộng sản khác- một người cộng sản Việt Nam lịch thiệp, nhân ái, nhân văn.

Trước khi qua đời, Người đã dặn lại trong Di Chúc một điều có liên quan đến trách nhiệm đảng viên cộng sản của mình: “Đảng ta là đảng cầm quyền,…phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Hồ Chí Minh đi theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng hiểu rất rõ việc thực hiện lý tưởng cộng sản là một quá trình lịch sử lâu dài, chỉ khi nào đạt tới trình độ phát triển rất cao về kinh tế, văn hóa, xã hội và con người mới có điều kiện thực hiện. Đối với Việt Nam, Người khẳng định lý tưởng đó còn quá xa, chưa thể thực hiện được trong vòng 50 năm tới; còn đối với thế giới, thì Người cũng nói khi trả lời các nhà báo Pháp năm 1946 tại Paris, qua một sự so sánh: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác. Cách đây 2000 năm, Đức chúa Giêxu đã nói là chúng ta phải yêu mến các kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được. Còn đến bao giờ chủ nghĩa Các Mác thực hiện thì tôi không thể trả lời được”.[10] Như đã thấy: Hồ Chí Minh là một nhà chính trị tỉnh táo và trung thực.

b. Vậy Hồ Chí Minh là ai?

Cần thấy rằng con đường cách mạng của Nguyễn Tất Thành khi ở Pháp đã phát triển qua nhiều chặng. Khi mới chân ướt chân ráo tới Paris cuối năm 1911, trung thành với chiến lược canh tân của Phan Châu Trinh (có thể có sự gợi ý và giúp đỡ của cụ Phan), anh Thành đã viết đơn xin vào Trường Thuộc địa với hy vọng tranh thủ nâng cao học vấn để trở về giúp đồng bào. Năm 1919, cùng với Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường, anh đưa Yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Hòa bình Versailles, thí điểm dùng luật pháp tư sản và biện pháp kiến nghị hòa bình để đòi các quyền dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam. Chắc không ai cho anh là người theo chủ nghĩa cải lương!

Trước khi trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã từng tham gia Đảng Xã hội Pháp Quốc Tế 2. Dù đã có cuộc chia tay ở Đại hội Tours, ông vẫn duy trì quan hệ tốt đẹp với nhiều lãnh tụ và đảng viên Xã hội – những người một thời đã dìu dắt, giúp đỡ ông trong buổi đầu chập chững khi ông mới bước vào hoạt động chính trị trên đất Pháp. Chắc cũng không ai vì điều này mà cho ông là người xã hội dân chủ từ gốc rễ?

Hay là, do cách ứng xử ôn hòa của ông: biết tiến biết lui, biết liên minh, đối thoại, kiên trì giải pháp hòa bình trong nhiều vấn đề quốc gia và quốc tế, mà có thể khiến người ta nhìn nhận ông như là một người xã hội dân chủ chăng?

Giải đáp vấn đề này, cần nhắc lại một nguyên lý đơn giản: Chủ nghĩa Mác-Lênin, cũng như mọi chủ thuyết chính trị hay tôn giáo khác, như Phật giáo, Nho giáo khi được du nhập vào Việt Nam, ít nhiều cũng bị khúc xạ bởi truyền thống văn hoá, tư tưởng, đạo đức, lối sống ,…của dân tộc Việt Nam – một dân tộc có truyền thống nghìn năm văn hiến.

Gia nhập hàng ngũ mácxít, đương nhiên Nguyễn Ái Quốc chấp nhận học thuyết đấu tranh giai cấp của Mác. Nhưng xuất phát từ thực tế xã hội và văn hoá truyền thống Việt Nam, ông không coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất, càng không tuyệt đối hoá nó, mà có sự điều chỉnh cho phù hợp với thực tế Việt Nam. Lý luận Mác-Lênin nhấn mạnh đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, nhưng Nguyễn Ái Quốc lại cho rằng: “Cuộc đấu tranh giai cấp (ở Việt Nam) không diễn ra giống như ở phương Tây”.“Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước…Người ta không thể làm gì được cho người An Nam nếu như không dựa trên cái động lực vĩ đại và duy nhất trong đời sống xã hội của họ”[11]. Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đã có lần phê phán những biểu hiện giáo điều, tả khuynh của một số người mới từ nước ngoài về: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng đề ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”[12]. “Trong lúc cần toàn dân đoàn kết mà chủ trương giai cấp đấu tranh là một điều ngu ngốc”[13]. Về chính quyền, Hồ Chí Minh không tuyên bố xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản mà chủ trương thành lập nhà nước dân chủ cộng hòa, tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân.

Là người cộng sản, đương nhiên về nguyên tắc, Hồ Chí Minh thừa nhận học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Nhưng khi Nguyễn Ái Quốc bước vào hoạt động chính trị đầu thập niên 20 thế kỷ trước, thì giai cấp công nhân Việt Nam mới đang trên đường hình thành, số lượng còn nhỏ bé, càng chưa thể có giai cấp công nhân công nghiệp và cũng chưa thực sự xuất hiện trên vũ đài lịch sử như một lực lượng chính trị. Khi đó, Nguyễn Ái Quốc đã từng viết một số bài về phong trào công nhân Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ,…mà chưa có điều kiện bàn nhiều về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam khi nó chưa thật sự trưởng thành. Từ sau cách mạng tháng Tám, rồi bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, thì Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo thì kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công”[14].

Những điều trình bày trên cho thấy Hồ Chí Minh hoàn toàn không có gì giống với các quan điểm cơ bản của chủ nghia xã hội dân chủ. Ông không phủ nhận đấu tranh giai cấp để đi vào con đường thoả hiệp với kẻ thù ; không từ bỏ con đường đấu tranh cách mạng để chấp nhận những cải cách bố thí nhỏ giọt của đế quốc, thực dân ; càng không tin rằng vận mệnh của Tổ quốc, tự do của nhân dân có thể giành lại chỉ bằng con đường đấu tranh nghị trường, v.v. vốn là những quan điểm đặc trưng của những người xã hội dân chủ. Chính vì bất mãn với thái độ của các lãnh tụ Đảng Xã hội Pháp trong vấn đề thuộc địa: “Đề ra những luận cương dài dằng dặc và thông qua những nghị quyết rất kêu để sau Đại hội đưa vào viện bảo tàng”[15], nên Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc Tế 3, trở thành người chiến sĩ quốc tế nồng nhiệt, đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập của dân tộc mình và cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa.

Đó là so sánh trên những điều thuộc về nguyên tắc, còn cung bực uyển chuyển trong xử lý mỗi sự việc cụ thể là thuộc về sách lược, nó phụ thuộc vào phong cách, khí chất của mỗi con người, vào nền tảng văn hóa của họ.

Nhưng điều quan trọng không phải là lý giải xem Hồ Chí Minh là Xã hội Dân chủ hay Cộng sản, mà vấn đề cơ bản cần làm rõ: Ông là người cộng sản như thế nào? Bởi trong những lãnh tụ cộng sản, có người chuyên quyền, độc đoán, giáo điều, cơ hội “tả” khuynh,…lại cũng có những người như Antonio Gramsci, lãnh tụ Đảng Cộng sản Italia, chủ trương thay thế khái niệm “chuyên chính vô sản”(dictature du prolétariat) bằng khái niệm “bá quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản” (hégémonie du prolétariat), nhấn mạnh vai trò chỉ đạo của trí tuệ và đạo đức hơn là bằng quyền lực nhà nước; hoặc như Rosa Luxemburg – lãnh tụ Đảng Cộng sản Đức, bà cho rằng “chế độ tập trung dân chủ là tập trung quyền lực vào một nhóm người, còn các tổ chức khác chỉ là công cụ chấp hành của Trung Ương mà thôi”; theo bà, cải lương cũng là sản phẩm của cách mạng, lựa chọn cải lương hay bạo lực là tùy tình thế cách mạng, còn bạo lực chỉ là giải pháp cuối cùng, nó là con dao hai lưỡi, rất khó sử dụng,…

Đó là nói những lãnh tụ cộng sản chưa cầm quyền. Hồ Chí Minh là một lãnh tụ đã cầm quyền suốt 24 năm, nhưng trước sau vẫn nhất quán là người cộng sản yêu nước, thương dân, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và dân tộc lên trên lợi ích giai cấp và bộ phận, suốt đời tận tụy, khắc khổ nêu tấm gương về người lãnh đạo – người đày tớ thật trung thành của nhân dân; trong sạch, liêm khiết, đi tiên phong đấu tranh chống hủ bại: tham ô, lãng phi, quan liêu trong điều kiện cầm quyền. Hồ Chí Minh là biểu tượng của người cộng sản cầm quyền theo chính trị “vương đạo”: lãnh đạo bằng thuyết phục và nêu gương, luôn nêu cao trí tuệ, đạo đức, dân chủ, coi dân là chủ, lấy lợi ích và nguyện vọng của dân làm gốc. Cụ là người rất “trí thức” nên biết quý trọng trí thức, tin dùng người tài, không gợn một chút “kiêu ngạo cộng sản” nào. Cụ thường nói: “Cách mạng rất cần trí thức và thực ra chỉ có cách mạng mới biết trọng trí thức…Không có trí thức tham gia, công việc của cách mạng khó khăn thêm nhiều”[16]. Nhân cách của Cụ tỏa ra sức hấp dẫn đặc biệt đối với trí thức thuộc nhiều xu hướng, cả trong Nam ngoài Bắc lẫn trí thức Việt kiều, lôi cuốn được hầu hết những trí thức lớn của đất nước đi vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc; ai chưa kịp đến với Cụ thì cũng không khi nào chống lại Cụ cả. Đó là “chìa khóa” đã giúp Hồ Chí Minh thành công. Học tập và làm theo Hồ Chí Minh là phải phấn đấu thực hiện bằng được những điều đó. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhưng Hồ Chí Minh lại là một minh chứng hùng hồn về vai trò của vĩ nhân trong lịch sử. Không có Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng khó có thể sớm giành được bá quyền lãnh đạo của mình ngay từ sau năm 1945.

Tuy nhiên, cũng không thể quy những phẩm chất nói trên của Hồ Chí Minh chỉ do ông là môn đồ của Khổng giáo. Không ai phủ nhận: xuất thân từ một gia đình nhà nho, từ nhỏ Nguyễn Tất Thành đã thấm nhuần nhiều mệnh đề Nho giáo có giá trị chỉ đạo nhận thức thế giới và xử lý các vấn đề xã hội-nhân sinh, (ví như đạo “Trung Thứ”của Khổng-Mạnh: suy từ lòng mình để hiểu được lòng người, làm chính trị như thế có thể đạt tới điều “nhân”). Nhưng ảnh hưởng của Khổng giáo chỉ là một phần thôi, cái gốc làm nên nhân cách chính trị Hồ Chí Minh chính là văn hóa Việt Nam, mà hạt nhân của nó là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân ái và chủ nghĩa cộng đồng Việt Nam – được hình thành lâu đời từ trong quá trình dựng nước và giữ nước.

c. Hồ Chí Minh không phải là người cộng sản giáo điều mà là người cộng sản nhân văn, có tư duy độc lập, sáng tạo, một nhà chính trị có đầu óc thực tế.

Chỉ mới hơn một năm sống ở Maxkva, Nguyễn Áí Quốc đã đưa ra một luận điểm mà nhiều nhà cách mạng thế giới phải suy nghĩ: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết học nhất định của lịch sử. Nhưng lịch sử nào?-Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gi? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”[17] – (một phản ứng rất tinh, rất sớm với thuyết “Dĩ Âu vi trung” đang thịnh hành ở châu Âu lúc bấy giờ).

Nguyễn Ái Quốc đã xuất phát từ truyền thống văn hoá Việt Nam để nhận thức và vận dụng chủ nghĩa Mác. Ông là người cộng sản đầu tiên nhận ra và đánh giá cao tiềm lực của cách mạng thuộc địa ở Phương Đông. Trong lúc các đảng Cộng sản theo Quốc Tế 3 cho rằng: vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa chỉ có thể được giải quyết khi nào cách mạng vô sản giành được thắng lợi ở phương Tây. Cả Mác – Enghen, rồi Lênin cũng chưa nghĩ đến khả năng các dân tộc thuộc địa có thể tự giải phóng mình ngay giữa vòng vây của chủ nghĩa đế quốc.

Thế mà Nguyễn Ái Quốc lại “cả gan” đưa ra một luận điểm trái ngược, “phi kinh điển”, so với các quan niệm trên! Từ sự phân tích những điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội…của châu Á (chế độ ruộng công, thuyết bình đẳng về tài sản, chế độ giáo dục và lao động cưỡng bức đối với người lớn, chế độ phúc lợi cho người già, tư tưởng “dân vi quý”, sự lên án nghiêm khắc thói ăn bám,…), Nguyễn Ái Quốc đưa ra nhận định: “chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á hơn là ở châu Âu”, nghĩa là cách mạng thuộc địa theo đường lối vô sản có thể nổ ra ở châu Á, nếu “chúng ta có nhiệt tình tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và thực tâm muốn giúp đỡ những người lao động lật đổ ách của những kẻ bóc lột” thì họ sẽ trở thành một lực lượng khổng lồ “và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc” họ còn “có thể giúp đỡ những người anh em ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”[18]. Đó quả thật là một luận điểm táo bạo, mới mẻ, lạ lùng nữa, trước đó chưa có ai nhìn ra và chưa ai dám khẳng định mạnh mẽ như thế !

Nhìn vào những đặc điểm của văn hoá chính trị Hồ Chí Minh, chúng ta đều nhận thấy đó chính là sản phẩm của văn hoá chính trị Việt Nam, phản ánh những giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam. Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, thông qua Hồ Chí Minh, cũng được lọc qua hệ giá trị đó. Khi Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. “Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tinh, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được” – thì đó chỉ là mượn danh nghĩa Mác-Lênin để truyền đạt tinh thần nhân văn – nhân nghĩa của văn hóa Việt Nam mà thôi!

III. Kết luận

Nêu lại luận đề “Cụ Hồ là ai” để trao đổi, chúng tôi chỉ muốn góp thêm một vài ý kiến để cùng tham khảo, vì hiểu rằng Hồ Chí Minh dù là dân tộc hay quốc tế, cộng hòa hay cộng sản, xã hội dân chủ hay Khổng giáo,…đối với các học giả nói trên, đều không quan trọng. Mỗi người từ chỗ đứng của mình, rọi một cái nhìn để giúp hiểu được tính đa dạng, phong phú cuả một vĩ nhân. Vĩ nhân nào cũng đều là sản phẩm của những điều kiện lịch sử- xã hội nhất định, sở dĩ họ là vĩ nhân vì họ đã vượt lên được những hạn chế của hoàn cảnh để trở thành người đi tiên phong trong thời đại của mình. Ở một vĩ nhân như Hồ Chí Minh lại càng như vậy. Trên hành trình 30 năm tìm đường, Cụ đã đến nhiều nước, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, đã tìm hiểu nhiều chủ thuyết, tự coi mình là học trò nhỏ của nhiều ông thày lớn, nhưng Cụ biết chọn lọc để chỉ học lấy những “cái cần thiết cho chúng ta”, phục vụ cho “con đường giải phóng chúng ta”[19] phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc, chứ không hề “tiếp thu cả gói” một cách giáo điều. Trong những hoàn cảnh bị o ép khắc nghiệt, Cụ vẫn giữ được bản lĩnh, bản sắc của một nhà chính trị tầm vóc, không bị bào mòn, hòa tan, không đầu hàng, khuất phục. Cụ đã nêu tấm gương bất khuất của một dân tộc nhỏ trước những cường quốc lớn, ngay cả trong vấn đề tiếp nhận văn hóa và tư tưởng.

Vậy cuối cùng, Cụ Hồ là ai? Theo Voltaire, “nhà chính trị thực sự xứng đáng với tên gọi này là người “biết chơi” và dần dà là người chiến thắng”. Theo tôi, Cụ Hồ là nhà chính trị “biết chơi”, biết khéo tận dụng mọi cơ hội và phương tiện để thực hiện mục tiêu đấu tranh của dân tộc. Cụ là người chiến thắng, vì nền tảng văn hóa của Cụ sâu rộng, lý tưởng của Cụ cao cả, phẩm cách của Cụ trong sáng, phương pháp tư duy của Cụ uyển chuyển, biết linh hoạt ứng biến trước mọi hoàn cảnh, như Cụ thường nói “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, khi “tình hình, nhiệm vụ đã thay đổi,… chính sách và khẩu hiệu cũng phải thay đổi cho hợp với tình hình mới”[20].Vì vậy, Cụ được thừa nhận là biểu tượng cho khát vọng Độc lập, Tự do, Lương tâm và Trí tuệ của các dân tộc bị áp bức; được Tạp chí Time của Mỹ tổ chức bầu chọn vào danh sách 20 nhà lãnh đạo có uy tín hàng đầu trong tổng số 100 nhân vật được bầu chọn là những người nổi tiếng nhất thế giới trong thế kỷ XX[21]. Về phần Cụ, sứ mệnh đã hoàn thành. Trong 80 năm mất nước, bị nô lệ, có biết bao cuộc đấu tranh anh hùng đã diễn ra, song tất cả đều thất bại; với Cụ, ta đã có “một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất”; còn “dân chủ, giàu mạnh và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới” sẽ được thực hiện ra sao, đó là trách nhiệm của thế hệ lãnh đạo hôm nay, của những người được coi là kế tục Cụ; nhưng để được như vậy, không chỉ nhân danh Cụ mà cần ra sức học tập, thành tâm noi theo Cụ, cả về Tâm, Đức, Trí và Hành ./.

Chú thích

[1] Thu Trang-Gaspard: Hô Chi Minh à Paris (1917-1923). Preface de Ph. Devillers, p.13.

[2] Alain Ruscio: Nguyen Ai Quoc-Ho ChiMinh : Portrait d’un “Bolchevik jaune”, Revue Communisme No 28, 4 me Trimestre 1990.

[3].Bài nói chuyện của Pierre Brocheux tại Toronto-Canada ngày 29-10-2003 về cuốn sách của ông: “Viêt Nam expose and New biography of Ho Chi Minh” .

[4] David Halberstam: “Ho”, Random House, New York, 1971.

[5] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t. 4, tr. 458

[6] Luận đè này đến năm 1959 mới được Hồ Chí Minh diễn đạt thành văn, nhưng nó đã là sản phẩm tư duy của Nguyễn Ái Quốc được hình thành từ những điều kiện lịch sử khách quan của những năm 20 TK XX. Cũng có thể xem đó là sự lựa chọn của lịch sử.

[7] “Một nhà yêu nước và một nhà cách mạng mẫu mực”, trong Ho Chi Minh, notre camarade, Ed. Sociales Paris, 1970, p. 21.

[8] Ch. Fourniau : Ho Chi Minh, notre camarade, Ed. Sociales, Paris, 1970, tr. 31.

[9] Hồi ký của Trương Phát Khuê, đăng trên Tuần báo Liên hợp tạp chí ,Hồng Kông, 1962.

[10] Hồ Chí Minh Toàn tập, t,4, tr. 272.

[11] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t. 1, tr. 464, 467.

[12] HCM Toàn tập, t.5, tr.272.

[13] XYZ: Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ban Huấn luyện TƯ xb 1949. (Chưa có trong HCM Toàn tâp xb lần 2).

[14] Hồ Chí Minh Toàn Tập, sdd, t.6,tr. 458.

[15] Hồ Chí Minh Toàn Tập ,sdd, t.1,tr. 281.

[16] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t.7, tr. 33 và t.5, tr.235 .

[17] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t. 1, tr. 465.

[18] Hồ Chí Minh Toàn Tập, sdd , t.1, tr.36.

[19] Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin, HCM Toàn Tập, t. 10, tr. 127.

[20] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t.7, tr. 315.

[21] Chuẩn bị cho thời điểm kết thúc thế kỷ XX, tạo chí Time đã phối hợp với hãng truyền hình CBS, đưa ra bảy triệu phiếu bầu, gửi đi khắp các nước, để bầu chọn lấy 100 nhân vật được coi là có ảnh hưởng lớn nhất, thuộc các lĩnh vực khác nhau, trong thế kỷ XX. Số cuối tháng 12-1999, tạp chí Time đã công bố danh sách 100 nhân vật đó. Hồ Chí Minh nằm trong số 20 nhà lãnh đạo có uy tín lớn nhất, bên cạnh V.I.Lênin, M.Gandhi, W. Churchill, A. Khomeney, N. Mandela cùng nhiều nhân vật nổi danh khác.

Nguồn: viet-studies

DANH NHÂN VIỆT, THUNG DUNG

Đọc và suy ngẫm: Tài năng và đắc dụng


HỌC MỖI NGÀY. Cuốn “Tài năng và đắc dụng” cũng chỉ mang tính cá nhân của hai tác giả chủ biên GS TSKH Nguyễn Hoàng Lương và PGS TS Phạm Hồng Tung. Suy cho cùng, về mặt luật pháp thì họ không sai. Ở nước ngoài, những chuyện như thế này là bình thường. Đây là quyền riêng của họ. Tuy nhiên, cái đáng cần bàn luận là trách nhiệm của họ trước xã hội? GS Ngô Đức Thịnh đã đánh giá như vậy đối với sự khen chê của công luận trước tác phẩm cần tìm đọc này. Lưu lại những lời khen chê để đọc và suy ngẫm (HK).

“TÀI NĂNG VÀ ĐẮC DỤNG”: VÌ SAO CUỐN SÁCH BỊ PHÊ

Báo Lao Động cuối tuần

Mấy ngày nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như trong dư luận dấy lên cuộc bàn luận sôi nổi, phê phán cuốn sách “Tài năng và đắc dụng” – nghiên cứu về một số nhân tài tiêu biểu ở VN và nước ngoài. Cuốn sách do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành, chủ biên là GS – TSKH Nguyễn Hoàng Lương và PGS – TS Phạm Hồng Tung.

Cuốn sách nói trên được giới thiệu như một công trình khoa học về quá trình hình thành và phát triển nhân cách, tài năng, sự nghiệp của 14 nhân tài tiêu biểu trong lịch sử VN và thế giới, thuộc 3 lĩnh vực: Lãnh đạo, quản lý; kinh tế, kinh doanh; khoa học và công nghệ. Phần 1 – Những nhân tài trong lĩnh vực lãnh đạo quản lý – được lựa chọn là: Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Đào Duy Từ, Hồ Chí Minh và Chulalongkorn (Thái Lan). Phần 2 – Các nhân tài trong lĩnh vực khoa học công nghệ, với các nhân vật: Lê Quý Đôn, Trần Văn Giàu, Albert Einstein và Thomas Edison. Phần cuối – Nhân tài trong lĩnh vực kinh tế kinh doanh, với các trường hợp: Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Bạch Thái Bưởi, Đặng Lê Nguyên Vũ và Bill Gates.

NXB Chính trị Quốc gia giới thiệu: Qua nghiên cứu cho thấy họ (các nhân vật được chọn) vốn không được đào tạo để trở thành chiến lược gia kinh tế hay doanh nhân chuyên nghiệp. Điều này xác nhận một thực tế là nhân tài trong lĩnh vực kinh doanh đều có thể hình thành và xuất lộ như là kết quả của quá trình tự học, tự đào tạo… Quan trọng hơn cả là có khát vọng, có ý chí làm giàu, hoài bão lớn lao mang lại lợi ích cho bản thân và cho cộng đồng…

Có nhiều ý kiến bàn luận quanh cuốn sách, nhưng tựu trung cho rằng, việc các tác giả cuốn sách đưa Đặng Lê Nguyên Vũ (SN 1971) đứng chung danh sách với các nhân vật kiệt xuất trong lịch sử VN là không thể chấp nhận. Các ý kiến còn cho rằng phần giới thiệu về Đặng Lê Nguyên Vũ dài 42 trang, trong khi đó nhiều danh nhân nổi tiếng thế giới như Nguyễn Trãi lại chỉ có 10 trang, Trần Quốc Tuấn 15 trang… là hồ đồ!

Quanh vấn đề này, phóng viên Báo Lao Động đã có cuộc trao đổi với GS Ngô Đức Thịnh, mà theo chúng tôi, ông có cái nhìn, cách đánh giá khách quan và bình tĩnh trước vấn đề. GS Ngô Đức Thịnh cho biết: “Cuốn sách lấy ra từ đề tài nghiên cứu nhân tài và trí thức VN. Không nghi ngờ gì về ý đồ của cuốn sách là nhằm khuyến khích học tập truyền thống với tinh thần “nhân tài là nguyên khí quốc gia”. Chúng ta đã từng có nhiều cuốn sách viết về những người tài năng được tập hợp theo nhóm nhằm tuyên dương… Cuốn “Tài năng và đắc dụng” cũng chỉ mang tính cá nhân của 2 tác giả chủ biên nói trên. Suy cho cùng, về mặt luật pháp thì họ không sai. Ở nước ngoài, những chuyện như thế này là bình thường. Đây là quyền riêng của họ. Tuy nhiên, cái đáng cần bàn luận là trách nhiệm của họ trước xã hội?

Cuốn sách được ấn hành bởi NXB Chính trị Quốc gia, đó là NXB của Đảng và Nhà nước, nên dễ làm người ta hiểu đó là cách nhìn, quan điểm của Đảng và Nhà nước. NXB này phải có trách nhiệm, vì khi cuốn sách xuất bản ở đây thì người ta ngầm hiểu đây là ý kiến mang tính chính thống.

Tôi chưa đọc cuốn sách, nhưng qua thông tin, tôi thấy 14 nhân vật được sắp đặt rất tùy tiện, thiếu sự cẩn trọng, không ổn! Việc chọn GS Trần Văn Giàu bên cạnh Albert Einstein rõ ràng cho thấy cái gì đó khập khễnh. Cuốn sách mang tên “Tài năng và đắc dụng”, cho thấy các tác giả cuốn sách muốn nhấn mạnh tới các nhân tài mang lại các ứng dụng hiệu quả cho xã hội, đây là một ý tưởng hay. Einstein – một bộ óc vĩ đại của thế kỷ 20, nhưng người phát minh ra computer cũng mang lại sự thay đổi lớn lao cho thế giới này. Nhân đây tôi muốn nói thêm, trong cuốn sách chọn 20 phát minh kỹ thuật của thế kỷ 20, người ta chọn ống thông hình chữ S của chiếc bồn cầu, đây là một phát minh rất đắc dụng – nhiều người được hưởng…

Một điều nữa là ông Đặng Lê Nguyên Vũ còn quá trẻ, còn sống, lại được đặt bên cạnh các vị như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Bạch Thái Bưởi cũng có gì đó thấy không ổn! Ông Bạch Thái Bưởi là nhà tư sản, nhà buôn nổi tiếng đầu thế kỷ 20, ông là người sáng tạo ra thương hiệu Việt và nổi tiếng với câu nói “Người Việt dùng hàng Việt”, ông cũng là người tạo ra hệ thống giao thông đường thuỷ.

GS Thịnh cho rằng, không phải anh Vũ là người vô danh, mà là người có những đóng cho thương hiệu VN, làm giàu cho mình và cho nhiều người, là người tiêu biểu trong giới trẻ làm thương nghiệp, những doanh nhân trẻ như anh Vũ rất đáng quý trong bối cảnh, xu hướng hội nhập hiện nay… Nhưng rõ ràng là cách lựa chọn, sắp xếp và cách viết (nội dung giới thiệu) đã làm mất đi ý định ban đầu của cuốn sách là nhằm giáo dục thông qua nhân vật tài năng. GS Thịnh cũng tỏ ý phê phán trước việc một số ý kiến nhân chuyện này sa đà đi vào các vấn đề cá nhân không liên quan của Đặng Lê Nguyên Vũ, cũng như tâm lý khen chê theo đám đông.

Thiết nghĩ, các chủ biên cuốn sách, cũng như NXB Chính trị Quốc gia chắc hẳn cần có những điều rút kinh nghiệm lớn từ việc này, để những cuốn sách được xuất bản luôn đạt được giá trị cao đẹp của nó.

Linh Tâm

PHẢN HỒI CUỐN “TÀI NĂNG VÀ ĐẮC DỤNG”

Báo Sài Gòn Giải phóng

Sau khi Báo SGGP (ngày 10, 11-5) và tiếp theo là một số báo khác (Người Lao động, Phụ nữ…) đăng cuốn sách “Tài năng và đắc dụng” do Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật xuất bản, trong đó có phân tích trường hợp ông Đặng Lê Nguyên Vũ (doanh nghiệp cà phê Trung Nguyên) được in trong cùng một cuốn sách nhằm tôn vinh chung với các bậc vĩ nhân, tài năng xuất chúng của Việt Nam và thế giới, chúng tôi đã nhận được ý kiến từ nhà xuất bản và phần tiếp thu, trả lời của nhóm tác giả cuốn sách. Báo SGGP xin trích đăng những ý chính trong nội dung trả lời:

Ngày 10 và 11-5-2011, Báo Sài Gòn Giải Phóng có đăng các ý kiến đóng góp, phê bình của tác giả Minh An và Trần Thành Trung về cuốn sách “Tài năng và đắc dụng” của nhóm tác giả do GS-TSKH Nguyễn Hoàng Lương và PGS-TS Phạm Hồng Tung làm chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật xuất bản năm 2008. Nhà xuất bản đã làm việc với chủ biên cuốn sách trên để làm rõ những vấn đề mà một số độc giả quan tâm và băn khoăn trong cuốn sách, đồng thời xin gửi kèm theo ý kiến tiếp thu và trả lời của nhóm tác giả với bạn đọc Báo Sài Gòn Giải Phóng như sau:

Trước hết, chúng tôi chân thành cảm ơn Báo Sài Gòn Giải Phóng, các tác giả Minh An và Trần Thành Trung và một số độc giả khác đã có ý kiến góp ý, phê bình đối với công trình của chúng tôi. Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu ý kiến của quý vị và nghiêm túc tiếp thu những ý kiến xác đáng.

Đúng như ông Trần Thành Trung nhận xét, những gì chúng tôi trình bày liên quan đến tiểu sử và sự nghiệp của 14 trường hợp nghiên cứu được lựa chọn là không có gì mới. Trong sách, ở phần Lời mở đầu và Tổng luận, chúng tôi đã nói rõ rằng: “chúng tôi cũng không đặt mục tiêu khảo sát toàn diện về con người, thân thế, sự nghiệp và đánh giá về những đóng góp của họ, mà chỉ tập trung làm sáng tỏ về con đường hình thành và bộc lộ tài năng, quá trình phát triển nhân cách tài năng và việc tài năng của các cá nhân đó được sử dụng như thế nào” (trang 308).

Điều các tác giả Minh An và Trần Thành Trung băn khoăn, chất vấn nhiều nhất là: dựa trên tiêu chí nào để chúng tôi chọn đưa vào công trình này 14 nhân tài để nghiên cứu, trong đó có ông Đặng Lê Nguyên Vũ… Riêng về trường hợp Đặng Lê Nguyên Vũ, chúng tôi đã nói rõ lý do lựa chọn trường hợp này để nghiên cứu ở đây là: “Một trong những doanh nhân tiêu biểu, thành đạt của Việt Nam thời kỳ đổi mới” (trang 11).

Chúng tôi không hề có ý định so sánh các trường hợp nghiên cứu với nhau và càng không hề nhận định rằng 14 trường hợp đó là “các bậc anh hùng, danh nhân tiêu biểu nhất của hơn 4.000 năm lịch sử” của Việt Nam hay của thế giới.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng thừa nhận rằng sự chênh lệch số trang viết như độc giả nêu ra là không nên, có thể gây ra những suy diễn, hiểu lầm không cần thiết. Điều này chúng tôi xin tiếp thu và rút kinh nghiệm.

Ở thời điểm chúng tôi tiến hành nghiên cứu, ông Vũ đang là một trong những doanh nhân tiêu biểu và thành đạt, nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh và có không ít rủi ro, không ai có thể đảm bảo rằng sau đó ông Vũ và doanh nghiệp của ông vẫn tiếp tục thành đạt. Chúng tôi tuyệt đối không có ý định thông qua công trình này tôn vinh quá mức cá nhân ông Vũ hay quảng cáo “đánh bóng” tên tuổi cho doanh nghiệp cà phê Trung Nguyên.

Một lần nữa chúng tôi chân thành cảm tạ và tiếp thu những ý kiến góp ý, phê bình của các độc giả. Điều chúng tôi học được ở đây là: chúng tôi cần cẩn trọng hơn nữa trong cách trình bày, diễn đạt kết quả nghiên cứu của mình để tránh việc bạn đọc tiếp cận công trình từ những góc độ khác nhau có thể có những suy diễn, hiểu lầm đáng tiếc.

xem tiếp những ý kiến đánh giá tại đây
và tại đây Báo Đất Việt: Sách về vĩ nhân, căn bệnh vĩ cuồng

THUNG DUNG, HỌC MỖI NGÀY,