Bài ca Trường Quảng Trạch


DẠY VÀ HỌC. Như một điều tâm nguyện sâu xa, tôi  đã dành trọn chiều và suốt đêm nay tại phòng đợi máy bay để đưa lên mạng Bài ca Trường Quảng Trạch. Bốn mươi lăm năm trước, Thầy Trần Đình Côn đã khóc đưa chiếc áo máu cha tôi bị bom Mỹ giết hại vào phòng truyền thống của Trường và viết nên những câu thơ cháy lòng: “Thương em cảnh gieo neo mẹ mất/ Lại cha già giặc giết hôm qua/ Tình thầy, tình bạn, tình cha/ Áy là tình Đảng thiết tha mặn nồng” Thầy ơi ! các Thầy Cô và bạn bè đã giúp em nghị lực vượt lên mồ côi, đói nghèo để biết sống phúc hậu, nghị lực  và lảm người có ích . Em nay đọc thơ Thầy mà rưng rưng nước mắt biết ơn KÝ ỨC THỜI GIAN. Lời của thầy theo mãi bước em đi. “Hồi tưởng lại những mùa thu ấy/ Bao ngày qua biết mấy buồn vui/ Đắng cay nay mới ngọt bùi/ Đường đi muôn dặm đã ngời mai sau”.

Quảng Bình Quê Ta Ơi

Sáng tác : Hoàng Vân
Trình bày :NSND Thu Hiền

BÀI CA TRƯỜNG QUẢNG TRẠCH

Trần Đình Côn
Hiệu trưởng đầu tiên của Trường

Hồi tưởng lại một mùa thu ấy
Mấy thu rồi biết mấy đổi thay
Khởi công ròng rã tháng ngày
Dốc lòng , dốc sức dựng xây trường mình

Vùng các trắng biến thành ao cá
Rừng dương xanh lộng gió vi vu
Giếng thơi trong suốt ngọt ngào
Cổng trường cao rộng đón chào anh em

Trường Quảng Trạch trên miền Quảng Thọ
Tên trường ta chữ đỏ vàng son
Tên Tổ Quốc, tên yêu thương
Thơm dòng sữa mẹ quê hương xa gần

Phòng học mới cửa xanh, ngói đỏ
Lá cờ sao trước gió tung bay
Tình em, tình bạn, tình thầy
Mỗi ngày thêm nặng, mỗi ngày thêm sâu.

Lòng những tưởng khởi đầu vất vả
Để năm sau tất cả tiến lên
Ai ngờ giặc Mỹ đê hèn
Tường vôi tan nát, khói hoen mặt người.

Cuộc sống đã sáng ngời lửa thép
Đạn bom nào uy hiếp được ta
Cổng trường, mái ngói, tường hoa
Đã thành gạch vụn xót xa hận thù

Đã đến lúc thầy trò sơ tán
Xa thị thành về tận xóm thôn
Bầu Mây, Phù Hợp, Đồng Dương
Trắng trong cồn cát mái trường thêm xinh

Phá trường ngói trường tranh ta dựng
Đắp luỹ dày, hầm vững, hào sâu
Khiêng bàn, vác gỗ đêm thâu
Lưng trời đạn xé, ngang đầu bom rơi.

Nơi Hầm Cối 3 xa vời em đến
Qua Khe Sâu 4 đá nghiến nát chân
Nhớ khi bụng đói lạc đường
Càng căm giặc Mỹ, càng thương chúng mình.

Chí đã quyết hi sinh chẳng quản
Lòng đã tin vào Đảng , vào dân
Kết liền lưc lượng Công Nông
Ghi sâu tình bạn Hải quân anh hùng

Sông Gianh đó vẫy vùng một cõi
Thép hạm tàu chói lọi chiến công
Đôi ta chiến đấu hợp đồng 5
Vít đầu giặc Mỹ xuôi dòng nước xanh.

Ngày thêm nặng mối tình kết nghĩa
Nơi “vườn đào” đất mẹ Phù Lưu 6
Cùng nhau chung một chiến hào
Trao quà chiến thắng vui nào vui hơn

Từ ấy đã nghìn đêm có lẽ
Có phút nào giặc Mỹ để yên
Chất chồng tội ác ngày đêm
Lửa thù rực cháy đốt tim muôn người

Ôi những cảnh rụng rời thê thảm
Mái nhà tranh giáo án thành tro
Mẹ già, anh chị, em thơ
Xương bay, thịt nát, cửa nhà tan hoang

Lớp học đó chiến trường em đó
Nín đi em hãy cố học chăm
Giành điểm bốn, giành điểm năm
Ấy là diệt Mỹ chiến công hàng ngày.

Đã có bạn có thầy giúp đỡ
Khó khăn nào lại khó vượt qua
Miếng khi đói gói khi no
Lưng cơm hạt muối giúp cho bạn nghèo

Thương em cảnh gieo neo mẹ mất
Lại cha già giặc giết hôm qua
Tình thầy tình bạn tình cha
Ấy là tình Đảng thiết tha mặn nồng.

Có những lúc đêm đông giá rét
Thầy bên em ai biết ai hay
Hầm luỹ thép, ngọn đèn khuya
Mùa đông sưởi ấm, mùa hè mát sao.

Nào Văn học lại nào Toán Lý
Giảng cho em nhớ kỹ từng lời
Cho em học một biết mười
Cho em học chóng nên người tài cao

Dắt em tận năm châu bốn biển
Mắt nhìn xa nghĩ đến mai sau
Đây Lạng Sơn đó Cà Mau
Giang sơn hùng vĩ, địa cầu lừng danh

Đưa em lên sao Kim sao Hoả
Để em nhìn cho rõ nước ta
Hiểu ngày nay ,hiểu ngày xưa
Hùng Vương, Nguyễn Trãi gần là Quang Trung

Em càng hiểu anh hùng thời đại
Có Bác Hồ chỉ lối ta đi
Dù địch phá, dù gian nguy
Trường ta vững lái cứ đi cứ về

Tuổi thanh niên sơ gì việc khó
Khó khăn nhiều tiến bộ càng nhanh
Đã nuôi chí lớn ắt thành
Có thầy, có bạn, có mình, có ta.

Thiếu phấn viết làm ra phấn viết
Sách giáo khoa ta chép thâu đêm
Sản xuất kết hợp học học hành
Như chim đủ cánh cất mình bay cao.

Ruộng tăng sản bèo dâu xanh biếc
Cấy thẳng hàng buốt thịt xương đau
Độ pH cách trừ sâu
Chiêm mùa sau trước trước sau khác gì.

Sổ tay đó em ghi phân bón
Ước mơ sao năm tấn thành công
Bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông
Bức tranh tuyệt đẹp ruộng đồng bao la

Những đêm sáng trăng ngà trong suốt
Vút lên cao thánh thót lời ca
“Hoa Pơ lang” 7 ấy bông hoa
Tây Nguyên đẹp nhất thiết tha gửi lời
“Nổ trống lên rừng núi ơi” 8
“Bài ca may áo” 9 “Mặc người dèm pha” 10

Thân múa dẽo kết “Hoa Sen” 11 trắng
Giữa hội trường rực sáng đèn xanh
Tưởng chừng lạc đến cảnh tiên
Tưởng chừng thiếu nữ ở miền Thiên Thai.

Ai biết đó con người nghèo khổ
Con Công Nông bỗng hoá thành tiên
Rũ bùn em bước đi lên
Bùn tanh mà đã lọc nên hương trời.

Trường ta đó ấy nơi rèn luyện
Mấy năm qua bao chuyện anh hùng
Ngày xưa Phù Đổng Thiên Vương
Ta nay lớn mạnh phi thường lạ chưa?

Trong chiến đấu xông pha diệt Mỹ
Lập công đầu dũng sĩ tiền phương
Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan
Châu Âu châu Á từ trường mà ra

Dù ở tận Cu Ba châu Mỹ
Vẫn ngày đêm suy nghĩ về ta
Dú cho ở lại quê nhà
Xóm thôn xã vắng vẫn lo sớm chiều

Lo nước đủ phân nhiều lúa tốt
Cảnh ruộng đồng hợp tác vui thay
Mỗi khi bưng bát cơm đầy
Dẽo thơm một hạt nhớ thầy năm xưa

Ôi có những phút giờ sung sướng
Là những khi cờ Đảng trao tay 12
Anh em bè bạn sum vầy
Tiếng cười xen tiếng vỗ tay kéo dài

Có những lúc nghe đài Hà Nội
Vang truyền đi thế giới gần xa
Tin trường ta, tin chúng ta
Hả lòng, hả dạ ước mơ nào bằng

Có những lúc báo Đoàn báo Đảng
Đăng tin trường khai giảng thành công
Tin một năm, tin ba năm
Như luồng gió mới lửa hồng bùng lên

Trên màn bạc giữa nền ánh điện
Phim trường ta chiếu rạng khắp mơi  13
Châu Âu châu Mỹ xa xôi
Năm câu bốn biển rõ mười tin vui

Hay biết mấy xem người trong ảnh
Ta xem ta xem cảnh trường ta
Này hầm, này luỹ, này nhà
Kìa thầy kìa bạn kìa là xã viên

Phù Lưu đó ruộng liền thẳng cánh
Bầu Mây đây đúng cảnh trong phim
Sáng bừng như mặt trời lên
Chói ngời như một niềm tin tuyệt trần.

Chào 68 mùa xuân tuyệt đẹp
Cả trường đang vang nhịp tiến công
Đón xuân với cả tấm lòng
Đầy trời lửa đạn súng giòn chào ta

Duyên thiên lý một nhà sum họp
Người tuy đông mà một lòng son
Nào khách quý nào tri âm
Bốn phương quy tụ xa gần về đây

Thời gian hỡi dừng ngay cánh lại
Giờ vui ơi xin hãy khoan thai
Rượu nồng chưa uống mà say
Bữa ăn quên đói, chuyện dài thâu canh

Vui gặp chị gặp anh thân thiết
Chuyện xa gần khôn xiết nói sao
Yêu nhau xin nhớ lời nhau
Thù chung đã nặng càng sâu thù nhà

Con khôn lớn mẹ cha đẹp mặt
Trường vững vàng Đảng ắt mừng vui
Cờ hồng bạn lại trao tay 14
Phất cao cho đến tầng mây xa vời

Sức ta ước chọc trời khuấy nước
Khó khăn nào chặn bước ta đi
Mỗi năm xuân đến một thì
Xuân này hơn hẵn mấy kỳ xuân qua.

Có nghe chăng Bác Hồ ra lệnh
“Tiến lên toàn thắng ắt về ta”
Tiến lên giành lấy tự do
Tiến lên giành lấy thời cơ diệt thù

Hồi tưởng lại những mùa thu ấy
Bao ngày qua biết mấy buồn vui
“Đắng cay nay mới ngọt bùi
Đường đi muôn dặm đã ngời mai sau”

Lời Bác dạy ghi sâu trong dạ
Ngọn đèn pha chiếu toả muôn nơi
Trang sách rộng nghĩa đường đời
Học hành kết hợp nên người tài ba

Nay sum họp mai đà li biệt
Tiễn người đi lại tiếp người vào
Kể sao vui sướng dạt dàoào
Người sao vương vấn ra vào băn khoăn

Đã vì Đảng vì Dân vì Nước
Tiến lên đi nhanh bước tiến lên
Lòng thầy luôn ở bên em
Đường lên sao Hoả, sao Kim xa gì?

Đi đâu cũng hướng về Quảng Trạch
Cũng có ngày gặp mặt các em
Nhắc bao kỷ niệm êm đềm
Báo công nghi tiếp nên thiên sử vàng …

7.11.1968

TĐC

1) Xã trường đóng từ 9/1962- 6/1965
2) Những tên đất, tên làng trường sơ tán từ 1965 đến1968
3) Tên rú nơi các em đi lấy gỗ
4) Tên khe nơi các em đi qua
5) Trận chiến đấu hợp đồng giữa Trường và đơn vị kết nghĩa Hải quân sông Gianh
6)  Nơi làm lễ kết nghĩa giữa ba đơn vị 11/1965
7, 8, 9, 10) Tên các ca khúc mà các em thường hát
11) Điệu múa truyền thống của Trường
12) Lễ tiếp nhận lần thứ nhất Cờ Lao động XHCN của Hội đồng Chính phủ trao tại Cao Mại ngày 30/8/1967
13)Bộ phim Trường Quảng Trạch do nhà quay phim Ma Văn Cường dựng 5/12/1965
14) Lễ treo tặng lần thứ nhất Cờ Lao động XHCN của Hội đồng Chính phủ và Bằng Khen của Tổng Công Đoàn tại Phù Lưu ngày 4/1/1968

Xem tiếp

Về lại mái trường bên dòng Gianh

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Lão Tử, Đạo Đức Kinh, Đạo Học

DẠY VÀ HỌC. Lão Tử là nhà hiền triết Trung Quốc cổ đại, một trong những người thầy lớn nhất của mọi thời đại. Trong biển học tri thức mênh mông, Lão Tử đã trao truyền lại cho đời sau kho báu Đạo Đức Kinh vô giá chỉ vẻn vẹn trên 5000 chữ  nhưng chứa đựng túi khôn của nhân loại. Những lời vàng cách đây hơn hai ngàn năm đến nay vẫn vằng vặc như sao Mai mới mọc. Bốn chữ “biết đúng, biết đủ” (tri túc, tri chỉ) là tinh hoa của phương pháp học tập cổ điển và hiện đại (đạo học) và phép xử thế,. Đó cũng là căn bản của phép quyền biến và sự cương nhu.  Lão Tử viết trong chương 67 (đại ý của lời văn được diễn đạt theo lối mới): “Ta nắm lấy ba phép báu:  thứ nhất là nhân từ , thứ nhì là tiết kiệm, thứ ba là khiêm nhu, không tranh với người khác. Ta biết nhân từ thì được dũng cảm; biết tiết kiệm thì được rộng rãi; biết khiêm nhu không tranh đoạt người thì được tôn vinh.” Tôi duyên may được đọc một số sách của các tác giả đáng kính và mừng được tiếp xúc với một số người bạn biết trọng vốn cổ văn hoá phương Đông đã khuyến khích lập thư mục này như là một cách để tự học và cùng học.  Người ta biết rất ít về cuộc đời Lão Tử nhưng bộ sách Đạo Đức Kinh lại được luận bàn sôi nổi suốt trên hai nghìn năm qua. Tác phẩm này được nhiều nhà nghiên cứu Trung Hoa và Đông Phương, Tây Phương coi là một kỳ thư hiếm thấy trong lịch sử nhân loại tương tự Kinh Dịch. Tôi tán đồng với anh Nguyễn Quốc Toàn là khởi đầu hãy nghiên cứu “Đạo Đức Kinh và Đạo Giáo“. Tiếp đến là “Lão Tử túi khôn của nhân loại và “Lão Tử tri túc tri chỉ” của Vương Tuệ Mẫn. Sau đó mới nhàn đàm dần vào bên trong …  

 Đạo Đức Kinh và Đạo Giáo

Anh Nguyễn Quốc Toàn (Bulukhin) đã trả lời ba câu hỏi của bạn Tudinhuong: 1) Đạo Đức kinh có phải là Đạo giáo không? 2) Người Việt Nam hình như đa số theo Đạo giáo? 3) Đạo thờ Tổ tiên Ông bà có phải là một hình thức của Đạo giáo?  

1) Đạo Đức Kinh là học thuyết của Lão Tử xuất hiện vào thời Chiến Quốc bên Tàu. Chữ đạo mới đầu trỏ một dường đi, sau đó trỏ cái lí phải theo, như đạo làm người, đạo làm con…sau cùng mở rộng ra nữa để trỏ luật, trật tự thiên nhiên. Và Lão tử đã chọn chữ đạo để chỉ bản nguyên vũ trụ. Thực ra ông không chọn được từ nào thích hợp hơn, chữ đạo là để dùng tạm, bởi vậy mở đầu Đạo đức kinh ông viết: “Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh” nghĩa là: Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải đạo vĩnh cữu bất biến; tên mà có thể đặt ra để gọi nó (đạo) thì không phải là tên vĩnh cửu bất biến”. Với Lão tử thì đạo có trước thượng đế : “Ngô bất tri thùy chi tử, tượng đế chi tiên”, nghĩa là: Ta không biết nó con ai, có lẽ nó có trước thượng đế. Về cái dụng của  đạo Lão tử nói: “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật ” tức là Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật.Chữ đức trong đạo đức kinh khác với đức trong nho giáo mà ta từng biết như: Đức trị, tứ đức tam tòng, đức hạnh … Đức của Lão tử là biểu hiện cụ thể của đạo trong từng sự vật. Đạo sinh ra vạn vật nhưng làm cho vật nào thành ra vật ấy và tồn tại được trong vũ trụ  là do đức. “Đạo sinh ra nó (vạn vật), đức chứa đựng nó, làm cho nó lớn, làm cho nó sống, làm cho nó hiện ra hình, làm cho nó thành ra chất, và nuôi nấng che chở cho nó” (Đạo sinh chi, đức xúc chi, trưởng chi, dục chi, đình chi, độc chi, dưỡng chi, phúc chi) . Nhìn chung Học thuyết của Lão tử mang tính vô thần, trời có sau đạo, chủ trương sùng thượng tự nhiên, cho tự nhiên là hoàn hảo tột bực, là năng lực vô biên, một “thần khí” mà loài người buộc phải tuân theo không được trái lại, không được tìm cách sửa đổi. Từ đó ông chủ trương vô vi, không phải không làm gì cả mà phải làm theo quy luật tự nhiên.

2) Đạo giáo : Sau Lão tử, đến lượt Trang tử (369-286 trước Tây lịch) cho rằng người biết được học thuyết Đạo đức kinh của Lão là người nắm được thiên cơ,  người ấy gọi là chân nhân. Chân nhân là người xuất thế thoát tục, ngao du đây đó, sống với trăng sao, sông nước, cây cỏ, luyện thuốc linh đan uống vào cho trường sinh bất tử, đạt được ý  đó là tiên ( 仙 ). (Tiên gồm bộ nhân 亻là người, đứng bên trái chữ sơn  山  là núi, ý rằng tiên là người ở trên núi). Thế là từ một học thuyết triết học của Lão tử nói về sự hình thành trời đất muôn vật được gọi là Đạo đức kinh,  biến thành một tín ngưỡng tôn giáo gọi là Đạo giáo, lấy phép tu thành tiên,  kéo dài cuộc sống bất tử làm mục đích. Đạo giáo có hai khuynh hướng , Đạo giáo thần tiên và đạo giáo phù thủy,

* Đạo giáo thần tiên lấy phép tu tiên, luyện đan, kéo dài sự sống làm mục đích. Đại biểu của phải này là Cát Hồng (283- 343 tr  Tây lịch)

 Cúng giải sao hạn

* Đạo giáo phù thủy dùng phù phép vẽ bùa trên nước gọi là bùa thủy hoặc phù thủy. Cũng có thể vẽ bùa trên giấy hoặc trên vải, cùng nhiều phép hô phong hoán vũ kêu gọi âm binh…Đại diện cho khuynh hướng này là Vu Cát sống trong đời Đông Hán, triều vua Thuận Đế ( 126-144)

Đạo giáo thâm nhập vào Việt Nam từ khoảng cuối thế kỷ II. Ở Trung Hoa, sau khi Hán Linh đế băng hà, xã hội rối loạn, riêng có Giao Chỉ là đang yên ổn. Người phương Bắc qua Giao chỉ lánh nạn rất đông trong đó có nhiều thuật sĩ của hai khuynh hướng Đạo giáo thần tiên và Đạo giáo phù thủy. Nhiều quan lại Trung Hoa sang ta cai trị đều sính phương thuật, điển hình là Cao Biền đời Đường  từng lùng tìm yểm huyệt, hy vọng cắt đứt các long mạch  để hòng triệt nguồn nhân tài Việt Nam. Tuy Đạo giáo tôn Lão tử làm giáo chủ nhưng phương pháp tu hành thì chống  lại giáo lý của Đạo đức kinh. Trong khi Lão tử chủ trương sùng thượng tự nhiên, xem sống chết là quy luật thì Đạo giáo tu tiên, luyện linh đan để  được trường sinh bất tử.

Đến nay ở Việt Nam vẫn còn hiện tượng như đồng bóng, đội bát nhang, bùa chú… nhưng đó là di sản của tín ngưỡng dân gian truyền thống. Đạo giáo như một tôn giáo đã lâu không còn tồn tại nữa. Bởi vậy không thể nói “Đa số người Việt Nam theo Đạo giáo”. Theo thống kê năm 2009 thì 7,93% dân Việt Nam theo Phật giáo, và 6,61% theo Thiên chúa giáo, đây là hai đạo lớn nhất Việt Nam hiện nay.

3) Thờ cúng ông bà: Trong con người có cái vật chất và cái tinh thần. Cái tinh thần trừu tượng, khó nắm bắt nên người xưa thần thánh hóa nó thành khái niệm “linh hồn”, và linh hồn trở thành đầu mối của tín ngưỡng. Người Việt tin rằng xác thân của tổ tiên, ông bà ở nơi chín suối, nhưng linh hồn vẫn thường xuyên đi về thăm nom phù hộ cho con cháu, đấy là cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Nó có mặt ở nhiều dân tộc Đông Nam Á và là nét đặc trưng cho vùng văn hóa này. Theo nhà nghiên cứu người Nga G.G. Stratanovich thì nó phổ biến và phát triển hơn cả ở người Việt. Đối với người Việt, nó gần như thở thành một tôn giáo, ngay cả những người không tin thần thánh cũng đặt bàn thờ tổ tiên trong nhà. Người miền Nam gọi là  Đạo ông bà. Nguyễn Đình Chiễu viết trong Lục Vân Tiên:

Thà đui mà giữ ĐẠO NHÀ
Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ
                                                              Bàn thờ gia tiên

Như vậy tín ngưỡng thờ tổ tiên, (hay xem là Đạo ông bà đi chăng nữa) thì nó không liên quan gì đến Đạo giáo – một thứ biến thể Đạo đức kinh  của Lão tử – chuyên tu  tiên, luyện linh đan để trường sinh bất tử, hoặc phù phép đồng bóng  làm những điều kì dị, không có căn cứ khoa học .

 Đón đọc tiếp phần hai và ba: “Lão Tử túi khôn của nhân loại và “Lão Tử tri túc tri chỉ” của Vương Tuệ Mẫn.

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Bàn luận thật giả với Trần Đăng Khoa


DẠY VÀ HỌC. Trần Đăng Khoa quý mến! Mình chưa bình luận mà chỉ xin bạn chép lại bài này về các trang Dạy và học, Học mỗi ngàyNgọc phương Nam. Mình ủng hộ điều bạn viết: Phải làm sao để những lời nói phải, những bài viết hay được nhiều người dân biết. “Biết … để ủng hộ. Nếu không có sự ủng hộ của dân, của toàn xã hội, thì ngay cả một việc nhỏ cũng khó thành công được, chứ đừng nói những việc phức tạp, những việc tồn đọng đã thành nỗi nhức nhối của toàn xã hội, như tai nạn giao thông và nạn tắc đường”. Xưa kia, “Thư can vua đừng đuổi khách” của Lý Tư  không tài nào lọt được  tới tai của bậc Quân Vương nhưng bằng kế sách của Úy Liêu, việc khó khăn ấy đã làm được. Lý Tư trước đó định bán nhà bỏ Tần để đi nơi khác khi lời khuyên can của ông chẳng thể đến tai Vua. Sau này ông đã nghe lời Úy Liêu mời dân Xóm Lá đồng lòng học thuộc bài “Thư can vua đừng đuổi khách”. Kết cục dù Thủy Hoàng Đế vứt bỏ tấu trình, bắt kẻ sỹ ngậm miệng thì nhất loạt những lời nói phải vẫn đến được tai Người. Và điều sẽ đến phải đến. Cám ơn Trần Đăng Khoa. Theo mình THẬT VÀ GIẢ là một bài viết rất hay về văn hóa và giáo dục.

THẬT VÀ GIẢ

Trần Đăng Khoa

Ngày xưa, để xây dựng bộ máy nhà nước Phong kiến, các bậc Vua chúa thường tuyển chọn người tài bằng các cuộc thi. Đề thi do Vua ra. Bài làm của các thí sinh đều luận bàn những vấn đề lớn, ở tầm Quốc gia. Rồi căn cứ kết quả của cuộc thi mà chọn ra những Ông Trạng, Ông Nghè, rồi tùy theo tài năng của từng người mà bổ nhiệm các chức sắc.

Bây giờ, giá như chúng ta cũng tuyển chọn những người tài để bổ nhiệm chức vụ cán bộ bằng các cuộc thi như thế. Đề thi cũng là những vấn đề vĩ mô ở tầm Quốc gia. Ví như làm thế nào để chống được tham những. Giải pháp xóa ùn tắc và hạn chế tai nạn giao thông. Những kế sách chấn hưng đất nước. Bảo vệ trọn vẹn chủ quyền lãnh thổ. Giải quyết những vấn đề phức tạp ở Biển Đông. Rồi đối nội, đối ngoại…Bằng cách làm cổ xưa như trái đất ấy, biết đâu, chúng ta sẽ tìm được rất nhiều người tài vẫn còn lẩn khuất ở trong dân.
Đọc đến đây, chắc bạn sẽ mỉm cười. Cái lão này dở hơi thật! Thời công nghệ hiện đại, sao lại còn lọ mọ như thế. Ngày xưa thi rồi mới cử. Bây giờ, ta cứ cử rồi mới thi. Cứ đảm trách công việc đã. Rồi phổ cập Đại học sau. Rồi còn phổ cập Thạc sĩ, Tiến sĩ. Có người, một năm, vừa làm, vừa tung tẩy đi mấy nước, đi nước ngoài như đi chợ mà vẫn “phổ cập” được đến mấy cấp. Không biết học lúc nào. Tài thật. Có lẽ học dọc đường chăng? Cụ V.I. Lênin bảo: “Học! Học nữa! Học mãi!”. Một nhà thông thái xưa cũng khuyên: Cứ trong ba người đi đường, thế nào cũng có một người là thày ta!
Thế thì ở đâu mà chẳng học được. Nhìn đâu cũng thấy trường. Học được là tốt. Nhưng cũng có người đâu có cần học. Thay cho học thật, học lại dùng những tấm bằng giả.
Những năm gần đây, việc mua bán bằng giả đã trở thành một việc nổi cộm nhức nhối, dẫn đến sự lộn xộn, mất lòng tin vì thật giả lẫn lộn, chẳng còn biết đâu mà lần. Và rồi gần đây toé loe ra, qua các phương tiện truyền thông, người ta không thể ngờ được rằng, một trong những điểm “sản xuất” bằng giả lại là một quán trọ sinh viên. Chủ nhân của những tấm bằng giả đó lại là mấy anh chàng học trò tỉnh lẻ. Đủ các loại bằng được “sản xuất” thủ công. Vậy mà rất tinh vi và kỹ xảo. Giá cũng đâu có đắt, để ai cũng có thể mua được. Không biết bao nhiêu những tấm bằng ma với giá bình dân như thế đã tung ra ngoài đời sống xã hội. Người thật, bằng giả. Rồi lại còn cái nạn người giả mà bằng thật. Con số này cũng không phải ít.
Tất nhiên, cái nạn “bằng thật người giả” này, nếu chỉ là các “ông cử”, “bà cử”, các “chuyên gia” của các chuyên ngành ở trong khối cơ quan nhà nước, các công ty, xí nghiệp thì sự tác hại còn âm ỷ kéo dài, không dễ mà thấy ngay được. Nhưng những người giả có bằng thật lại điều khiển xe cộ trong ngành vận chuyển giao thông thì ta có thể thấy ngay và phải trả giá nhỡn tiền. Mà giá đắt. Vì đó là những mạng người vô tội. Trong số những người chết oan ấy, có bao nhiêu tinh hoa của dân tộc và cả nhân loại, như nhà thơ Xuân Quỳnh, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ, nhà toán học, Viện sĩ Nguyễn Văn Đạo, nhà khoa học nổi tiếng thế giới Seymour Papert, người tình nguyện sang giúp ta giải bài toán Giao thông, nhưng bài toán còn chưa kịp giải, ông đã bị tai nạn ngay khi đang đi bộ qua đường.
Ngày nào cũng có hàng trăm vụ tai nạn giao thông thảm khốc. Nhiều chiếc xe đã trở thành hung thần vì cán chết đến cả chục người một lúc. Có người dừng xe đứng chờ đèn đỏ, có người ngồi chơi trên vỉa hè, có người không tham gia giao thông, đang nằm nghỉ trong chính căn nhà riêng ấm áp của mình, mà rồi cũng bị chết vì tai nạn giao thông. Có xe tải bỗng chốc hóa hung thần đường phố, lao lên cả vỉa hè, nghiến nát nhiều xe máy, xe con, húc đổ luôn cả bức tường của một căn nhà bên đường, rồi mới chịu dừng lại vì bị kẹt trong cả một đống đổ nát. Thật khó có thể hình dung nổi những cảnh tượng đau thương như thế. Trông hiện trường chẳng khác gì khu phố vừa qua trận bom B52. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến những cuộc tai nạn thảm khốc, nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản vẫn là do người điều khiển phương tiện không có đủ khả năng tối thiểu. Việc cấp bằng, bán bằng cho những người như thế có thể xem như một tội ác. Chừng nào còn tệ nạn mua bằng, bán bằng hoặc vô trách nhiệm trong việc cấp bằng thì đừng bao giờ hy vọng chúng ta có thể tránh được những tai nạn thảm khốc. Và những tai nạn ấy không phải chỉ diễn ra trong lĩnh vực giao thông.
Được biết là hiện nay, Chính phủ đang chỉ đạo Bộ Giao thông Vận tải triển khai quyết liệt nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém trong lĩnh vực này. Trước đó, tại buổi thảo luận về báo cáo kinh tế xã hội của Chính phủ, đại biểu Lê Thị Nga, Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp cho rằng, hiện nay tình hình tai nạn, ùn tắc giao thông quá nghiêm trọng và tương đương với tiêu chí cần thiết phải ban bố tình trạng khẩn cấp. Cũng theo nhà báo Tiến Dũng, dù thừa nhận trên 80% tai nạn là do lỗi của người điều khiển phương tiện, phổ biến là tình trạng phóng nhanh vượt ẩu nhưng bà Nga cho hay, còn có thêm một nguyên nhân cơ bản và quyết định nhất chính là sự yếu kém trong quản lý nhà nước về giao thông. Bằng chứng là trong 3 khóa Quốc hội gần đây có trên 150.000 người chết vì tai nạn giao thông, nhưng hầu như chưa có lãnh đạo nào bị kỷ luật vì để xảy ra tai nạn và chưa miễn nhiệm một bộ trưởng nào vì lý do này. Vì thế, chúng ta càng thấy quý Đinh La Thăng khi ông kiên quyết xử lý những vấn đề tồn đọng và đặt cược số phận mình vào công cuộc cải cách. Nếu không chuyển biến được tình hình, ông sẵn sàng mời Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm ông. Việc làm của Đinh la Thăng, có thể mở ra một mỹ tục mới. Đó là sự minh bạch và công khai hóa. Sẽ đẹp biết bao nhiêu, nếu Bộ trưởng nào khi nhận nhiệm vụ cũng thông báo cho dân biết, khóa trước, người tiền nhiệm làm được những gì. Và mình sẽ làm những gì. Người dân cũng cần phải biết, biết không phải để kiểm tra mà là để ủng hộ. Nếu không có sự ủng hộ của dân, của toàn xã hội, thì ngay cả một việc nhỏ cũng khó thành công được, chứ đừng nói những việc phức tạp, những việc tồn đọng đã thành nỗi nhức nhối của toàn xã hội, như tai nạn giao thông và nạn tắc đường….

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Biển Ngọc bài viết hay về Mẹ


DẠY VÀ HỌC.  Chào em Biển Ngọc. Anh đọc chậm, cảm nhận chậm và xin được chép lại bài viết hay của em về Mẹ. Đây là bài viết rất ấn tượng. Anh đọc bài và ngẫn người bần thần như tìm được người thân. Em viết về mẹ của mình mà mọi người con yêu thương gia đình đều tìm thấy bóng hình của mẹ mình trong đó.  Em viết về mẹ thật xúc động, có chiều sâu yêu thương và nhân hậu làm anh tìm đọc lại bài Thương mẹ, Thơ về  Mẹ của hai chị em Hoàng Tố Nguyên và Hoàng Long. Nét đẹp tâm hồn đáng quý biết bao! Tấm hình em chụp chung cùng với các cháu nhỏ là xinh đẹp, hiền lành và các cháu thật đẹp và thánh thiện! Anh nhớ hoài câu hát tuổi thơ: “Lúc ở nhà mẹ cũng là cô giáo. Lúc đến trường cô giáo như mẹ hiền.” Nghề nghiệp rèn nên tính cách. Chúc em luôn giữ trọn nét đẹp thanh xuân như hình chụp và viết được những bài hay như bài này.


Sinh nhật con trai, nghĩ nhiều về mẹ…

Sau ngày dì cả tôi mất, mẹ tôi một mình phụng dưỡng bà nội, thay dì hương khói bên ngoại, chăm dạy 5 đứa cháu và nuôi 11 anh em thơ dại chúng tôi. Ba tôi là con trai độc nhất của dòng họ, được bà nội cưng chiều nên mọi việc lớn bé trong nhà hầu như chỉ mình mẹ tôi cáng đáng.

Mỗi năm, không tính ngày rằm, một tay mẹ phải lo cúng giỗ từ đường hơn 3 chục lần. Mà lần nào, mẹ cũng chu đáo vẹn toàn để mời cả làng đến dự.
Ba làm ăn thất thoát, nợ hơn 2 chục tấn lúa. Mẹ tôi hàng ngày cần mẫn làm lụng để trả, không hé nửa lời than vãn.

Một người con gái xinh đẹp, chưa động tay động chân vào những việc nặng nhọc, nhưng sau ngày lấy chồng, sáng lặn lội ra đồng, đêm cặm cụi đúc gạch mà vẫn chu toàn cơm nước cho 4 thế hệ trong nhà không phải là chuyện ai cũng làm được.

Năm này qua năm khác, mẹ vẫn thường xuyên vượt hơn 20km đường rừng lấy mây đan gióng, đan sia đem bán. Có than đốt than, có củi chặt củi, có lá gom lá … Những hôm mưa gió không lên rừng, xuống ruộng, mẹ lội bộ qua ga Đồng Hới, tới Chợ Cộn buôn thúng bán mẹt, đắp đổi kiếm tiền…

Anh chị em tôi lớn lên bằng thân cây chuối, bằng củ sắn, củ khoai hay củ nứa rừng…

Dẫu khó là vậy, mẹ vẫn luôn khéo léo chuẩn bị cho mỗi thành viên một bộ đồ mới vào dịp lễ, Tết. Từ những chiếc quần áo sờn rách của bố và nội, qua bàn tay mẹ, chúng trở thành những bộ đồ lành lặn, xinh xắn của chúng tôi. Chỗ nào bị phèn ruộng úa vàng, mẹ tôi mạng vá thành những hình thù dễ thương.

Quần áo mẹ may thường được làm từ những bao bột mì, bao đựng gạo hay những chất liệu gì có thể.
– Đói cho sạch, rách cho thơm. Mẹ thường dạy thế.

Chỉ cần một trong số chúng tôi, ai mót được củ khoai nhai sống, mẹ cũng hỏi đi hỏi lại thật kỹ càng cho ra nhẽ. . Mẹ sợ chúng tôi túng bẫn mà moi trộm khoai của vườn người ta.
Những lúc như thế, mẹ tôi bị bà nội mắng cho một trận lôi đình.

Nội tôi nổi tiếng khó chịu nhất làng, bà cũng rất chặt chẽ trong chi tiêu. Có hôm nhờ mẹ bán ổi, bà đếm kĩ và phân từng loại quả với giá bao nhiêu hào. Nếu … không đủ, cả nhà sẽ được nghe bà “ca bài ca muôn thuở”. Hàng xóm biết tính nên mỗi lần như thế, ai cũng tới mua giúp để mẹ đỡ phải kiếm tiền bù lỗ…

Ấy vậy mà mẹ vẫn không trách bà. Mẹ để dành những con lươn to, béo mà chúng tôi câu được nửa khuya, cặm cụi vào bếp nấu cháo bồi bổ cho nội và bố.

Mẹ lặng lẽ cam chịu những cơn say rượu của bố tôi. Không phải một lần, hai lần, mà hầu như ngày nào chúng tôi cũng chứng kiến cảnh say sưa, lè nhè của bố trong ma men
– Ba con buồn nên mới uống rượu. Rượu nó hành người ba mệt lắm chớ ba con là người tốt tính. Mẹ động viên chúng tôi.

Thương mẹ, anh chị em tôi đòi bỏ học để phụ mẹ làm thuê kiếm tiền trả nợ.
– Con ơi, mẹ ít học nên nhà mình khổ, con ráng học cho bằng bạn bằng bè, sau này con sướng, con cái sẽ không khổ như con. Nợ hôm nay không trả thì về sau trả. Mẹ lo được tiền đóng học cho con, đừng bỏ học, đừng như mẹ.

Mẹ tôi nhất quyết không chịu. Anh cả , chị hai tôi thỉnh thoảng trốn học đi làm. Còn mấy chị em, đói cũng cố mà lết đến trường.

Hằng ngày, vào lúc nửa khuya, mẹ không quên bắc lên bếp nồi khoai khô trước khi đúc gạch. Khi chúng tôi mò ốc bắt cua về, mẹ kịp dúi vào tay mỗi đứa một gói khoai nhỏ để con vừa đi dọc đường vừa ăn trước giờ đến lớp. Sau buổi tan trường, chị em chia nhau mỗi người một lối…

Những hôm gió mưa, những trưa nắng gắt, mẹ vẫn cứ vội vội vàng vàng chạy công lo việc.

Đã rất nhiều hôm tôi thấy mẹ nhịn đói vì nhà không đủ khoai khô. Lúc đó, tôi chỉ ước mong sao hôm nay lên rừng kiếm được củ nứa..
.
Khi tôi Tốt nghiệp 12 thì cũng là lúc tôi rời mẹ cha theo chị vào Nam kiếm sống. Gia đình tôi cũng thoát cảnh con nợ kiếm tìm. Trước lúc đi, mẹ tôi căn dặn:

– Hai con bảo ban, giúp nhau mà sống cho tốt, ở nhà mẹ lo được.

Các anh chị em tôi lần lượt có bầu trời riêng của mình, tứ tán 4 phương.

Nỗi nhớ thương con cái càng in sâu trong mẹ. Dẫu ít được học hành, thỉnh thoảng, mẹ cũng cầm bút ghi thư thăm con. Nhìn những dòng chữ tròn trịa , xinh xinh mẹ đã học lỏm lúc xay lúa thuê, tôi rất nể phục mẹ .

Ngoài chuyện chăm lo cho bố, mẹ tôi nuôi thêm bầy heo nái kiếm tiền, chỉ mong con cái đỡ vất vả. Vậy rồi, khi con cái về, lại hăm hở ra chợ… Nghe tin đứa nào đau ốm, mẹ lại tất bật xoay tiền để đi thăm, rồi tất tả trở về lo cho bố, cúng giỗ từ đường.

Có bận, vì mãi công việc, mẹ bị té gãy tay mà cố giấu, sợ bố và chúng tôi lo lắng. Cánh tay bị gãy dẫu được phát hiện và băng bột ngày một buốt đau mỗi khi trái gió trở trời vẫn không làm mẹ nản.. Mẹ lặn lội vào Nam, ra Bắc chăm con mỗi khi chị em tôi sinh nở.
Cứ mỗi dịp hè, tôi lại dắt các con về quê để cháu cảm nhận được tình ông bà, máu mủ. Tôi lại bắt gặp hình ảnh mẹ với đôi quang gánh cùng chiếc mũ bảo hiểm trên đầu. Tôi biết, mẹ đội mũ bảo hiểm để dọc đường đi, có ai thương tình chở mẹ ngồi xe, mẹ sẽ nhanh về nhà tưới rau, chăm bố.

Cả đời mẹ tôi lận đận, khổ cực.

Với cái tuổi 77, mẹ vẫn ngày đêm quăng quật khi bố không may bị tai biến, 2 chân không thể cử động.

Tôi chứng kiến cảnh mẹ dùng nửa người để đỡ bố ngồi dậy ăn uống; mẹ lau người, tắm rửa cho bố và bưng bê mọi thứ với niềm hạnh phúc mà thấy nhói lòng.

Tôi lấy chồng chưa một ngày làm dâu. Dẫu chồng công tác xa, khi thỉnh thoảng về nhà vẫn giúp vợ lo cơm lo nước. Những công việc giặt giũ hằng ngày đã có máy giặt làm. Ấy vậy mà, có đôi bận, tôi đã tủi thân khi một mình chăm 2 con nhỏ. Tôi đã thầm khóc khi 3 mẹ con tôi tự chăm nhau trong bệnh viện…Và cũng đã có lần, tôi buồn tủi khi nghe tin bão về, một mình leo thang cõng từng bao cát lên mái. Tôi đã cảm thấy sự vất vả khi không có chồng đỡ đần việc nhà, chăm lo con cái…. mỗi khi bị thanh, kiểm tra hằng năm.

Nhớ có một lần tôi chuyển về trường mới, bắt gặp 1 bác hội trưởng phụ huynh nhà trường là người đồng hương. Sau mấy câu hỏi thăm nơi ở, bác đã nói với tập thể trường rằng: “Mẹ cô này là một phụ nữ tuyệt vời, cực kì chịu thương chịu khó. Ai đến Đồng Hới quê tôi mà nhắc tên “o” đó, chắc chắn sẽ nghe mọi người ngợi ca. Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh….”.

Tôi được thơm lây bởi mẹ. Tôi thấy xấu hổ với mẹ. So với những chuyện mẹ nếm trải, những gì tôi đã, đang và sẽ gặp phải chỉ như cơn gió nhẹ thoảng qua.

Mười năm làm mẹ, tôi cảm thấy mình được trưởng thành hơn, biết thương yêu mẹ hơn…
Cũng ngày 14/7 cách đây 10 năm, mẹ tôi tất tả ngược xuôi lo cho đứa con đầu lòng của tôi ra đời với cánh tay đang bị bó bột. Vậy là, con trai lớn của tôi đã vừa tròn 10 tuổi. Tổ chức sinh nhật cho con, tôi nhớ thương mẹ nhiều. Tôi thấu hiểu phần nào câu ca dao mẹ tôi hát ru thuở nhỏ:

Có con mới biết sự tình
Ngày xưa cha mẹ nuôi mình như ri …

Kêt nối Biển Ngọc

Đọc thêm

THƠ CHO CON

THƯƠNG MẸ

Hoàng Tố Nguyên

Các con chơi bẩn
Quần áo lấm lem
Mẹ đang còn ốm
Cố giặt cho con.

Mẹ đi học xa
Em Long nhớ mẹ
Đêm nằm cứ khóc
Mẹ ơi! Mẹ ơi!

Lâu lâu mẹ về
Mẹ cho con bánh
Em Long thích quá
Quấn theo mẹ hoài

Con cũng thương mẹ
Nhưng con lớn rồi
Con không quấn mẹ
Con chăm viết bài.

1989

THƠ VỀ MẸ

Hoàng Long

Thuở cỏn con, con nằm bên mẹ
Đầu rúc vào lòng, con ấm lắm mẹ ơi
Con thương mẹ đêm ngày tần tảo
Thức đêm dài mẹ may áo cho con

Gió đồng nội trưa hè nắng nóng
Mẹ ngồi khom nhổ cỏ một mình
Mưa đêm lạnh mẹ ngồi lo lắng
Lo cho con yên giấc cơn đau

Con vui sướng khi được ôm lưng mẹ
Mỗi lần mẹ về với chị em con
Đem cho con muôn điều hạnh phúc
Mẹ vẫn luôn nghĩ về chúng con

Thuở thiếu thời con không nghe lời mẹ
Để mỗi lần mẹ đánh con đau
Tuổi nhỏ bồng bột chưa biết nghĩ
Giờ lớn khôn con cố học hành

Con sẽ bay cao bay xa mãi
Tìm đến ánh sáng của tương lai
Tìm ra người bạn con mong ước
Giữ mãi hình mẹ ở trong con

Đảm việc nhà lo toan việc nước
Xây gia đình giữ hạnh phúc cho con
Con muốn tìm, muốn gặp người bạn đó
Người bạn như mẹ, mẹ của con

Xa cha mẹ, chúng con lên thành phố
Nhớ tuổi thơ mẹ nhắc con học hành
Mẹ làm lụng chúng con mong giúp mẹ
Nhưng mẹ chỉ cười “học đi con”

Mẹ đã cho con nhiều hạnh phúc
Dạy cho chúng con biết điều hay
Mẹ cũng chăm con từng giấc ngủ
Mỗi lần con về bên mẹ, mẹ ơi!

Con muốn ở bên mẹ như thuở bé
Cảm nhận tình thương mẹ dành cho con
Thoải mái từng giờ trong hạnh phúc
Bên mẹ, gia đình, giấc ngủ ngon.

2000

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Ghi ơn người phát minh chữ Quốc ngữ

DẠY VÀ HỌC. Đề nghị có một tảng đá văn hóa đặt ở công viên Tao Đán để ghi ơn ông Alexandre de Rhodes, người phát minh ra chữ Quốc ngữ, báu vật vô giá muôn đời của dân tộc Việt Nam. Ông Alexandre de Rhodes là người gốc Do Thái, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1591 tại Avignon trong gia đình một nhà buôn tơ lụa. Ông là nhà ngôn ngữ học thông thạo nhiều thứ tiếng nên đã “lần ra, nhận biết, phân biệt và ghi lại bằng ký hiệu thích hợp những âm thanh khác nhau, đôi khi rất gần gũi, vì thế dễ đánh lừa, trong tiếng Việt”. Ông cũng là một trong những linh mục dòng Tên đầu tiên đến Việt Nam truyền đạo công giáo từ năm 1626: Đến nay, đã 66 năm sau ngày chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập và vận động toàn dân học đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ năm 1945 , 36 năm sau ngày Việt Nam thống nhất 1975. Đây có lẽ là thời gian phù hợp để chúng ta gạn đục khơi trong, đặt tảng đá tưởng niệm cảm ơn chân thành người đã phát minh ra chữ Quốc ngữ, ông Alexandre de Rhodes.


Alexandre de Rhodes và chữ Quốc ngữ

Theo tiến sĩ Alain Guillemin, Viện Nghiên cứu Xã hội học Địa Trung Hải, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Pháp, bản dịch của Ngô Tự Lập đăng tại Viet- Studies 2011 (1), Alexandre de Rhodes đến Hội An khoảng tháng 3 năm 1626. Sau đó đã cùng giáo sĩ dòng Tên Pedro Marques đến Thanh Hóa để giúp đỡ giáo sĩ dòng Tên người Ý Giuliano Baldinotti vốn gặp khó khăn trong việc học tiếng địa phương. Việc giảng đạo này chẳng bao lâu bị gián đoạn vì tin đồn rằng họ làm gián điệp. Alexandre de Rhodes bị chúa Trịnh Tráng quản thúc tại Hà Nội vào tháng Giêng 1630, sau đó bị trục xuất vào tháng 5 năm 1630. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes không thể quay lại Nam Kỳ, vì có thể bị nghi là gián điệp của Đàng Ngoài, nên đã trở lại Macao, nơi ông đã dạy thần học gần 10 năm trước. Trong khoảng thời gian 1640 -1645, ông đã dẫn đầu bốn chuyến đi đến Nam Kỳ, hầu hết các chuyến đi này đều trong sự bí mật vì sự thù ghét của chính quyền địa phương. Ông đã bị trục xuất khỏi Nam Kỳ ngày 3 tháng 7 năm 1645, sau đó đến Macao dạy tiếng Việt cho những người kế nhiệm là Carlo della Roca và Metello Sacano trước khi về lại nước Ý.

Khái quát bối cảnh Việt Nam thời đó: Theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (2), ở Đằng Ngoài, năm đinh mão 1627, chúa Trịnh Tráng nhân khi nhà Minh đang chống nhau với nhà Thanh, họ Mạc ở Cao Bằng thì về hàng, nên đã kiếm cớ xuất quân đánh chúa Nguyễn ở phương Nam lần thứ nhất. Đến năm 1630 chúa Trịnh Tráng xuất quân đánh chúa Nguyễn Phúc Nguyên lần thứ hai, sau khi chúa Nguyễn theo kế Đào Duy Từ, trả lại sắc phong cho vua Lê, chiếm nam sông Giang, đắp lũy Trường Dục để chống quân Trịnh. Ở Đằng Trong, các chúa Nguyễn đã bình định xong Chiêm Thành, đang bảo hộ Chân Lạp. Vùng đất Nam bộ lúc đó nằm trong sự tranh chấp Xiêm – Nguyễn. Nước Xiêm La (Thái Lan ngày nay) vua Phra Naroi dòng dõi nhà Ayouthia đang chiếm cứ phần lớn đất Chân Lạp, đã dùng một người Hi Lạp làm tướng. Người này xin vua Thái giao thiệp với nước Pháp, do đó năm 1620 sứ thần của Xiêm La đã sang bái yết vua Pháp Louis XIV ở điện Versailes. Các giáo sĩ người Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha cũng đang tranh giành ảnh hưởng theo ý đồ chính trị của mỗi nước thực dân tìm kiếm thuộc địa. Nhiều thế lực thực dân phương Tây và phong kiến phương Đông chăm chú nhiều đến vùng đất phương Nam ( HK chú dẫn).

Tại Roma, Alexandre de Rhodes báo cáo tinh hình cho Vatican, đề xuất hỗ trợ thành lập hội truyền giáo và vận động bổ nhiệm giám mục địa phương cho Đằng Ngoài và Đằng Trong. Ông rời Roma ngày 11 tháng 9 năm 1652 đến Thụy Sĩ và Pháp để tìm người và kinh phí cần thiết cho sự truyền giáo ở Việt Nam. Tại đây, ông đã gặp giáo sĩ dòng Tên Jean Bagot, vị cha cố có quan hệ rất rộng trong giới cầm quyền và là người đã từng làm lễ xưng tội cho vua Louis XIV. Ông tuyển mộ trong số các môn đệ của Cha Bagot một số tình nguyện viên đi Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Đặc biệt trong đó có François Pallu, người sẽ là một trong ba khâm mạng Tòa thánh được Giáo Hoàng bổ nhiệm năm 1658 cho các sứ mệnh ở châu Á. Đây cũng là hành động khởi đầu cho việc thành lập Hội truyền giáo hải ngoại Paris (MEP). Ông cũng xin được kinh phí cho Hội Ái hữu (SS), Do sự bất hòa giữa Giáo Hoàng, vua Bồ Đào Nha và các tổ chức truyền đạo nên ông bị thất sủng và được gửi đến Ba Tư vào tháng 11 năm 1654 và qua đời tại đây vào tháng 11 năm 1660.

Alexandre de Rhodes thông thạo nhiều thứ tiếng. Ông biết 12-13 thứ tiếng: ngoài tiếng Pháp và tiếng mẹ đẻ Provencal Ông thông thạo tiếng Latin, Hy Lạp, Italia, Do Thái, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Canarin, Trung Quốc, Nhật Bản, Ba Tư và tiếng Việt. Ông rất khiêm tốn và ham học hỏi. Ông nói “Thú thật là khi tôi đến Nam Kỳ và nghe tiếng nói của người bản địa, đặc biệt là phụ nữ, tôi cảm thấy như nghe tiếng chim hót líu lo và tôi mất hết hy vọng có ngày học được thứ tiếng ấy”. “Tôi ghi lòng tạc dạ việc này: Tôi học hàng ngày chăm chỉ hệt như trước đây học thần học ở Roma,…sau bốn tháng, tôi đã có thể nghe hiểu những lời xưng tội, sau sáu tháng, có thể giảng đạo bằng tiếng Nam Kỳ,…”. Chính vì thế ông đã ” lần ra, nhận biết, phân biệt và ghi lại bằng ký hiệu thích hợp những âm thanh khác nhau, đôi khi rất gần gũi, vì thế dễ đánh lừa…” của ngôn ngữ người Việt

Hai cuốn sách của ông xuất bản ở Roma năm 1651 (Dictionarium Anamiticum Lusitanum et Latinum” và “Catechismus Pro iis qui volunt suscipere Batismum) là hai tác phẩm nền tảng, không thể thay thế, đặt cơ sở cho việc ký âm tiếng Việt bằng chữ cái Latinh và ngoài ra còn cho chúng ta biết được hình trạng tiếng Việt thế kỷ XVII cùng sự tiến hóa của nó. Một cuốn sách khác của ông (cuốn “Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio”) có phần tóm tắt ngữ pháp 31 trang ở cuối, đã “đưa ra một tổng quan vắn tắt để bàn đến vấn đề từ loại trong tiếng Việt.” bao gồm: Chữ và âm tiết trong tiếng An Nam (Chương 1); Dấu thanh và các dấu của các nguyên âm (Chương 2); Danh từ, tính từ và phó từ (chương 3); Đại từ (Chương 4); Các đại từ khác (chương 5); Động từ (Chương 6); Các thành tố bất biến trong tiếng Việt (Chương 7); Một số thành tố của cú pháp (Chương 8). Đây là đóng góp đặc sắc của ông, không thể thay thế.

Giáo sĩ Lèopold Cadière, người rất am hiểu vấn đề đã viết về ông: “Mọi điều liên quan đến tiếng An Nam, phương ngữ Bắc Bộ và phương ngữ Nam Kỳ đều không phải là bí mật đối với ông… Ông còn cho chúng ta biết về thực trạng của tiếng An Nam cổ, những phong tục, tập quán ngày nay không còn và những thông tin mà chúng ta không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác… Thêm nữa, về nghĩa của các từ, cuốn sách là một sự đảm bảo tuyệt đối, những khái niệm ngữ pháp ông thêm vào cuốn từ điển cho thấy ông hiểu biết sâu sắc về cấu trúc đôi khi rất phức tạp và tinh tế của cú pháp An Nam” (Cadière, 1915, tr. 238-39 được trích dẫn bởi Alain Guillemin ). Alexandre de Rhodes bám rất sát thực tiễn ngôn ngữ của người Việt trong các tầng lớp xã hội khác nhau và đã phát triển hệ thống chữ Việt dùng chữ cái trên cơ sở kế thừa nhiều công trình trước đó, trong đó có cả di sản tiếng Nôm. Trên thực tế sự sáng tạo chữ Quốc ngữ là tinh hoa trí tuệ của rất nhiều người mà công đầu là Alexandre de Rhodes.

Hồ Chí Minh và sự truyền bá chữ Quốc ngữ

Sau Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ đã nêu ra “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“: “Môt là, nhân dân đang ĐÓI. Vấn đề thứ hai, nạn DỐT. Vấn đề thứ ba TỔNG TUYỂN CỬ. Vấn đề thứ tư giáo dục lại nhân dân bằng cách thực hiện CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH. Vấn đề thứ năm: bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, CẤM HÚT THUỐC PHIỆN. Vấn đề thứ sáu: tuyên bố TÍN NGƯỠNG TỰ DO và lương giáo đoàn kết” (3). Trong nhiệm vụ cấp bách thứ hai, Bác chỉ rõ: “Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ. Nhưng chỉ cần ba tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch đế chống nạn mù chữ

Tiếng Việt và chữ quốc ngữ là lợi khí quốc gia giúp cho một dân tộc nhỏ yếu vùng lên làm chủ vận mệnh của mình, đào tạo nên hàng triệu người dân thường gánh vác việc nước. Điều này đã thể hiện rõ trong Võ Nguyên Giáp một cuộc đời khi ông trả lời Alanh-Rut xi ô :”Học thuyết quân sự cổ điển, khoa học quân sự truyền thống dạy rằng muốn giành thắng lợi, phải biết tập trung cùng một lúc ưu thế quân số và ưu thế kỹ thuật. Ông có thể thấy điều đó ở Na-pô-lê-ông. Thế nhưng chúng tôi lại ở vào tình thế phải lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Chúng tôi phải chấp nhận, nếu không Tổ quốc chúng tôi sẽ bị thôn tính. Vậy đương đầu như thế nào? Đó là chiến tranh toàn dân. Chiến tranh toàn dân là bí quyết của sự chiến thắng của chúng tôi…”

Trên thế giới có lẽ hiếm có nước nào xóa nạn mù chữ toàn dân nhanh đến như vậy, hiếm có một dân tộc nào vùng dậy mạnh mẽ như vậy, nên đã làm cho một danh tướng của đối phương đã phải thốt lên “một quân đội có thể đánh bại một quân đội. Một quân đội không thể đánh thắng một dân tộc.” Gần 70 năm nhìn lại, bài học về Hồ Chí Minh và sự truyền bá chữ Quốc ngữ vẫn nóng hổi tính thời sự. Chữ Quốc ngữ đúng là lợi khí quốc gia “Sinh tử phù” mà dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, mất gốc. Trên ý nghĩa đó, chúng ta nên gạn đục khơi trong, trả lại sự công bằng cho người đã có công phát minh chữ quốc ngữ.

Ghi ơn người phát minh chữ Quốc ngữ ?

Tháng 5 năm 1941, chính quyền thực dân dựng một đài tưởng niệm tại một góc nhỏ phía Đông Bắc hồ Hoàn Kiếm.  Đó là một tấm bia đá cao 1,7m, rộng 1,1m, dày 0,2m, trên có khắc, bằng các thứ chữ Quốc ngữ, Hán và Pháp, công đức của linh mục dòng Tên Alexandre de Rhodes. Tin này được tờ «Tân Tri», số 13 tháng 6 năm 1941, thông báo như sau: “…Ông Alexandre de Rhodes đã sống lại với dân Hà Thành trong lễ khánh thành đài kỷ niệm ông. Buổi lễ được tổ chức trong bầu không khí trang nghiêm và cảm động…Ngày nay, chữ Quốc ngữ được coi là rường cột của tiếng ta, đó là lý do vì sao chúng ta không thể không cảm ơn chân thành người đã phát minh ra nó, ông Alexandre de Rhodes.

Những năm tháng chiến tranh, khi đất nước chưa có độc lập và thống nhất toàn vẹn, tấm bia đá đã bị gỡ bỏ như là việc chối bỏ sự lợi dụng khai hóa văn minh để áp đặt sự thống trị của dân tộc này đối với dân tộc khác. Đến những năm 1980, tại khoảng không gian tưởng niệm dành cho Alexandre de Rhodes mọc lên một tượng đài cách mạng trắng tinh khôi tuyệt đẹp, tôn vinh những người yêu nước: ba pho tượng người chiến sĩ cỡ lớn, một trong số đó là phụ nữ. Trên bệ, có dòng chữ: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.” . Đó đã là điều khẳng định lý tưởng: “Không có gí quý hơn độc lập, tự do”

Tổ Quốc Việt Nam hồi sinh bởi hàng triệu con dân Việt đã “xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”. Năm 1993, Giáo sư Nguyễn Lân đã nhắc đến đài tưởng niệm giáo sĩ người Pháp. Theo ông, đáng lẽ không nên gỡ bỏ đài kỷ niệm ấy. “Hành động này cho thấy một nhận thức thiển cận, sự thiếu hiểu biết về lịch sử và, dù sao đi chăng nữa, cũng không xứng đáng với truyền thống của dân tộc ta. Alexandre de Rhodes, chẳng phải là ông đã làm việc cho người Việt Nam hay sao? Chữ Quốc ngữ, thứ chữ dễ học hơn nhiều so với chữ tượng hình, đã giúp phần lớn dân chúng tiếp cận tri thức và thông tin… Và nhà truyền giáo cũng là một nhà nhân văn chủ nghĩa, gần gũi với dân chúng.”.

Nay có lẽ là thời gian phù hợp để chúng ta gạn đục khơi trong, đặt hòn đá tưởng niệm cảm ơn chân thành người đã phát minh ra chữ Quốc ngữ: Alexandre de Rhodes

Tôi đề nghị dựng lại bia của ông Alexandre de Rhodes ở công viên Tao Đàn, Hà Nội (theo ý kiến của GS. Nguyễn Lân) và đặt tảng đá tưởng niệm tại công viên Tao Đàn thành phố Hồ Chí Minh (tương tự như tảng đá Bill Clinton tại Quế Lâm – hình trên) và nếu có thể tại vườn đá Huế.

Hoàng Kim
TS. GVC Cây Lương thực, Khoa Nông học
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo chính

1) Alain Guillemin 2011. ALEXANDRE DE RHODES CÓ PHÁT MINH RA CHỮ QUỐC NGỮ? TS. Viện Nghiên cứu Xã hội học Địa Trung Hải, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Pháp. Bản dịch của Ngô Tự Lập . Viet-Studies.info

2. Hồ Chí Minh 1945. Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hồ Chí Minh tuyển tập, tập 2. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, năm 2002 trang 1-3

3. Trần Trọng Kim 1921. Việt Nam sử lược. Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 1999, trang 318-320.

Trở về trang chính

Dạy và học BlogtiengViet
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Nguyên Ngọc nói về học sử

DẠY VÀ HỌCĐể nhận ra cái biện chứng lạ lùng và tất yếu của lịch sử  (bản gốc trên blog Quê Choa) là những suy tư, trăn trở của nhà văn Nguyên Ngọc đối với thực trang xã hội chỉ coi trọng kỹ  thuật công nghệ mà xem nhẹ lịch sử, văn hóa  hiện nay. Ông viết “Cách đây mấy năm trường đại học Harvard nổi tiếng của Mỹ đã rà soát lại toàn bộ chiến lược của họ, và nghiêm khắc nhận ra, mặc dầu đã cố gắng rất nhiều, họ vẫn còn coi trọng chưa đủ các môn xã hội nhân văn và quyết chuyển hướng mạnh mẽ hơn nữa vào các môn ấy. Bởi vì đối với bất cứ xã hội nào, ở bất cứ “thời đại” nào, thời đại phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ thì càng khẩn thiết hơn, chính khoa học xã hội nhân văn là hết sức cần thiết để giữ cái nền bền chắc cho xã hội và con người, cho sự phát triển bền vững, cho con người dẫu có khoa học công nghệ cao đến đâu, vật chất nhiều đến đâu, cũng vẫn còn là con người chứ không phải là những cái máy khô cằn, nhất là những cái máy chỉ biết hau háu làm ra tiền và nhai tiền. Giữ cho nhân loại còn là nhân loại, chứ không là một đống những vật tinh xảo mà vô cảm và vô lương.”. Bài viết thật xùc động !

ĐỂ NHẬN RA CÁI BIỆN CHỨNG LẠ LÙNG VÀ TẤT YẾU CỦA LỊCH SỬ

Nguyên Ngọc


Giáo sư Văn Như Cương viết: “Trong kì thi đại học vừa qua, điểm thi môn Sử thấp một cách thảm hại. Nói chung chỉ độ 4% trên điểm trung bình. Nhiều trường có tới 99% điểm dưới trung bình, mà chủ yếu là điểm 0 và điểm 1. Có trường chỉ 1 thí sinh có điểm 5 là cao nhất. Vẫn biết chuyện dạy Sử và học Sử từ trước đến nay đã có nhiều vấn đề nhức nhối, nhưng một kết quả như năm nay thực sự làm cho xã hội xôn xao, và làm đau đầu các nhà quản lí giáo dục, các nhà sử học, các thầy giáo, học sinh và cha mẹ học sinh…”

Thưa giáo sư Cương, ông nhầm rồi! Có một nhà quản lý giáo dục, mà là người đứng đầu, có trách nhiệm lớn nhất trong các nhà quản lý giáo dục, không hề “đau đầu” như giáo sư tưởng và tin. Trái lại, với cái đầu vô cùng thanh thản, hết sức vui vẻ thoải mái, tuyệt đối bình tĩnh, ông ấy nói: “Đấy là chuyện bình thường”. Chuyện nhỏ xíu ấy mà, gì mà rối lên thế! Thậm chí thấp vậy chứ thấp nữa, chẳng hạn toàn bộ thí sinh thi sử đều bị điểm không, cũng chẳng lay chuyển được sự bình tâm của ông, bởi vì ông đã có một phép mầu, ông đã tìm ra một thủ phạm tuyệt đối và tuyệt vời: Thời đại! Chắc như đinh đóng cột và với một sự liều lĩnh khó tin, ông tuyên bố trước những người đối thoại: “Điểm Lịch sử thấp là vấn đề của thời đại. Các bạn hãy nhìn rộng ra nhiều nước, không chỉ ở Việt Nam có hiện tượng ấy… Có những thứ do thời đại, do xu thế phát triển tác động. Nhìn kỹ một chút các bạn sẽ thấy môn lịch sử kém thu hút, điểm Lịch sử thấp không phải chỉ ở Việt Nam, ở châu Á. Đó là chuyện của thời đại, của thế hệ này, do cách mạng khoa học công nghệ, do sự biến đổi, đòi hỏi của thị trường lao động…” Nghĩa là ngoài “thời đại”, ông còn tìm ra thêm được mấy thủ phạm đích đáng nữa, đều là con đẻ của cái “thời đại” chết tiệt kia: “xu thế phát triển”, “thế hệ này”, “cách mạng khoa học công nghệ”, “sự biến đổi đòi hỏi của thị trường lao động” v.v…

Liều lĩnh khó tin, bởi xin hỏi: nhờ ông “nhìn rộng ra” và chỉ cho biết, dù chỉ một ví dụ thôi, với tất cả các thủ phạm như ông đã dễ dàng phát hiện, có nơi nào trên toàn thế giới có kết quả thi môn lịch sử thê thảm như vừa rồi trong nền giáo dục do ông đảm trách trước quốc dân?

Đây là chuyện hết sức nghiêm túc, nên cũng phải nói với nhau rất nghiêm túc.

Trước hết, chính các thứ thời đại, xu thế, thế hệ, cách mạng khoa học công nghệ, biến đổi thị trường lao động… như ông vừa kể lại đòi hỏi hơn bao giờ hết phải coi trọng  khoa học xã hội nhân văn, trong đó có sử và môn sử (và cả môn văn nữa, mà kết quả vừa rồi cũng chẳng hay ho hơn mấy). Xin nêu một bằng chứng: chính là đứng trước những vấn đề như vậy, mà cách đây mấy năm trường đại học Harvard nổi tiếng của Mỹ đã rà soát lại toàn bộ chiến lược của họ, và nghiêm khắc nhận ra, mặc dầu đã cố gắng rất nhiều, họ vẫn còn coi trọng chưa đủ các môn xã hội nhân văn và quyết chuyển hướng mạnh mẽ hơn nữa vào các môn ấy. Bởi vì đối với bất cứ xã hội nào, ở bất cứ “thời đại” nào, thời đại phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ thì càng khẩn thiết hơn, chính khoa học xã hội nhân văn là hết sức cần thiết để giữ cái nền bền chắc cho xã hội và con người, cho sự phát triển bền vững, cho con người dẫu có khoa học công nghệ cao đến đâu, vật chất nhiều đến đâu, cũng vẫn còn là con người chứ không phải là những cái máy khô cằn, nhất là những cái máy chỉ biết hau háu làm ra tiền và nhai tiền. Giữ cho nhân loại còn là nhân loại, chứ không là một đống những vật tinh xảo mà vô cảm và vô lương. Một xã hội quay lưng lại với các khoa học xã hội và nhân văn là một xã hội suy đồi. Một nền giáo dục trong thực tế liệt khối C xuống hạng bét, để cho “chuột chạy cùng sào mới vào khối C”, là một nền giáo dục suy đồi. Và bế tắc. Buồn thay đó chính là tình trạng thực của nền giáo dục chúng ta hiện nay. Và đừng nói rằng điều đó không liên quan gì đến tội ác gia tăng trong xã hội, và cả trong học đường, làm nhức nhối toàn xã hội, còn những người đứng đầu ngành giáo dục thì bình chân như vại. Tất nhiên vấn đề ở đây lớn hơn vấn đề giáo dục, lớn hơn vấn đề của ngành giáo dục, nhưng muốn nói gì thì nói, ngành giáo dục phải chịu trách nhiệm chính. Bởi vì nó được sinh ra, xã hội bỏ tiền mồ hôi nước mắt ra nuôi nó, là để nó làm trước hết công việc ấy: giữ cái nền bình ổn lâu dài vững chãi cho xã hội, cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Quả đã đến lúc cần rà soát lại một cách căn bản toàn bộ chiến lược của nền giáo dục này; và câu hỏi căn bản, đầu tiên là: nó định chế ra máy hay đào tạo ra người? Nếu quả nó định đào tạo ra người thì nhất thiết không vì bất cứ lý do gì, vì lý do “thời đại” càng không, có thể để mặc cho khối C lủi thủi như vậy, không thể coi kết quả thảm hại của thi sử năm nay là bình thường. Đấy là thảm họa, bởi vì đấy không chỉ là chuyện kết quả học sử thi sử như thế nào, mà là dấu hiệu con người coi các giá trị tinh thần và nhân văn chẳng còn đáng xu nào! Một thảm họa xã hội!

Mấy hôm nay nhiều người đã bàn tán xôn xao về sự cố này, và nhiều ý kiến đã tập trung vào cách dạy và học sử. Chắc đều đúng. Tuy nhiên hình như cũng chưa đến lõi của vấn đề. Hẳn ai cũng biết trong các môn học ở trường hiện nay, bị học sinh sinh viên chán nhất, ghét nhất, do đó cũng học kém nhất, học một cách đối phó nhất, kết quả tất cũng tệ nhất là môn sử và môn văn – cùng một vài môn khác thuộc cái gọi là “chương trình cứng” – . Vì sao? Rất đơn giản, và chắc cũng không ít người biết rõ nhưng vì lý do này khác đã không nói ra. Thôi thì cho tôi nói thật vậy: vì đó là những môn bị chính trị hóa nhiều nhất, nặng nề nhất! Chính trị chắc chắn không có gì là xấu, trái lại là khác. Rất cần thiết và cũng có thể rất hay. Học chính trị là quá cần thiết chứ, và có thể dạy thật hay nữa. Nhưng sử là sử, văn là văn, chính trị là chính trị, không thể và hoàn toàn không nên lẫn lộn, dùng cái này để làm cái kia, đem cái này làm công cụ cho cái kia. Cũng không phải là “thống soái” để cho tất cả những cái khác, môn khác phải châu vào cúi đầu phục vụ nó. Mỗi cái có chức năng riêng không thể thay thế của nó để làm nên con người ra người. Nói trắng ra, hiện nay người ta chán, ghét học văn, học sử, là vì dạy văn thì có thật sự dạy văn đâu mà là dùng văn để dạy chính trị, chủ yếu để dạy chính trị. Sử cũng hoàn toàn như vậy, không hề khác. Một ví dụ: có lần tôi đã nói với một người hiện có vị trí rất cao trong lãnh đạo đất nước rằng tất cả các đề thi sử tốt nghiệp và thi vào đại học gần 40 năm nay đều chỉ hỏi về lịch sử Việt Nam từ sau năm 1930. Cứ như chỉ từ năm 1930 nước ta mới có cái gọi là lịch sử, còn trước đó … chỉ là tiền sử, là thời man dã, người còn là khỉ vượn gì đó thôi chứ chưa thành người! Ông ấy ngạc nhiên hỏi thật thế sao? Thì anh cứ kiểm tra  mà xem, tôi bảo. Không biết sau đó ông ấy có kiểm tra không, nhưng rồi không thấy ông nói gì nữa … Học sử học văn như thế, thú thật đến tôi cũng chán ghét, và đi thi chưa chắc đã được 0,5 điểm như thí sinh tội nghiệp vừa rồi.

Ông Bộ trưởng hỏi: Thì tin học có gì hấp dẫn đâu nào, tại sao người ta vẫn lao vào học? Một là, hấp dẫn quá chứ, ít nhất nó cũng cho ta thấy con người có thể sáng tạo ra những thứ thông mình đến chừng nào, chẳng thú vị sao? Nhưng còn có điều quan trọng hơn: nó không bị chính trị hóa, không dễ gì chính trị hóa nó như văn và sử.

Vậy đó, sự thật! Còn e dè, sợ “nhạy cảm”, tránh né nhau, kiêng sợ những lực lượng vô hình như thần thánh, không dám nói thật ra thì có thay đổi cách học cách dạy đến mấy, khéo sang năm môn sử lại 99,99% dưới điểm 5 cho mà xem. Và văn cũng không hơn đâu. Nhìn thẳng, nói thẳng một lần cho xong đi, để mà còn tiến lên cùng thiên hạ, để có một nền giáo dục thực sự lành mạnh và hiệu quả, đào tạo con người ra người, cho một đất nước thật sự văn minh.

Gần đây giáo sư Ngô Việt Trung, viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, đã nói rất thẳng thắn: Phải tách khoa học ra khỏi thế quyền. Giáo sư Hoàng Tụy thì nói: Phải “thế tục hóa”nền giáo dục của chúng ta. Ai cũng biết cuộc cách mạng về giáo dục ở chấu Âu đưa đến nền giáo dục hiện đại rực rỡ ngày nay, là kết quả tuyệt vời của cuộc đấu tranh thế tục hóa giáo dục, giải phóng giáo dục ra khỏi kìm chế lâu dài của Nhà thờ. Cần hiểu lời Hoàng Tụy trong ý nghĩa đó.

Nhân nói chuyện sử, xin kể điều này: Ở Pháp có một tổ chức do các nhà sử học độc lập lập ra, tên là CVUH (Comité  de Vigilance face à l’usage public de l’histoire), có thể dịch là Ủy Ban Cảnh giác đối mặt với việc đưa Lịch ra sử dụng trong Công chúng. Vậy đó, lịch sử luôn rất dễ bị lợi dụng, thậm chí bóp méo, cắt xén, cắt nghĩa tùy tiện bởi các thế lực khác nhau nhằm làm công cụ cho những mục đích phi lịch sử. Ở nhà trường, cảnh giác với lợi dụng này càng phải ráo riết hơn. Học lịch sử tuyệt nhiên cũng không cần nhớ thuộc lòng đến mụ mị bất cứ ngày tháng phiền phức và vô ích nào, khi như lời ông Bộ trưởng, chúng ta đang sống trong “thời đại” này, cái thời đại chỉ cần nhẹ tay nhấp chuột là ra tất cả. Học sử là để có cái mà không bất cứ con chuột hiện đại nào nhấp ra được cho ta: nhận ra được biện chứng lạ lùng và tất yếu của lịch sử, để mà biết làm người cho xứng đáng người, làm công dân độc lập, tự chủ, sáng tạo, đầy trách nhiệm của nước Việt và của thế giới. Đặc biệt hôm nay, khi vận mệnh Tổ quốc một lần nữa lại đứng trước thử thách lớn.

N. N

Nguồn: Nguyễn Quang Lập
Tác giả gửi cho Quêchoa

Lời bình của Nguyễn Quang Lập: ” Sau khi đưa bài Để nhận ra cái biện chứng lạ lùng và tất yếu của lịch sử trên SGTT, mình nhận được email của bác Nguyên Ngọc gửi cho bản gốc, với lời nhắn: “Đây là bài nguyên văn, Sài gòn tiếp thị đã cắt hơn nửa bài. Tùy Lập sử dụng.” Rất mừng, xin chân thành cảm ơn bác Nguyên Ngọc đã gửi cho bản gốc, đọc rất sướng.”

Thư mục Hoàng Kim chọn lọc về Nguyên Ngọc

DẠY VÀ HỌC, NGỌC PHƯƠNG NAM

Sự bùng nổ tích hợp truyền thông

DẠY VÀ HỌC. Sự bùng nổ của tích hợp phương tiện truyền thông xã hội đang là vấn đề thời sự đặc biệt quan trọng của mọi quốc gia. Phương tiện truyền thông xã hội đang trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Hơn 2 tỉ lượt người xem video mỗi ngày trên Youtube, 550 triệu lượt người sử dụng Facebook, 65 triệu người dùng Twitter, Joseph S. Nye, Giáo sư Đại học Harvard, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ đã nhấn mạnh tính hiện thực của quyền lực ảo. Trang www.tamaleaver.net/ cập nhật thông tin về Bản đồ mạng xã hội toàn cầu (World Map of Social Networks, June 2010); Trang http://www.genk.vn/ điểm tin các chủ đề: Mạng xã hội sẽ biến chuyển thế nào trong năm 2011? Bản đồ thế giới mới dưới cái nhìn của từ Facebook; Vinh danh ông chủ Facebook là “Nhân vật của năm 2010”; Mạng xã hội Twitter, một năm nhìn lại ; Khám phá Qwiki – Công cụ tìm kiếm của tương lai; Zing Me là mạng xã hội quyền lực nhất Việt Nam;

Theo Jin tại http://www.genk.vn/ , năm 2011 những phương tiện truyền thông được mở rộng hơn với làn sóng các nhà phát hành cung cấp dịch vụ trọn gói riêng biệt và độc quyền. Các cơ quan quảng cáo sẽ đưa ra chiến lược quảng bá mới sáng tạo. Những công ty viễn thông đem đến khả năng lưu trữ và cung cấp thông tin lớn hơn, tính tích hợp mạnh hơnvới những trải nghiệm học thuật chuyên sâu và hấp dẫn. Hiện tại các công ty chỉ sử dụng những mạng xã hội để xây dựng tên tuổi và hỗ trợ khách hàng. Trong tương lai, họ sẽ dựa vào những ý kiến phản hồi trên các trang mạng xã hội để đưa ra quyết định chiến lược và thực thi trong mục tiêu công ty, kế hoạch marketing, lộ trình sản phẩm và hơn thế nữa. Thiết bị di động với cơ sở hạ tầng, và thiết kế được tích hợp sẽ tương tác với nội dung, công ty và web nhiều hơn trên máy tính. Nhà cung cấp IT và dịch vụ sẽ sáng tạo ra những giải pháp dựa trên các hoạt động và phương thức sử dụng của người tiêu dùng. Mạng xã hội sẽ có thể trở thành một xã hội thu nhỏ gần gũi với đời thực.các thương hiệu sẽ có cơ hội nổi tiếng trên mạng trước và các mối quan hệ với khách hàng cũng dễ dàng được thiết lập hơn . Video ở khắp mọi nơi Video giúp cung cấp thông tin và những ý tưởng khó biểu hiện bằng lời. Trên Twitter hay Facebook, các đoạn phim sẽ trở thành nhân tố quan trọng trong việc định hình nhận thức. Tâm lý đang thay đổi Việc tương tác với internet đang làm nhận thức và cách thức thu thập kinh nghiệm của con người thay đổi. Nếu trước đây phải trải nghiệm thực tế để hiểu được sự việc, thì ngày nay người ta chỉ việc “google”. Hàng ngày chúng ta phải đối mặt với nhiều câu hỏi liên quan tới tâm lý bản thân. Bởi vậy, các công ty đang cố gắng tìm hiểu một thứ gọi là “mối liên quan giữa tâm lí học và công nghệ”. Nếu thành công, họ sẽ đoán biết được người dùng internet đang có xu hướng gì để thuận tiện hơn trong việc kinh doanh. Kinh doanh trên internet sẽ nóng lên và đồng thời tính bảo mật đang được chú trọng hơn nữa.được quan tâm và cải thiện hơn. Vai trò những nhà chiến lược phương tiện truyền thông xã hội sẽ thay đổi; Bạn có nhiều thông tin hơn và dễ dàng phân loại chúng hơn.Năm 2011, những nhà cung cấp phương tiện truyền thông xã hội sẽ tích hợp những công cụ xã hội với việc phân tích, hỗ trợ giáo dục, tích hợp tư duy xã hội trong văn hóa công ty. Nhờ đó, thông tin đến với người dùng sẽ giá trị hơn.

Theo www.tamaleaver.net/ , Facebook đang mở rộng tầm ảnh hưởng của mình trên phạm vi toàn thế giới và nắm ngôi vị số một với trên 550 triệu người sử dụng. Tuy vậy, Facebook vẫn chưa vượt qua các đối thủ nội địa tại các nước Trung Quốc , Nga, Nhật Bản, Brazil và Việt Nam. Mạng xã hội QQ ở Trung Quốc, Orkut ở Brazil, V.Kontakte ở Nga, Mixi ở Nhật Bản. Ông lớn Facebook cũng phải chịu thất thủ trước Zing Me là mạng xã hội “made in Việt Nam” đầu tiên ra mắt cách đây hơn một năm và hiện đang vượt trước Facebook tại thị trường Việt Nam.

Theo Đức Toàn http://www.genk.vn/,%20Zing Me hiện là mạng xã hội quyền lực nhất Việt Nam theo bản đồ của H&K. Zing Me là mạng xã hội của công ty Vinagame, thành lập từ tháng 06 năm 2009. Kể từ khi ra mắt, Zing Me nhanh chóng trở thành ngôi nhà chung của đông đảo giới trẻ, đặc biệt là thế hệ 9x – thế hệ của kỉ nguyên bùng nổ Internet. Zing Me chú trọng tới các tính năng đặc trưng của một mạng xã hội như kết bạn, chat trực tuyến, viết blog, lập câu lạc bộ. Bên cạnh đó, các thành viên còn có thể tham gia diễn đàn, nghe nhạc, xem phim, chia sẻ ảnh và tham gia các trò chơi trực tuyến. Ngoài việc xây dựng thế giới ảo, Zing Me còn thường xuyên tổ chức các sự kiện đối với người sử dụng của mình nói riêng hay cộng đồng nói chung và nhận được nhiều phản hồi tích cực. Zing Me cũng là mạng xã hội đầu tiên ở Việt Nam ứng dụng công nghệ web thời gian thực, cho phép các hãng thứ ba phát triển ứng dụng cho nền tảng của mình, làm phong phú thêm nội dung cho hệ thống. Phiên bản di động của Zing Me cũng đã xuất hiện trên siêu thị ứng dụng trực tuyến App Store của Apple để phục vụ thành viên mọi nơi mọi lúc. Nắm bắt thị hiếu của giới trẻ, sáng tạo trong cách thức quản lí, Zing Me đã nhanh chóng vượt qua Facebook về số lượng thành viên chỉ sau một thời gian ngắn ra mắt. Hiện tại, đứa con của VinaGame đã cán mốc gần 7 triệu lượt người .

Hoàng Kim
điểm tin tổng hợp

Xem chi tiết:
Mạng xã hội sẽ biến chuyển thế nào trong năm 2011?
Vinh danh ông chủ Facebook là “Nhân vật của năm 2010”
Mạng xã hội Twitter, một năm nhìn lại ;
Khám phá Qwiki – Công cụ tìm kiếm của tương lai;
Zing Me là mạng xã hội quyền lực nhất Việt Nam;

Minh triết sống thung dung phúc hậu

THUNG DUNG. Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.

Bài giảng đầu tiên của Phật

Tứ Diệu đế – Sự khổ: Nguyên nhân, Kết quả và Giải pháp – là bài giảng đầu tiên của Phật (Thích ca Mầu ni -Siddhartha Gamtama), nhà hiền triết phương đông cổ đại. Người là hoàng tử Ấn Độ, đã có vợ con xinh đẹp nhưng trăn trở trước sự đau khổ, thiếu hoàn thiện và vô thường (Dukkha) của đời người mà Phật đã xuất gia vào năm hai mươi chín tuổi để đi tìm sự giác ngộ. Người đã dấn thân suốt sáu năm trời tự mình đi tìm kiếm những vị hiền triết nổi tiếng khắp mọi nơi trong vùng để học hỏi và thực hành những phương pháp khác nhau nhưng vẫn chưa đạt ngộ.  Cho đến một buổi chiều ngồi dưới gốc bồ đề, thốt nhiên Người giác ngộ chân lý  mầu nhiệm lúc ba mươi lăm tuổi. Sau đó, Người đã  có bài giảng đầu tiên cho năm người bạn tu hành. Mười năm sau, Phật thuyết pháp cho mọi hạng người và đến 80 tuổi thì mất ở Kusinara (Uttar Pradesh ngày nay). Học thuyết Phật giáo hiện có trên 500 triệu người noi theo.

Bài giảng đầu tiên của Phật là thấu hiểu sự khổ (dukkha), nguyên nhân (samudaya), kết quả  (nirodha) và giải pháp (magga). Tôn giáo được đức Phật đề xuất là vụ nổ Big Bang trong nhận thức, san bằng mọi định kiến và  khác hẵn với tất cả các tôn giáo khác trước đó hoặc cùng thời trong lịch sử Ấn Độ cũng như trong lịch sử nhân loại. Phật giáo chủ trương bình đẳng giai cấp, bình đẳng giữa con người có máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn, hết thảy các pháp là vô ngã. Mục đích là vô ngã là sự chấm dứt đau khổ và phiền muộn để đạt sự chứng ngộ bất tử, Niết bàn.

Kinh Phật với triết lý vô ngã: Chân lý là suối nguồn, chứ không phải là con người thần thánh hoặc chân lý tuyệt đối. Vị trí độc đáo của Phật giáo là một học thuyết mang đầy đủ tính cách mạng tư tưởng và cách mạng xã hội (1). Tiến sĩ triết học Walpola Rahula là giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Ceylan (Pháp) đã tìm tòi văn bản cổ và giới thiệu tài liệu nghiêm túc, đáng tin cậy này (Lời Phật dạy. Lê Diên biên dịch). (2)

Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông (Trần Khâm 1258- 1308) là vua Phật đời Trân (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước vua Trần Anh Tông). Người là tổ sư Trúc Lâm Yên Tử, nhà chiến lược kỳ tài, nhà văn hóa kiệt xuất, nhà thơ lớn và Con Người Hoàn Hảo của dân tộc Việt Nam. Người đã viết: Cư trần lạc đạo, triêt lý nhân sinh rất nổi tiếng “Ở đời vui đạo, mặc tùy duyên/ Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền/ Kho báu trong nhà thôi tìm kiếm/ Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền.”

Trần Nhân Tông với 50 năm cuộc đời đã kịp làm được năm việc lớn không ai sánh kịp trong mọi thời đại của tất cả các dân tộc trên toàn thế giới : 1) Minh quân lỗi lạc, làm vua 15 năm (1278 – 1293) trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến hai lần đánh thắng quân Nguyên Mông là đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới của thời đó; 2) Vua Phật Việt Nam, tổ sư thiền phái Trúc Lâm Yên Tử  và Thái Thượng Hoàng 15 năm (1294-1306). 3) Nhà văn hóa và nhà thơ kiệt xuất với thắng tích Trúc Lâm Yên Tử và kiệt tác Trần Nhân Tông còn mãi với thời gian, hoàn thành sư mệnh của bậc chuyển pháp luân, mang sự sống trường tồn vươt qua cái chêt; 4) Người Thầy của chiến lược vĩ đại  yếu chống mạnh, ít địch nhiều bằng thế đánh tất thắng “vua tôi đồng lòng, toàn dân đồng sức”tạo lập sự nghiệp mở nước và thống nhất non sông Việt, mở đất phương Nam bằng vương đạo, thuận thời, thuận người. 5) Con người  hoàn  hảo, đạo đức trí tuệ, kỳ tài trị loạn, đã hưng thịnh nhà Trần và cứu nguy cho nước Việt tại thời khắc đặc biêt hiểm nghèo, chuyển nguy thành an, biến những điều không thể thành có thể. (3).

Giáo sư  sử  học Trần Văn Giàu nhận định:  “… chưa tìm thấy lịch sử nước nào có một người đặc biệt như Trần Nhân Tông ở Việt Nam. Tại nước Tàu lúc bấy giờ Triều đình nhà Tống rất hùng mạnh nhưng quân Nguyên Mông đã tràn xuống đánh thắng thần tốc, đến nỗi vua quan nhà Tống phải chạy ra biển và nhảy xuống biển tự vẫn. Tại Tây Á, Trung Á và một phần châu Âu cũng thua thảm hại, đến nỗi Giáo hoàng La Mã cũng lên tiếng sợ hãi. Trong lúc ấy Việt Nam so với phương Bắc thì quá nhỏ bé và quá nghèo yếu, thế mà Người dám không cho Nguyên Mông mượn đường xâm lược Chiêm Thành. Lại còn đánh bại ba lần Nguyên Mông xâm lược. Sau khi thắng giặc, Người lại lên núi sống. Người dám nghĩ, dám làm những việc không ai dám nghĩ chứ đừng nói đến làm !”  (4)

Khoa học và  Bí mật Tâm linh

Bộ phim Bí mật Tâm linh (The Meta Secret) giúp ta khám phá sâu sắc các quy luật của vũ trụ liên quan đến Luật Hấp Dẫn đầy quyền năng. Những lời tiên tri của các nhà thông thái ẩn chứa trong Kinh Vệ đà, Lời Phật dạy, Kinh Dịch, Kinh Thánh, Kinh Koran …, cũng như xuyên suốt cuộc đời của những con người vĩ đại trên thế giới đã được nghiên cứu, giải mã dưới ánh sáng khoa học; Bí mật Tâm linh là sự khai mở những nguồn năng lượng vô tận của chính bản thân mỗi con người đối với đồng loại, các loài vật và thiên nhiên. Suối nguồn chân lý trong di sản văn hóa, lịch sử, giáo dục, kinh tế, chính trị, quân sự,  ngoại giao của mỗi dân tộc và nhân loại lưu giữ nhiều điều sâu sắc cần đọc lại và suy ngẫm. (5)

Nhà bác học Anhstanh, cha đẻ của Thuyết tương đối, đã nhận định: “Khoa học mà thiếu tôn giáo là khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng” “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó” Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học” . Cả ba câu này đều được trích từ Những câu nói nổi tiếng của Anhstanh (Collected famous quotes from Albert). (6)

Khoa học và thực tiễn giúp ta tìm hiểu những phương pháp thực tế để thể hiện ước mơ, mục đích sống của mình nhằm sống yêu thương, hạnh phúc,vui khỏe và có ích. Kinh Phật với triết lý vô ngã: Chân lý là suối nguồn chứ không phải là con người thần thánh hay chân lý tuyệt đối. Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông có minh triết: Hãy quay về tự thân chứ không tìm ở đâu khác. Luật Hấp Dẫn, Thuyết Tương đối, Thành tựu Khoa học và Thực tiễn giúp ta khai mở nguồn năng lượng vô tận của chính bản thân con người và thiên nhiên. Đó là ba ngọn núi cao vọi của trí tuệ, là túi khôn của nhân loại.

Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.

 Xem thêm:

The Life of Buddha – Cuộc đời đức Phật – phụ đề tiếng Việt – full   BBC video

Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring (tuyệt phẩm video tập 1-10 và phụ đề)

(1) Trí tuệ bậc Thầy (Hoàng Kim í)
(2) Bài giảng đầu tiên. Hoàng Kim giới thiệu BBC Film The Life of Buddha, Cuộc đời đức Phật  và sách Lời Phật dạy. Tiến sĩ triết học Walpola Rahula, Lê Diên biên dịch. Nhà Xuất bản Mũi Cà Mau 1994 , 291 trang.
(3) Lên non thiêng Yên Tử (Hoàng Kim)
(4) Giáo sư Trần Văn Giàu bài học lớn trong câu chuyện nhỏ  (Hoàng Kim)
(5) Danh nhân Việt: Đọc lại và suy ngẫm (Hoàng Kim)
(6) Những câu nói nổi tiếng của Anhstanh về Phật Giáo (Huệ Minh)
(7) Đức Phật và con đường tuệ giác (Thượng Tọa Thích Huệ Thông)
(8) Lên Yên Tử sưu tầm thơ đức Nhân Tông (Hoàng Kim)
(9) Đạo Phật và Khoa học  (Thượng Tọa Thích Huệ Thông giới thiệu sách)
(10) Bí mật Tâm linh The Meta Secret: Video 1,2,3.4.5 Nguồn: Mr. Leon

Hoàng Kim (sưu tầm, tổng hợp, biên soạn)
NGỌC PHƯƠNG NAM, THUNG DUNG, DẠY VÀ HỌC