About hoangkimvietnam

Hoàng Kim là tiến sĩ nông học, hiện giảng dạy và nghiên cứu cây lương thực ở Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh. Ông là chủ bút của các trang weblog văn hóa giáo dục và cây lương thực: http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim; https://hoangkimvietnam.wordpress.com; http://dayvahoc.blogspot.com; http://cayluongthuc.blogspot.com; http://dayvahoc.blogtiengviet.net

Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy ?

DANH NHÂN VIỆTBình sinh đầu ngẩng tới trời xanh / Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành / Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy? / Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH“. Đây là bài tứ tuyệt được thêu trên bức trướng do 5 nhà cách mạng lão thành Nga gửi đến tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh.. Làm sao mà các nhà cách mạng Nga lại làm được thơ tứ tuyệt, hay là họ nhờ ai đó làm giúp theo ý họ? Các chữ viết hoa trong bài tứ tuyệt được thêu chữ hoa, nghĩa là có dụng ý. Ba chữ là lấy từ trong “Hồ Chí Minh”. Còn chữ “Thơm” có phải đó cũng là tên hoạt động của Bác Hồ trong thời gian công tác cùng với 5 nhà cách mạng Nga kia? Hay là một tên gọi khác của Bác mà rất ít người biết? Câu hỏi trên của anh Phan Chí Thắng , mỗi năm tôi lại đưa lên mạng ít nhất một lần để thu thập thêm tư liệu. Nhiều vấn đề lịch sử sẽ cần phải có thêm thông tin và thời gian. Dưới đây là hai bài viết của Lê Mai về Chủ tịch Nước Hồ Chí Minh và đường dẫn tới tác phẩm Một Cơn Gió Bụi – Lệ Thần Trần Trọng Kim làm sáng thêm một góc khuất của trí tuệ bậc Thầy. Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy ?

QUỐC HỘI nước VNDCCH, vào ngày 9.11.1946, đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên mà sự tiến bộ, mẫu mực, dân chủ của nó cho đến nay – không những làm chúng ta mà còn làm cả thế giới thán phục. Trong bản Hiến pháp dân chủ ấy, ngoài việc thiết kế một thiết chế chính trị mẫu mực, đã quy định quyền hạn của Chủ tịch nước rất rõ ràng, đó là người thay mặt cho nước, giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái trong lục quân, hải quân, không quân, ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, ban bố các đạo luật, đặc xá, ký hiệp ước với các nước, tuyên chiến hay đình chiến…

Hồ Chí Minh là Chủ tịch đầu tiên của nước VNDCCH.

Dĩ nhiên, dấu ấn của Hồ Chí Minh hết sức đậm nét trong bản Hiến pháp đầu tiên. Sự thông minh xuất chúng, hiểu nhiều, biết rộng của Hồ Chí Minh đã làm Võ Nguyên Giáp – một người tài ba, một cộng sự rất gần gũi Hồ Chí Minh kinh ngạc. Ông kể, gần như làm bất cứ việc gì, ông đều thấy Hồ Chí Minh đã tiên liệu, suy nghĩ vấn đề đó từ rất lâu rồi. Bản Tuyên ngôn độc lập, bản Hiến pháp đầu tiên của nước VNDCCH chỉ là vài dẫn chứng sinh động.

Đối với những tình huống đột xuất thì sao? Những ứng phó của Chủ tịch nước Cộng hòa non trẻ, trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong, giặc ngoài đầy rẫy càng làm chúng ta khâm phục.

Ngay sau cái Tết Bính Tuất năm 1946 – Tết độc lập đầu tiên sau tám mươi năm trời nô lệ, Hồ Chí Minh đã có một cuộc nói chuyện dài với tướng Raun Xalăng. Xalăng – một sỹ quan Pháp, người đã từng ăn cơm lam chấm mắm ngóe miền thượng nguồn, ăn mắm tôm vắt chanh ở miền xuôi của VN. Tướng Xalăng đang rất hung hăng, điều này dễ hiểu, vì bấy giờ, Pháp ỷ vào sức mạnh nên coi thường Chính phủ Hồ Chí Minh. Nhưng, ông ta có vẻ bối rối khi hiện ra trước mắt mình là một nhà hiền triết phương Đông với phong thái ung dung tự tại tỏa ra từ đôi mắt sáng, chòm râu thưa, mái tóc pha sương, nước da dãi dầu mưa nắng, một cốt cách thanh cao khắc khổ ẩn tàng sức mạnh siêu quần được dấu kín trong bộ quần áo kaki cổ đứng không cài cúc.

– Mời tướng quân xơi nước.

Tướng Xalăng nâng chén nước lên theo lời mời của Hồ Chí Minh và nói:

– Thưa ngài Hồ Chí Minh…

Lập tức, Hồ Chí Minh ngắt lời ông ta:

– Tôi đã mời “tướng quân” xơi nước chứ tôi không mời “ngài” Raun Xalăng…

Raun Xalăng mất chủ động, lúng túng xin lỗi, mặc dù dụng ý của ông ta rất rõ ràng: không công nhận chức Chủ tịch của Hồ Chí Minh, cũng tức là không công nhận nước VNDCCH.

Sau những lời xã giao, thăm hỏi, trao đổi về tình hình chung, bỗng Raun Xalăng chuyển câu chuyện. Ông ta nói:

– Chủ tịch thử nghĩ xem, nên để chúng tôi khôi phục trật tự ở nước này, vì chúng tôi đủ lực lượng và rất nhiều phương tiện. Theo ý tôi, nếu được như vậy đất nước này sẽ biết ơn Chủ tịch, vì Chủ tịch là người đứng đầu Chính phủ có uy tín tuyệt đối với nhân dân. Nếu Chủ tịch để chúng tôi đưa quân vào đây không gặp trở ngại nào thì đó là sự chứng minh trước thế giới Chủ tịch biết kiềm chế quân đội của mình và điều đó thể hiện uy quyền của Chủ tịch là vô song.

Phải công nhận lời nói của Xalăng rất khôn khéo mà hiểm độc. Hồ Chí Minh bình thản chế thêm nước trà vào chén mời Xalăng:

– Tướng quân uống nước đi. Hút tiếp một hơi thuốc lá thơm, giọng nói trầm hùng của Hồ Chí Minh phắt căng lên:

– Tôi không thể làm như lời tướng quân, nếu làm như vậy, tôi sẽ là kẻ phản quốc. Tướng quân nên nhớ rằng, chúng tôi yêu nước Pháp, nhưng không muốn làm nô lệ. Nước Pháp có binh hùng, có nhiều tướng giỏi, nhiều vũ khí tối tân. Một Pháp có thể giết 10 VN, 10 VN có thể chỉ diệt được một Pháp nhưng toàn dân VN đều một lòng kháng chiến chống Pháp.

– Chúng tôi rất mạnh. Cuộc đổ bộ của chúng tôi đã sẵn sàng. Vì sao Chủ tịch không chịu thừa nhận điều hiển nhiên ấy?

Giọng Hồ Chí Minh như có lửa:

– Nếu quân Pháp lại đổ bộ đến đây, chúng tôi không chặn đứng được ngay, nhưng sẽ đổ máu, những người dân Pháp sẽ bị chết. Đó là điều bất hạnh cho cả hai bên. Chúng tôi không bao giờ mong điều đó xảy ra. Nhưng chúng tôi không chịu làm nô lệ một lần nữa.

Câu chuyện trên về Hồ Chí Minh gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ, nhất là trong bối cảnh hiện nay, cuộc tranh chấp chủ quyền ở biển Đông đang diễn ra hết sức phức tạp, vấn đề xử lý mối quan hệ Việt – Trung, các cuộc biểu tình của người dân yêu nước phản đối sự gây hấn của TQ, sự ngăn cấm của nhà cầm quyền…Hơn ai hết, tấm gương sáng của Chủ tịch nước Hồ Chí Minh, người lãnh đạo một dân tộc bất khuất đang nhắc nhở chúng ta.

Rồi sau đó, Hồ Chí Minh là thượng khách của nước Pháp nhân Hội nghị Phôngtennơblô. Trên đường bay sang Pari, Hồ Chí Minh nhận được tin ở VN, cao ủy Xêđin và đô đốc Dacgiăngliơ đã nặn ra cái gọi là “Chính phủ Nam Kỳ tự trị”. Hồ Chí Minh nói với Raun Xalăng – người tháp tùng trong cuộc hành trình:

– Tướng quân này, các ông đừng có ảo tưởng biến Nam Bộ của chúng tôi thành một thứ Anđát – Loren mới, nếu các ông cứ dẫm chân lên dấu bàn chân cũ thì sẽ dẫn đến cuộc chiến tranh một trăm năm. Thôi, ông hãy đưa tôi trở về Hà Nội.

Thật là kiên quyết, thật là dũng cảm, không hề có một chút run sợ trước kẻ thù. Sau khi Xa lăng đề nghị cứ tiếp tục sang Pari, nơi đó Chủ tịch sẽ thanh toán các vấn đề, Hồ Chí Minh tiếp tục:

– Tôi tin tướng quân. Ở Pháp, tôi có nhiều bạn tốt dẫu rằng thế giới đang là một biển thù.

“Thế giới đang là một biển thù” nhưng vị Chủ tịch nước với lòng yêu nước và thiên tài của mình đã dẫn dắt dân tộc VN vượt qua. Lịch sử đã chứng minh hùng hồn. Thế thì, ngày nay, thế giới đâu còn là một biển thù nữa, tại sao VN không thể đứng thẳng, ngẩng cao đầu một cách hiên ngang?

Đến đây, như thường lệ, chúng ta nhìn sang bên kia biên giới, một ông Chủ tịch nước khác – Lưu Thiếu Kỳ, Chủ tịch nước CHNDTH.

Lưu Thiếu Kỳ, người đầu tiên đề xuất cụm từ “tư tưởng Mao Trạch Đông”, đưa vào điều lệ Đảng, uy tín ngày một lên cao, nhất là trong bối cảnh Mao liên tục “phát minh” ra các sáng kiến “trăm hoa đua nở”, “đại nhảy vọt”, “công xã nhân dân” làm chết đói hàng chục triệu người dân. Mao sợ mất đại quyền. Mao căm thù ông nhiều chuyện, song, “quân tử mười năm trả thù cũng chưa muộn”, Mao ghim nó trong lòng. Cơ hội đến, Mao gán cho Lưu Thiếu Kỳ là “phản bội, nội gian, công tặc”, là đầu sỏ phái đương quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Đến nỗi, Lưu Thiếu Kỳ xin được từ chức Chủ tịch nước, về quê làm ruộng cũng không được Mao đồng ý. Và ông đã chết sau bao nhiều cực khổ vì bị đày đọa, với cái tên Lưu Vệ Hoàng, còn mục nghề nghiệp ghi là “vô nghề nghiệp”.

TQ là như thế đó, thế mà người ta không hiểu lịch sử ư?

Vấn đề Chủ tịch nước TQ chưa dừng lại ở đó. Tháng 3.1970, Mao kiến nghị cải biến thể chế quốc gia, không lập chức Chủ tịch nước nữa.

Lâm Bưu, người kế vị Mao đã được ghi vào Điều lệ Đảng – một việc chưa từng có, vừa mừng vừa lo. Mừng vì Mao tỏ thái độ sẽ không làm Chủ tịch nước, đương nhiên phải là ông ta. Lo vì Mao không chủ trương lập chức Chủ tịch nước, vậy đừng hòng ai mơ tưởng chức vụ ấy. Lâm Bưu hai lần điện thoại cho Mao “kiến nghị cần để Mao Trạch Đông giữ chức vụ Chủ tịch nước”, đều bị Mao khước từ.

Lâm Bưu lại lao tâm khổ tứ, đề xuất kiến nghị chính thức với Bộ Chính trị. Ông ta cho rằng, nếu kiến nghị chính thức với Bộ Chính trị, Mao không thể dễ dàng bỏ qua.

Nửa đêm, Lâm Bưu đọc kiến nghị cho thư ký ghi chép. Thứ nhất, vấn đề Chủ tịch nước, đồng chí Lâm Bưu vẫn kiến nghị để Chủ tịch Mao Trạch Đông kiêm nhiệm. Như vậy, thích hợp với trạng thái tâm lý của nhân dân, trong nước và nước ngoài, trong đảng và ngoài đảng. Thứ hai, vấn đề Phó Chủ tịch nước, đồng chí Lâm Bưu cho rằng có thể có, có thể không, có thể nhiều, có thể ít, không mấy hệ trọng. Thứ ba, đồng chí Lâm Bưu cho rằng, bản thân mình không nên đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch.

Bản kiến nghị của Lâm Bưu cực kỳ khéo léo. Nói thẳng ra, mình chỉ có thể làm Chủ tịch nước. Nhưng than ôi, chỉ một thời gian ngắn sau đó, kết cục bi thảm đã đến với ông ta khi chiếc máy bay đưa ông ta chạy trốn bị rơi trên đất Mông Cổ, không một ai sống sót. Câu chuyện về Chủ tịch nước chưa thể dừng lại.

Trở lại với nước VNDCCH sau ngày lập nước đang phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, nguy hiểm. Hơn hai triệu người dân vừa chết đói. Ngân khố quốc gia trống rỗng. Thù trong, giặc ngoài. Mười tám vạn quân Tưởng tràn vào miền Bắc với danh nghĩa giải giáp quân Nhật, song mục đích của chúng hơn thế, “diệt Cộng, cầm Hồ”. Người Pháp không cam chịu thất bại, âm mưu quay trở lại nắm chính quyền. Cùng một lúc, VN đang phải đối mặt với nhiều kẻ thù. Cần phải có đối sách đúng đắn, sáng suốt mới đưa đất nước thoát ra khỏi tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Và chính thiên tài của vị Chủ tịch nước Hồ Chí Minh, trong giai đoạn cực kỳ hiểm nghèo ấy, đã thể hiện một cách rực rỡ nhất. “Nếu không có Hồ Chí Minh thì khó lường hết cái gì có thể xẩy ra” – Phạm Văn Đồng.

Quân Tưởng hết sức ngang ngược, chẳng khác gì ông cha chúng nó và có lẽ hậu duệ của chúng cũng vậy? Chúng đòi hỏi đủ điều. Chúng chiếm những ngôi nhà đẹp. Chúng khiêu khích ta nhằm tìm một cái cớ để nổ súng – y như trên biển Đông hiện nay. Chúng bắt ta cung cấp gạo cho chúng, trong khi đồng bào ta không có cơm ăn.

Có hôm, Hồ Chí Minh và Huỳnh Thúc Kháng lên gặp Lư Hán ở Chủ tịch phủ – bấy giờ đã bị chúng chiếm đóng. Lư Hán hoạnh họe hơn một tiếng đồng hồ, lên mặt hạch sách, nói các anh làm ăn không ra sao cả. Hồ Chí Minh và Huỳnh Thúc Kháng nín lặng, không nói gì, nhưng trong lòng rất bực tức. Ra về, cụ Huỳnh nói: “Nó khinh mình quá lắm. Không chịu nổi nữa, cứ đánh đi, rồi muốn ra sao thì ra”!

Huỳnh Thúc Kháng chính là quyền Chủ tịch nước khi Hồ Chí Minh đi Pháp bốn tháng, giữa lúc thế nước cực kỳ rối ren. Cụ Huỳnh là một nhân sỹ nổi tiếng, khảng khái, bất khuất nhưng không ưa cộng sản. Hồ Chí Minh đã nhiều lần mời cụ ra Hà Nội nhận chức Bộ trưởng nhưng cụ chưa chịu.

Hồ Chí Minh nghe người bí thư đọc bức điện trả lời của Huỳnh Thúc Kháng :

– “Thưa Chủ tịch, thời tiết xấu, tôi chưa đi được. Tôi không thể nhận chức Bộ trưởng. Nhưng trước sau cũng sẽ ra gặp Cụ”.

Hồ Chí Minh trầm ngâm hút thuốc:

– Chẳng lẽ cụ Huỳnh từ chối không chịu ra phụng sự quốc dân trong cơn nguy nan này?

– Cụ Huỳnh đã khước từ Bảo Đại mời ra lập chính phủ thay cho Trần Trọng Kim. Tôi tin thế nào cụ Huỳnh cũng ra yết kiến Bác. Mà cụ đã gặp Bác thì cụ sẽ chấp nhận những việc Bác tin cậy.

– “Chúng tôi khẩn khoản mời cụ ra Hà Nội nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ” – một bức điện tiếp theo của Hồ Chí Minh. Lại một bức điện khác của ông Võ Nguyên Giáp, người đã từng làm báo Tiếng dân với Huỳnh Thúc Kháng, rất được cụ yêu mến: “việc đại nghĩa, xin cụ đừng bỏ qua. Hồ Chủ tịch mong được gặp cụ…”.

Giữa lúc ấy, một lá thư từ Tổng hành dinh của tướng Lư Hán gửi cho Hồ Chí Minh: “Kính mời Hồ Chí Minh tiên sinh quá bộ tới Tổng hành dinh của tôi để giải quyết vụ nhân viên công an VN bắn chết một Pháp kiều”. Thư tránh gọi chức vụ Chủ tịch của Hồ Chí Minh và lời lẽ trong thư vừa có vẻ là một “chỉ lệnh”, lại tỏ ra rất “thiên triều”, báo trước những khó khăn, nguy hiểm của cuộc gặp.

Các ông Võ Nguyên Giáp, Hoàng Hữu Nam – Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Lê Giản – Tổng Giám đốc nha Công an, Vũ Đình Huỳnh – bí thư của Hồ Chí Minh lập tức họp trong sự căng thẳng và thống nhất đề nghị Hồ Chí Minh cử đặc phái viên của Chủ tịch nước đến gặp Lư Hán.

Hồ Chí Minh:

– Nếu tôi không đến gặp nó, nó sẽ cho là chúng ta đã sợ nó và nó sẽ được nước, làm điều càn bậy hơn.

– Nhưng Bác đến đó nguy hiểm vô cùng. Ông Giáp lo lắng.

– Có miếng võ hiểm cũng phải có miếng văn phá hiểm chứ. Hồ Chí Minh đáp.

Hồ Chí Minh dặn Vũ Đình Huỳnh, người bí thư tin yêu của mình trước khi lên xe:

– Cả ngày hôm nay, chú không rời khỏi phòng này một lúc nào cả.

Các ông Võ Nguyên Giáp, Hoàng Hữu Nam, Lê Giản đầy lo lắng đưa chân Hồ Chí Minh ra xe. Cánh cửa xe lại mở, Hồ Chí Minh quay vào phòng, gọi điện thoại sang văn phòng ông Patti (tác giả cuốn Tại sao Việtnam?). Hồ Chí Minh đã nhiều lần tiếp chuyện Patti, từng nhờ ông chuyển thư tới Tổng thống Mỹ Tơruman. Lúc ra xe, nét mặt Chủ tịch nước đầy tự tin, thanh thản. Cuộc điện thoại đó chính là “miếng văn phá hiểm” của Chủ tịch nước mà ngay cả ông Giáp lúc đó cũng không đoán ra nổi.

Xe vừa tới bậc thềm Dinh toàn quyền cũ, một tên sỹ quan liên lạc của Lư Hán tiếp ngay Hồ Chí Minh:

– Thưa Hồ Chí Minh tiên sinh, tướng quân Lư Hán của chúng tôi bận việc, mời tiên sinh gặp tướng quân Tiêu Văn.

Thật là một sự xúc phạm. Nhưng Hồ Chí Minh thoát mình ngay khỏi sự tiểu khí của bọn giặc cỏ:

– Nhờ ông chuyển lời chúc sức khỏe của tôi tới tướng quân tư lệnh.

Xe lại đưa Chủ tịch nước đến gặp Tiêu Văn. Tay này rất căm tức Hồ Chí Minh. Nhớ lại khi Hồ Chí Minh bị bắt ở TQ năm 1944, y thả Hồ Chí Minh ra và bầu vào Uỷ viên ban chấp hành Việt Nam cách mạng đồng minh hội do y chủ trương thành lập. Rồi y cho Hồ Chí Minh về VN để làm việc cho y. Song, khi về nước, tất nhiên Hồ Chí Minh không đời nào làm việc cho y mà lo bắt liên lạc với các đồng chí của mình, làm cuộc Tổng khởi nghĩa thành công. Bây giờ, sang VN, Tiêu Văn kể “Hồ Chí Minh thập đại tội”, đòi “triệt Hồ Chí Minh”.

Trời đã xế chiều mà vẫn không có một tin tức gì của Hồ Chí Minh. Các ông Võ Nguyên Giáp, Hoàng Hữu Nam, Lê Giản lo lắng, thấp thỏm. Đang lúc trù liệu căng thẳng thì ông Patti đến. Ông cho biết, ban sáng Chủ tịch nước gọi qua điện thoại mời ông chiều nay gặp nhau ở Bắc Bộ phủ. Ông Vũ Đình Huỳnh báo cho ông biết, sáng nay Chủ tịch nước đến Tổng hành dinh của Lư Hán theo lời mời của ông ta. Nhưng không rõ vì sao mà họ giữ Chủ tịch tại đó đến giờ này vẫn chưa về được. Vẻ bất bình hiện rõ trên mặt ông Patti. Ông nói, chúng tôi sẽ can thiệp ngay việc này.

Bây giờ, ông Huỳnh mới hiểu rõ, vì sao Hồ Chí Minh dặn ông cả ngày hôm nay không được rời phòng này một lúc nào cả. Và ông Võ Nguyên Giáp mỉm cười, “có miếng võ hiểm cũng phải có miếng văn phá hiểm chứ”.

Chủ tịch nước Hồ Chí Minh, con người giải quyết những tình huống phức tạp một cách thiên tài!

Cho đến khi giặc đã đến nhà, Hồ Chí Minh vẫn ra đi tìm bạn. Lửa chiến tranh ngày một lan rộng, do bọn hiếu chiến trong Chính phủ Pháp gây nên. Nhưng Hồ Chí Minh bằng mọi cách cứu vãn hòa bình, dù chỉ có rất ít cơ hội. Hòa bình là nguyện vọng lớn nhất của nhân dân ta, nhưng phải là hòa bình trong độc lập, tự do! Chính phủ Pháp đã chấp nhận một cuộc hòa đàm tại Phôngtennơblô gần thủ đô Pari và mời Hồ Chí Minh là thượng khách sang thăm nước Pháp. “Giặc đã đến nhà, ta vẫn ra đi tìm bạn”…

Trước khi sang Pháp, Hồ Chí Minh đã giới thiệu Huỳnh Thúc Kháng làm Quyền Chủ tịch nước. Tại sân bay Gia Lâm, Huỳnh Thúc Kháng xúc động hỏi:

– Cụ lên đường làm thượng khách nước Pháp mà quân xâm lược Pháp đang giày xéo nước nhà. Vắng Cụ khi có “vạn sự như lôi…” thì tôi hỏi ai?

– Ông Võ Nguyên Giáp đã từng cộng sự với Cụ từ thuở làm báo Tiếng Dân. Hồ Chí Minh chìa tay sang Võ Nguyên Giáp đang đứng bên cạnh.

– Xin Cụ cho anh em chúng tôi một lời khuyên…

– Thưa cụ, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Và cụ Huỳnh sững sờ nhìn theo chiếc máy bay đưa Hồ Chí Minh lên đường đang giữa bầu trời…

…Hội nghị Phôngtennơblô tan vỡ, với bản Tạm ước 14.9 trong tay, Hồ Chí Minh về nước trên chiếc Thông báo hạm Duymông Duyêcvin của Pháp. Thông báo hạm này đang chuẩn bị chở các thiết bị sang Đông Dương cho các lực lượng hải quân ở Viễn Đông thì nhận được một mệnh lệnh cấp tốc của Bộ chỉ huy Hải quân phải bốc dỡ tất cả các thứ hàng hóa dưới tàu lên bờ và đặt Thông báo hạm dưới sự điều động của Bộ Thuộc địa.

Chủ tịch nước dặn ông bí thư Vũ Đình Huỳnh:

– Chú nhờ bà con việt kiều may cho một lá cờ Tổ quốc cỡ lớn và chú mang theo trong hành lý cầm tay của chú. Ông Vũ Đình Huỳnh ngạc nhiên nhìn Hồ Chí Minh. Có lúc chúng ta sẽ dùng đến – Hồ Chí Minh mỉm cười ý nhị.

Tàu nhổ neo, lênh đênh trên biển. Hạm trưởng Ônây lúng túng khi vị Chủ tịch nước VN nêu vấn đề kéo quốc kỳ VN lên cột cờ hạm tàu cùng với quốc kỳ Pháp để hiểu rằng có vị nguyên thủ nước VN tự do đang hành trình trên tàu của Pháp. “Thưa Chủ tịch, tôi không được giao công việc này, để tôi điện về Pari xin chỉ thị” – Ônây đáp. Pari lập tức trả lời, đồng ý treo quốc kỳ VN, chỉ tiếc rằng, ở giữa biển lấy đâu ra lá cờ của VN? Ông Vũ Đình Huỳnh mở vali lấy ra lá cờ VN đưa cho Ônây trong sự ngạc nhiên tột độ của ông ta.

Và lá cờ VN ấy, khi nào sẽ tung bay trên Hoàng Sa của chúng ta?

Xem thêm:

Một Cơn Gió Bụi – Lệ Thần Trần Trọng Kim

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Xa khơi và chùm thơ về biển

NGỌC PHƯƠNGNAM. Trang dayvahoc lần trước đã tuyển chọn chùm thơ hay về biển. Trong số đó có những bài được nhiều người ưa thích như: Tổ quốc nhìn từ biển của Nguyễn Việt Chiến; Biển của Puskin; Biển của Xuân Diệu, Thơ viết ở biển của Hữu Thỉnh; Biển một bên và em một bên của Trần Đăng Khoa; Thuyền và biển của Xuân Quỳnh; Giao hưởng biển của Vũ Thanh Hoa; Biển bạc đầu nông nổi tuổi hai mươi của Nguyễn Trọng Tạo; Biển núi em và sóng của Đỗ Trung Quân; Núi và  biển Nha Trang của Hồ Tịnh Tâm và Video nhạc tuyển Đừng ví em là biển, nhạc Trần Thanh Tùng, thơ Minh Thiên, trình bày Anh Thơ. Trang dayvahoc lần này, mời các bạn thưởng thức tuyệt phẩm Xa khơi, nhạc Nguyễn Tài Tuệ, trình bày Anh Thơ. BIển nỗi nhớ và em, album Khoảng cách Đàm Vĩnh Hưng  và chùm thơ về biển của Tường Vi, Quỳnh Trâm, Hoàng Kim, … 

LỜI RU CỦA BIỂN

Tường Vi

Khi biển mặn cất lời ru êm ái, khi những cồn cào của sóng vẫy bờ xa, khi tim ta bồi hồi trong thương nhớ. Giữa những mặn nồng và cả những đắng cay. Biển vẫn vậy thì thào quyến rũ, sóng ôm bờ dìu dặt ngược xuôi. Giữa đêm khuya mình em lang thang trên bờ biển, em ngạc nhiên khi biển ấm vô cùng, sóng ôm chân em ấm áp vỗ về. Hơi ấm của ngày, hơi ấm của nắng vẫn còn trong sóng biển. Em biết lắm sóng xóa lấp vết chân trần của em trên cát, trong mịt mùng đêm tối mênh mông. Như thời gian trôi đi không trở lại, như những nỗi buồn cùng với niềm vui đang lặng lẽ biệt từ. Em bỗng thấy bóng mình nhỏ bé, giữa mênh mông của đêm và ánh trăng xa bàng bạc, giữa tiếng nhạc trong veo du dương thì thầm bí ẩn của biển sâu. Những con sóng bạc trong đêm tung bọt trắng, ôm chân em rồi lại lùi xa vào trong tối xa dần,xa dần rồi biến mất, em muốn gọi mà không làm sao cất tiếng , bởi vì sóng cứ trôi hoài trôi mãi thật xa. Mỗi lần đến là một lần tiễn biệt, con sóng nào cũng ấm cũng thiết tha, nhưng ra đi thì lần nào cũng vậy ,sóng bạc đầu mải đến với biển xanh. Bờ cát trắng chỉ mình em ở lại, sau mỗi lần hối hả mến yêu. Em nằm xuống để sóng ôm mình lần nữa, trong ấm áp nhẹ nhàng mà quấn quyện không gian, trong giây lát mà như ngàn ngàn ngày mong nhớ , bỗng lại chìm tan vợi hết buồn sâu. Sóng đã mang niềm vui trở lại, và mang đi những khắc khoải chờ mong. Lá của những cây dừa ven bờ cát mịn lách cách, lao xao đập hoài theo gió thổi, giữa miên man thương nhớ khôn nguôi, em chợt hiểu rằng anh là sóng, anh ra đi để anh lại trở về. Em chợt hiểu tình mình muôn đời chung thủy, để mỗi lần sóng biển lại ôm em, là một lần em thêm hạnh phúc , là một lần em tan hết miền đau. Anh ở đâu hỡi người tình biển, em yêu anh và em sẽ mãi đợi chỉ mình anh. Em chờ anh.

HOÀI VỌNG BIỂN

Quỳnh Trâm

Biển mặn mòi cất lời ru êm ái
Sóng cồn cào ru gọi bến bờ xa
Lời thầm thì rơi vào miền xa ngái
Bàn chân trần bối rối giữa bao la…

Nắng đã trốn từ khi nào vào biển
Để đêm về sóng ấm vỗ về em
Nỗi buồn nhớ bạc đầu con sóng biếc?
Ánh trăng mờ bàng bạc giữa trời đêm…

Tiếng biển hát trong veo như huyền thoại
Thăm thẳm sâu bí ẩn chuyện đại dương
Em bé nhỏ trong nỗi mình khắc khoải
Mong manh em với ngàn sóng đêm trường…

Mỗi lần đến, lại một lần tiễn biệt
Sóng nồng nàn hôn bờ cát… rồi xa
Bờ cát trắng đắm chìm trong hoài vọng
Sóng anh nơi nào…, em tìm mãi… thiết tha…

BIển nỗi nhớ và em

album Khoảng cách Đàm Vĩnh Hưng

SÓNG YÊU THƯƠNG VỖ MÃI ĐẾN VÔ CÙNG

Hoàng Kim

Anh yêu biển tự khi nào chẳng rõ
Bởi lớn lên đã có biển quanh rồi
Gió biển thổi nồng nàn hương biển gọi
Để xa rồi thương nhớ chẳng hề nguôi

Nơi quê mẹ mặt trời lên từ biển
Mỗi sớm mai gió biển nhẹ lay màn
Ráng biển đỏ hồng lên như chuỗi ngọc
Nghiêng bóng dừa soi biếc những dòng sông

Qua đất lạ ngóng xa vời Tổ Quốc
Lại dịu hiền gặp biển ở kề bên
Khi mỗi tối điện bừng bờ biển sáng
Bỗng nhớ nhà những lúc mặt trăng lên

Theo ngọn sóng trông mù xa tít tắp
Nơi mặt trời sà xuống biển mênh mông
Ở nơi đó là bến bờ Tổ Quốc
Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng …

http://kimlovelife.wordpress.com/2011/10/30/xa-khơi-va-chum-thơ-về-biển/ 

xem tiêp:

Thơ hay vê biên (Hoàng Kim thu thập, tuyển chọn)
Chùm thơ vê biển (Cát Biển)
Chùm thơ về biên (Hoa Diên Vĩ)
Chùm thơ về BIỂN của Lương Đình Khoa

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Cà phê… mưa, một tản văn hay

NGỌC PHƯƠNG NAM Cà phê … Mưa. một  tản văn hay! Ta nghe nhịp thời gian chậm rãi như giọt cà phê sánh lại, lớn dần lên trong cảm xúc. Trong nhịp sống hiện đại cần lắm những phút thư giản để đối diện với lòng mình và lắng nghe cuộc sống, “biết đừng nghĩ suy quá vội, đừng sống quá vội, vẫn còn đó những ước mơ đẹp đẽ khác để ta theo đuổi”, biết thưởng thức những giá trị nhân văn đích thực trong đời thường. Sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm !  (Thưởng thức Paul Mauriat – Love is blue và Đặng Thế Phong,  Giọt mưa Thu, đàn bầu Phạm Đức Thành)


CÀ PHÊ … MƯA

Tản văn của Cà phê và Sách

Viết nhân đọc tập tản văn “Cà phê … mưa” của Nhạc sĩ Dương Thụ

Cà phê – Mưa – Dương Thụ, với tôi, nếu cộng gộp lại sẽ tạo thành một lời mời gọi vô cùng tự nhiên và quyến rũ. Vì thế, tôi hoàn toàn “fall in love” tập tản văn này ngay khi gặp trong nhà sách. Và, như bao lần “ôm” được cuốn sách đúng gu, tôi say sưa nhấm nháp từng trang, từng trang suốt đêm qua.

Trời ơi, không thể nào diễn tả được đâu. Cảm giác cuộn mình trong chăn đọc “Cà phê … mưa” vào một đêm mưa giữa mùa mưa Sài Gòn sao mà giống hệt cảm giác được ngồi thưởng thức một tách cà phê nâu đậm – sóng sánh – nồng nàn bên người đàn ông mình yêu thương và tin cậy trong đêm Giáng Sinh ở Đà Lạt. Sự ngây ngất ấy chiếm lĩnh mình một cách dịu dàng và xao xuyến lạ, từ từ, từng chút một, làm mình khép mắt lại và thả lỏng bản thân, rồi êm đềm trôi vào cơn mơ nào đó trong tiếng mưa tí tách, rì rào. Và … lại thấy tâm hồn mình bỗng như một mảnh đất khô cằn cựa mình hồi sinh sau cơn mưa. Và … những nỗi nhớ nhung biến thành hạt mầm đồng loạt đâm chồi nảy lộc trên mảnh đất hồi sinh ấy.

Nhưng, “Cà phê … mưa” cũng như mọi cốc cà phê khác trên đời này, đều để lại vị đắng thật lâu khiến tôi phải nghĩ ngợi, và day dứt.

Tôi nghĩ ngợi, vì liệu tôi có thực sự đang sống và được sống một cách đúng nghĩa trong cái thời đại mà theo cách nói của Dương Thụ là “tất thảy mọi người như đang tham gia vào một cuộc đua 100m đến cái đích THÀNH ĐẠT”?

Tôi day dứt, vì hình như không chỉ Dương Thụ biết đừng nghĩ suy quá vội, đừng sống quá vội, vẫn còn đó những ước mơ đẹp đẽ khác để ta theo đuổi chứ không chỉ có “cuộc đua 100 mét” kia. Tôi cũng biết điều đó. Và nhiều người khác cũng biết điều đó. Vậy tại sao tất cả những xói mòn về niềm tin, những mất mát về tình yêu, những giá trị về đạo đức cứ “chết dần khi còn đang sống” vẫn đang ngày ngày diễn ra trong sự thở than, nuối tiếc nhưng thờ ơ và bất lực?

VIẾT TRONG MƯA

Trích “Cà phê … mưa” – Dương Thụ

Tôi không có áo mưa, nên trốn mưa trong một quán nhỏ.

Cà phê mưa, chỉ có mình tôi cùng dãy bàn im lặng, và có lẽ cả hàng triệu giọt mưa nữa, ngoài kia. Chúng đang rơi để tạo nên tiếng đàn mưa, trên mái phố nghèo.

Cô bán quán ngán ngẩm vì trời mưa, nên tắt nhạc. Thế là thoát nạn. Bây giờ chỉ còn thứ âm nhạc thật sự, thứ âm nhạc tinh khiết của trời đất: nhạc mưa.

Nhạc mưa có nhiều bè. Tiếng mưa gần xối bên hiên quán dào dạt, tiếng mưa xa ầm ào mơ hồ, và tiếng mưa rỏ giọt xen vào đếm nhịp trong chiếc xô nhôm cô chủ quán vừa đem ra hứng nước…

Cả ngày bị cầm tù trong nhạc máy (thứ nhạc được chế tạo từ các phòng thu tối tân ở Hoa Kỳ mang nhãn hiệu hải ngoại, uốn éo, rên rỉ, giả vờ yêu, giả vờ đau khổ). Thoát ra khỏi nó không phải là chuyện dễ. Hàng xóm, hễ cứ mở mắt là mở nhạc, nghe. Nhào ra ngoài đường đâu cũng có nhạc, nghe. Chui vào quán để làm việc, nghe. Đến nhà bạn, chị vợ tức tốc bật nhạc để khoe dàn máy xịn, phải nghe! Ôi… cho nên tôi phải thầm cảm ơn mưa. Cái im lặng tuyệt đỉnh do âm thanh dữ dội của mưa rơi mang lại đã trả cho tôi phút được trở về mình, được đọng lại cái nội-tâm-người hiếm hoi, vâng, thật hiếm hoi trong thời buổi khuấy động của âm thanh mưu sinh thường nhật.

Tôi sống một mình và hay nhớ những cái vớ vẩn trong những lúc mưa như thế này. Nỗi nhớ ấy có tên là Mưa, nó như một bài hát không lời. Làm sao chuyển dịch được những hạt mưa bé tí vào cái không cùng của tâm tưởng. Làm sao…?

Có lẽ Chopin đã làm được khi ông viết Prélude No.1.

Có lẽ Paul Mauriat đã làm được khi ông soạn cho dàn nhạc bản Transparent.

Và “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi…” của Đặng Thế Phong, có lẽ…

Ta nghe trong những nhạc phẩm ấy nỗi u hoài xa rộng của kiếp người mang tên Mưa và cái cảm hoài về một thời người tủi nhục mang tên Mưa…

Vẫn mưa.

Cơn mưa kéo dài làm lạnh cả buổi chiều, khiến tôi phải thu mình lại trong chiếc áo gió sờn cũ

Mùa thu đến rồi chăng? Kỷ niệm…

Thuở ấy, bạn bè dăm ba người cùng lứa tụ tập trong quán nước đầu phố. Miếng ni lông che quán không đủ cho cả lũ nên mưa thấm ướt vai áo, bắn vào mặt mát lạnh, tỉnh người. Chén chè nóng bốc khỏi ủ trong lòng bàn tay. Khói thuốc lá Tam Đảo bay vào trong mưa, thơm mùi năm tháng cũ. Đãi đằng nhau một chén nước năm xu, một bài hát ru mới làm, vài câu thơ nhặt nhạnh được đâu đó. Chia nhau từng mẩu thuốc đen và cả khát vọng dâng hiến cho nghệ thuật.

Kỷ niệm …

Mưa thì bao giờ cũng thế, không có tuổi, không diện mạo, không lời lẽ. Còn chúng ta, có được những cái để mà nhớ nhung, để mà nhìn ngắm, để mà nói, chúng ta già đi mỗi ngày, có khi già đi chỉ sau một cơn mưa như thế này.

Cô chủ quán lặng lẽ thay chiếc xô đầy nước bằng một chiếc chậu thật lớn.

Nhưng cơn mưa đã tạnh.

Vậy mà nhạc mưa vẫn còn đó trong tiếng nước mái hiên rỏ giọt tí tách …

Mưa đi rồi.

Đi xa rồi.

Mưa để tiếng lại …

Nguồn: CÀ PHÊ VÀ SÁCH

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Những ngôi sao không bao giờ tắt

DẠY VÀ HỌC. Những ngôi sao không bao giờ tắt là lời tôn vinh những con người quả cảm, xả thân cho Tổ Quốc sống mãi. Đó là nén tâm hương mà nhà văn Lưu Quốc Hòa, nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà thơ Chữ Thu Hằng cùng những người thân, đồng đội, đồng nghiệp, đồng hương và những tấm lòng thành của người  dân khắp mọi miền đất nước dâng lên mười cô gái Lam Hạ, nhân ngày quê hương vừa khởi công xây dựng khu Tâm linh Lam Hạ và mở cửa ngôi đền thiêng tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh ở Hà Nam trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Có lẽ không ở đâu trên thế gian này thấm nhiều máu xương như đất Việt Nam cho mỗi tấc đấc, ngọn núi, dòng sông, cửa biển. Không ở đâu mà bài học lịch sử “vua tôi đồng lòng, toàn dân đồng sức” “lật thuyền thấm thía dân như nước” sâu sắc như ở nơi này.

Tôi tin những người sống chí tình chí nghĩa với đồng bào mình, những người quả cảm hiến dâng trọn đời mình cho quê hương đất nước, những người sống phúc hậu yêu thương, làm việc tốt, viết và nói điều hay sẽ mãi mãi là những ngôi sao không bao giờ tắt. Tôi tin nghĩa cử của lòng dân, giếng ngọc thanh xuân của người Việt vĩnh viễn không bao giờ khô cạn. Tôi tin những bài mà các bạn xóm Lá viết dưới đây là những nén tâm hương thắp cho những người bình dị mà cao quý, việc nhỏ mà nghĩa lớn.

GIỖ ĐỒNG ĐỘI VÀ GIAO LƯU TRUYỀN THỐNG

Lưu Quốc Hòa

Trận đánh trả không quân Mỹ bảo vệ bầu trời Hà Nam vào ngày 1/10/ 1966 đã được ghi vào lịch sử Quân sự của bộ đội Phòng không Không quân Việt Nam. Trong trận đánh lịch sử này bộ đội và dân quân Lam Hạ phải đương đầu với các siêu điện tử Hoa Kỳ. Chỉ trong một buổi sáng Mỹ đã huy động 50 lần chiếc máy bay phản lực chia làm 5 đợ̣t, mỗi đợt cách nhau 15 phút oanh kích vào ba mục tiêu trong “tam giác lửa Hà Nam”.

Đại đội pháo phòng không Quyết Thắng của tỉnh đội Nam Hà và dân quân thôn Đình Tràng hiệp đồng chiến đấu bên nhau và cùng hy sinh. 10 cô gái Lam Hạ tuổi đời từ 16 đến 22 hi sinh trên mâm pháo. Nhiều năm qua hình ảnh các chị đã đi vào thi ca, nhạc hoạ và vừa qua Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng, một chị được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang. Nơi trận địa cũ trên diện tích 17 ha đã lập đền thờ các chị như khu di tích Đồng Lộc Hà Tĩnh và đang hoàn chỉnh giai đoạn một để tỉnh tổ chức long trọng lễ cầu siêu vào dịp 22/12 sắp tới.

Được sự đồng ý của Đảng và chính quyền trong tỉnh, chi hội cựu dân quân pháo thủ gồm 20 chị đã được thành lập từ năm 2009 dưới sự tư vấn và tổ chức của Nhà văn Lưu Quốc Hoà.và sự tài trợ của ông Nguyễn Đức Lộc, Doanh nhân Văn Hoá Việt Nam.

Năm nay là lần giỗ trọng thứ 45, đồng đội của các chị trong chi hội tổ chức
giỗ đồng đội và giao lưu truyền thống.

GIỖ TRẬN MƯỜI CÔ GÁI LAM HẠ

Chử Thu Hằng

Em về giỗ trận hôm nay
Nén nhang thơm
Bó hoa gầy
Chị ơi…
Rưng rưng em khấn tên người
Tìm trong hương khói nụ cười thanh xuân

Bầu trời Lam Hạ trong ngần
Châu Giang xanh
Tiếng chim gần véo von
Qua rồi một thuở đạn bom
Chỗ xưa trận địa nay tròn bóng trưa

Nhà ai kẽo kẹt võng đưa
Ầu ơ… Mẹ dỗ giấc mơ thanh bình
Quê mình nay đã hồi sinh
Bốn nhăm năm biết mấy tình, chị ơi

Bạn chung mâm pháo lại ngồi
Chung mâm giỗ trận, bồi hồi nhắc tên
Ngày này, năm ấy… không quên
Máu đào các chị viết nên sử vàng

Rì rầm sóng nước Châu Giang
Chiến công năm ấy kể ngàn năm sau…

NHỮNG NGÔI SAO KHÔNG BAO GI Ờ TẮT

Trần Đăng Khoa

Bạn đang có trên tay “Những vì sao không tắt”. Hay nói một một cách khác: Đây là nén tâm hương, mà nhà văn Lưu Quốc Hòa và các đồng nghiệp của anh đã thành kính dâng lên mười cô gái Lam Hạ, nhân ngày quê hương anh vừa khởi công xây dựng khu Tâm linh Lam Hạ và mở cửa ngôi đền thiêng tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh ở Hà Nam trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Phụ nữ đồng nghĩa với cái đẹp. Nói cho thật công bằng, họ chính là hiện thân của cái đẹp. Trong cõi đời bụi bặm và phàm tục này, cái đẹp thường lại rất mong manh, nên cần được nâng lưu, chở che và bảo vệ. Có lẽ vì thế, một nhà hiền triết nói rằng: Đối với phụ nữ, dẫu chỉ đánh họ bằng một nhành hoa hồng thì cũng vẫn dã man và thô bạo. “Chiến tranh không có gương mặt đàn bà”.

Nhưng trên mảnh đất đau thương này thì đâu phải thế. Khi nước nhà đã loạn thì chẳng cái đẹp nào còn có chốn nương thân. Vì thế, “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh!”. Hàng vạn phụ nữ lên đường ra mặt trận. Và nói như một nhà thơ:

Có bao nhiêu lớp người
Lao vào lửa đạn
Cho Tổ Quốc sáng bừng tên tuổi
Rồi để lại những nấm mồ vô danh
Trắng đến tận chân trời…

Có lẽ không đâu như ở Việt Nam. Hầu như địa phương nào cũng có Nghĩa trang liệt sĩ. Nghĩa trang rải khắp đất nước. Mà rồi vẫn còn hàng ngàn, hàng vạn liệt sĩ nằm ngoài nghĩa trang, trong những cánh rừng, con suối không tên không tuổi. Rồi chúng ta còn thành kính thả hoa xuống các dòng sông:

Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Bao tuổi thanh xuân thành sóng nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm…

Và chúng ta bàng hoàng nhận ra rằng, con sông Thạch Hãn trong buốt như nước mắt ấy là một nghĩa trang bằng nước. Trên đất nước này có bao nhiêu con sông Thạch Hãn như thế?. Rồi cả Biển Đông mù mịt sóng gió nữa kia? Ai biết được còn bao nhiêu hài cốt liệt sĩ?. Trong số những anh hùng vô danh ấy, có bao nhiêu phụ nữ, là hiện thân của Cái Đẹp. Chúng ta đã từng có mười cô gái ở Nghĩa trang Liệt sĩ Đồng Lộc. Rồi những cô gái ở Hang Tám cô trên tuyến lửa Quảng Bình. Rồi cả dãy Trường Sơn trùng điệp đại ngàn kia, với bao nhiêu thân gái…

Và bây giờ, chúng ta lại có thêm mười cô gái Lam Hạ. Và không phải chỉ có mười cô gái quả cảm, còn hàng ngàn hàng vạn Liệt sĩ đã hy sinh trên mảnh đất Hà Nam này.

Ai cũng biết trong chiến tranh, Phủ Lý là cửa ngõ bảo vệ Thủ Đô, và cùng với Thanh Hóa, Vinh, Quảng Bình, là Tuyến đường vận tải quân sự nối hai miền Nam Bắc. Một chiến trường khốc liệt. Bà Blaga Đimitrova, thi hào dân tộc Bungari, một ký giả nổi tiếng thế giới, đã từng có mặt trên mảnh đất này và đã có tác phẩm đặc sắc viết về Phủ Lý bao gồm cả thơ và văn xuôi. Cứ như ký ức của Blaga Đimitrova, Phủ Lý là một vùng mù mịt bom đạn. Không một căn nhà nào còn nguyên vẹn. Đi qua Phủ Lý ngổn ngang gạch đá, bà có cảm giác như mình đang bước giữa …mặt trăng. Một vùng đất chết. Và rồi từ đó nhìn ra thế giới, bà thấy trái đất này thật mỏng mảnh đáng thương. Nó cũng đang run rẩy xanh xao vì mất quá nhiều máu.

Tắm trong vùng máu đó là những con người quả cảm, xả thân cho Tổ Quốc sống mãi. Trong số những anh hùng bất khuất ấy, có mười cô gái Lam Hạ. Họ đều còn rất trẻ. Có người mới rời khăn quàng đỏ được hai ngày. Hầu hết, họ đều chưa có người yêu.

Tạo dựng lại cả một thời máu lửa khốc liệt ấy, may mắn sao, Lưu Quốc Hòa lại là người trong cuộc. Anh cùng gia đình tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Nhờ thế mà anh có được những trang viết thật sự đa dạng và sinh động. Nhiều mảng như nhật ký chiến tranh bằng rất nhiều thể loại: Thơ, Trường ca, Bút ký, Ghi chép… Cũng có khi anh không hư cấu, đẽo gọt, tạo dựng, mà cứ để nguyên khối xù xì tư liệu, như một dạng Biên bản chiến trường. Chính vì thế mà cuốn sách có sức thuyết phục vì tính chân thực của một người ở trong cuộc. Đọc anh, ta không thấy văn chương đâu cả. Có cảm giác Lưu Quốc Hòa không viết văn, anh đã sổ hết ruột gan mình ra trang giấy. Ngổn ngang trong trang sách là bề bộn cuộc sống. Rẽ qua những con chữ lấm láp và nóng hổi, ta gặp tấm lòng anh. Một tấm lòng luôn nặng trĩu trách nhiệm với quá khứ cao đẹp, kính trọng và biết ơn những người đã khuất. Và cao hơn hết là tình yêu Tổ quốc, tình yêu thương con người.

Vì thế, tôi trân trọng giới thiệu cuốn sách này với đông đảo bạn đọc. Và tôi tin, rất tin cuốn sách này sẽ mang đến cho chúng ta nhiều điều thú vị. Đặc biệt là những trang tư liệu chiến tranh về sự hi sinh quả cảm của những con người bình dị mà cao đẹp. Và rồi, tự dưng tôi lại nhớ đến những câu thơ của một thi sĩ nào đó. Ông bảo, nếu trên mộ những người lính đã hy sinh vì Tổ Quốc, chúng ta chỉ thắp lên một ngọn nến, thì đêm đêm, Tổ Quốc Việt Nam đau thương của chúng ta sẽ sáng rực lên như một dải Ngân hà. Và nói như nhà văn Lưu Quốc Hòa, thì đấy cũng chính là những vì sao. Và những vì sao ấy sẽ không bao giờ tắt

Hà nội ngày 19/10/2011

TĐK

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi

DẠY VÀ HỌC. Nguyễn Trãi đã có nhiều tôn vinh nhưng như giáo sư Phan Huy Lê nhận xét trong bài “Nguyễn Trãi – 560 năm sau vụ án Lệ chi viên“:”Cho đến nay, sử học còn mang một món nợ đối với lịch sử, đối với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là chưa khám phá và đưa ra ánh sáng những con người cùng với những âm mưu và hành động lợi dụng việc từ trần đột ngột của vua Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên để vu oan giá hoạ dựng nên vụ án kết liễu thảm khốc cuộc đời của một anh hùng vĩ đại, một nữ sĩ tài hoa, liên luỵ đến gia đình ba họ. Với tình trạng tư liệu quá ít ỏi lại bị chính sử che đậy một cách có dụng ý, thì quả thật khó hi vọng tìm ra đủ chứng cứ để phá vụ án bí hiểm này. Nhưng lịch sử cũng rất công bằng. Với thời gian và những công trình nghiên cứu của nhiều thế hệ các nhà sử học, nhà văn học, nhà tư tưởng, nhà văn hoá…, lịch sử càng ngày càng làm sáng rõ và nâng cao nhận thức về con người và sự nghiệp của Nguyễn Trãi, về những công lao, cống hiến, những giá trị đích thực của ông trong lịch sử cứu nước và dựng nước, lịch sử văn hoá của dân tộc”.

Trong tất cả những tư liệu lịch sử để lại thì tư liệu sáng giá nhất, rõ rệt nhất, sâu sắc nhất để minh oan cho Người lại chính là Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi, “Họa phúc có nguồn đâu bổng chốc, Anh hùng để hận mãi nghìn năm” “Số khó lọt vành âu bởi mệnh.Văn chưa tàn lụi cũng do trời ”

Nguyễn Trãi là bậc anh hùng dân tộc, nhà chính trị kiệt xuất và danh nhân văn hóa lỗi lạc của dân tộc Việt, Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, người làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc nay là huyện Thường Tín, Hà Nội, sinh năm 1380 , mất năm 1442,. cha là Nguyễn Phi Khanh, nguyên quán làng Chi Ngại , huyện Phương So8n (Chí Linh, Hải Dương) mẹ là Trần Thị Thái, con gái của Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm 1400, cha con đều từng làm quan dưới triều Hồ. Sau khi Việt Nam bị rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Ông trở thành mưu sĩ bày tính mưu kế về mọi mặt chính trị, quân sự, ngoại giao của nghĩa quân Lam Sơn. Ông là khai quốc công thần của nhà Hậu Lê, được ban quốc tính, năm 1428 viết Bình Ngô đại cáo thiên cổ hùng văn, năm 1433 ông đã viết văn bia Vĩnh Lăng nổi tiếng khi Lê Lợi mất,.Tuy nhiên, năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông. Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo (Lòng Ức Trai sáng như sao Khuê). Ở thế kỉ 20, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá: Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, văn võ song toàn; văn là chính trị: chính trị cứu nước, cứu dân, nội trị ngoại giao” mở nền thái bình muôn thủa, rửa nỗi thẹn nghìn thu”; võ là quân sự: chiến lược và chiến thuật, “yếu đánh mạnh ít địch nhiều … thắng hung tàn bằng đại nghĩa”; văn và võ đều là võ khí, mạnh như vũ bão, sắc như gươm đao… Thật là một con người vĩ đại về nhiều mặt trong lịch sử nước ta. (Nguồn: Nguyễn Trãi – Wikipedia tiếng Việt)

Tôi đã chép bài thơ thần “Yên Tử” của Nguyễn Trãi “tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc“, nay xin chép tiếp bài “Ngôn chí”, “Quan hải”, “Oan thán” của Người và cảm nhận của Vũ Bình Lục. Hoan nghênh các anh chị Xóm Lá dịch thơ và hòa vần.

NGÔN CHÍ

Am trúc, hiên mai ngày tháng qua
Thị phi nào đến chốn yên hà
Cơm ăn dù có dưa muối
Áo mặc nài chi gấm là
Nước dưỡng cho thanh, trì thưởng nguyệt
Đất cày ngõ ải luống ương hoa
Trong khi hứng động bề đêm tuyết
Ngâm được câu thần dững dưng ca

Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giãi nguyệt in câu.
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối biết về đâu?

QUAN HẢI

Nguyên văn chữ Hán

樁木重重海浪前
沉江鐵鎖亦徒然
覆舟始信民猶水
恃險難憑命在天
禍福有媒非一日
英雄遺恨幾千年
乾坤今古無窮意
卻在滄浪遠樹烟

Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền
Trầm giang thiết tỏa diệt đồ nhiên
Phúc chu thủy tín dân do thủy
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
Họa phúc hữu môi phi nhất nhật
Anh hùng[3] di hận kỷ thiên niên.
Càn khôn kim cổ vô cùng ý,
Khước tại thương lang viễn thụ yên.

Dịch nghĩa : NGẮM BIỂN

Cọc gỗ lớp lớp trồng trước sóng biển
Xích sắt ngầm dưới sông cũng vậy thôi.
Thuyền bị lật mới tin rằng dân là như nước
Cậy đất hiểm cũng khó dựa, mệnh là ở trời.
Họa phúc có manh mối không phải một ngày
Anh hùng để mối hận mấy nghìn năm sau.
Lẽ của trời đất và xưa nay, thực là vô cùng
Vẫn là ở chỗ sắc nước bát ngát, cây khói xa vời

CỬA BIỂN

Lớp lớp cọc ngăn giữa sóng nhồi
Thêm ngầm dây sắt – uổng công thôi !
Lật thuyền, thấm thía dân như nước
Cậy hiểm, mong manh : mệnh ở trời
Hoạ phúc có nguồn, đâu bỗng chốc ?
Anh hùng để hận, dễ gì nguôi ?
Xưa nay trời đất vô cùng ý
Nơi sóng xanh cây khói tuyệt vời

(Bản dịch của HƯỞNG TRIỀU)

OAN THÁN

Nguyên văn chữ Hán

浮俗升沉五十年
故山泉石負情緣
虛名實禍殊堪笑
眾謗孤忠絕可憐
數有難逃知有命
大如未喪也關天
獄中牘背空遭辱
金闕何由達寸箋

Phù tục thăng trầm ngũ thập niên ;
Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên.
Hư danh thực họa thù kham tiếu ;
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên.
Số hữu nan đào tri thị mệnh ;
Văn như vị táng dã quan thiên.
Ngục trung độc bối[1] không tao nhục ;
Kim khuyết hà do đạt thốn tiên ?

Dịch nghĩa THAN NỔI OAN

Nổi chìm trong phù tục đã năm chục năm,
Đành phụ tình duyên với khe và đá của núi cũ.
Danh hư mà họa thực, rất đáng buồn cười ;
Lắm kẻ ghét một mình trung, rất đáng thương hại.
Khó trốn được số mình, biết là vì mệnh ;
Tư văn như chưa bỏ, cũng bởi ở trời.
Trong ngục viết ở lưng tờ, khi không bị nhục ;
Cửa khuyết vàng làm thế nào mà đạt được tờ giấy lên ?

Dịch Thơ: THAN NỔI OAN:

Biển tục thăng trầm nữa cuộc đời
Non xưa suối đá phụ duyên rồi
Trung côi , ghét lắm, bao đau xót
Họa thực, danh hư , khéo tức cười
Số khó lọt vành âu bởi mệnh
Văn chưa tàn lụi cũng do trời
Trong lao độc bối cam mang nhục
Cửa khuyết làm sao tỏ khúc nhôi?

Bản dịch của Thạch Cam

Năm mươi năm thế tục bình bồng
Khe núi lòng cam bội ước chung
Cười nạn hư danh, trò thực họa
Thương phường báng bổ kẻ cô trung
Mạng đà định số, làm sao thoát
Trời chửa mất văn, vẫn được dùng
Lao ngục đau nhìn lưng mảnh giấy
Oan tình khó đạt tới hoàng cung.

Bản dịch của Lê Cao Phan

TRỜI BAN TỐI, BIẾT VỀ ĐÂU?

Vũ Bình Lục

(Về bài thơ NGÔN CHÍ – SỐ13 của Nguyễn Trãi)

Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giãi nguyệt in câu.
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối biết về đâu?

Nguyễn Trãi sống cách chúng ta khoảng sáu trăm năm. Riêng nói về thơ Nôm, dẫu thất lạc sau thảm hoạ tru di năm 1442, cũng còn được hơn 250 bài. Có thể nói, Nguyễn Trãi đã dựng lên một tượng đài sừng sững bằng thơ, mà trước hết là thơ viết bằng ngôn ngữ dân tộc-Thơ Nôm. Chùm thơ “Ngôn chí” có rất nhiều bài hay, đọc kỹ, nghiền ngẫm kỹ mới thấy cái hay, bởi chữ Nôm cách nay sáu trăm năm, rất nhiều từ nay không còn dùng nữa, hoặc rất ít dùng. Phải tra cứu một số từ, một số điển tích, mới dần sáng tỏ một hồn thơ lớn, lớn nhất, trong lịch sử thơ ca Việt Nam!

Đây là bài Ngôn chí số 13, do những người biên soạn sách Tuyển tập thơ văn Nguyễn Trãi sắp xếp.

Hai câu đầu:
Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu

Hai câu thơ đơn thuần chỉ là tả cảnh, đặc tả một buổi chiều, mà gam màu chủ đạo là màu vàng thẫm rất quen mà huyễn hoặc. Bóng chiều tà đã ngả, đang quấn lấy một ngôi lầu ở bên sông, hay đang trùm lên ngôi lầu bên sông một màu vàng thẫm. Nhưng có điều cần lưu ý, đây là ngôi lầu giành cho đàn bà con gái thuộc tầng lớp quý tộc giàu sang, trong một không gian rộng lớn và yên tĩnh, rất yên tĩnh. Câu tiếp theo mới thật diễm lệ: Thế giới đông nên ngọc một bầu. Vậy thế giới đông là gì? Theo điển dẫn, đông chính là khí tốt, khí thiêng của thế giới, của vũ trụ đông đặc lại mà thành phong cảnh đẹp như ngọc. Thế đấy! Còn như Bầu, cũng theo điển sách Đạo gia, kể rằng Trương Thân thường treo một quả bầu rất lớn, hoá làm trời đất, ở trong cũng có mặt trời mặt trăng, đêm chui vào đó mà ngủ, gọi là trời bầu, hay bầu trời cũng vậy…Quả là một bức tranh được vẽ bằng ngôn ngữ, rất xưa, tinh khiết và tráng lệ, dường như đã đạt đến mức cổ điển!

Đấy là hai câu thất ngôn. Hai câu tiếp theo, lại là lục ngôn, vẫn tiếp tục tả cảnh:
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giải nguyệt in câu.

Tuyết sóc, nghĩa là tuyết ở phương bắc (sóc) chả biết gieo xuống từ bao giờ, mà còn giăng mắc trên những cành cây như những bông hoa trắng muốt, như điểm phấn cho cây, trang trí làm đẹp cho cây. Có người bảo nước ta làm gì có tuyết, chỉ là ước lệ cho đẹp văn chương mà thôi. Nhưng họ nhầm đấy! Các tỉnh phía Bắc nước ta như Lào Cai, Hà Giang và chắc là còn một số nơi khác nữa ngày nay vẫn có tuyết, nhiều nữa kia. Vậy thì sao thơ văn ngày xưa các cụ ta nói đến tuyết, con cháu lại hàm hồ bác bỏ? Cách đây mấy trăm năm, sao lại không thể không có tuyết mà các cụ phải đi mượn của người? Phía bắc là tuyết, là hoa tuyết điểm phấn cho cây, thì Cõi đông giải nguyệt in câu. Phương đông in một giải lụa trăng vàng óng. Thế là cả một không gian rực rỡ sắc màu. Màu trắng của tuyết hoa tương ánh cùng màu vàng của ánh nguyệt in bóng nước, của chiều tà vàng thẫm, tạo một bức tranh vừa rộng vừa sâu, gợi một khoảnh khắc giao thoa hỗn mang rất nhiều tâm trạng.

Hai câu tiếp theo, vẫn cấu trúc bằng lục ngôn:
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu

Bây giờ là sương khói trong chiều muộn. Cúi xuống nhìn dòng nước, thấy khói chiều in xuống mặt nước trong veo phẳng lặng. Quyên, từ cổ là mặt nước trong, do đó quyên phẳng nghĩa là mặt nước trong phẳng lặng, như thể nhìn rõ khói chiều đang chìm dưới đáy nước. Rõ là nước lộn trời, vàng gieo đáy nước, “Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”. Có lẽ Nguyễn Du mấy trăm năm sau đã tiếp thu tinh thần của câu thơ Nguyễn Trãi mà sáng tạo lại trong Truyện Kiều câu thơ trên, khi mà tiếng Việt đã đạt đến độ nhuần nhuyễn và trang nhã chăng? Còn trên trời thì đàn chim nhạn đang xếp hình chữ triện mà mỏi mệt bay về rừng tìm chốn ngủ. Và gió nhẹ, thổi rỗng cả trời…

Cảnh chỉ là điểm xuyết, mà gợi nên bức tranh đủ sắc màu, rất sống động, và tiếp đó, nó như thể đang chuyển động dần về phía đêm tối, về phía lụi tàn.

Hai câu cuối, tác giả viết:
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối ước về đâu?

Con thuyền nhỏ nhoi (Thuyền mọn) của Tiên sinh, hay con thuyền của một vị khách nào đó, vẫn còn đang mải miết chèo trên sông, như chẳng muốn dừng lại. Trong nhập nhoạng bóng tà, con thuyền mọn như càng nhỏ bé hơn, chưa muốn, hay chưa tìm được nơi đỗ lại mà nghỉ ngơi, hay bởi vì Trời ban tối, ước về đâu, biết về đâu? Câu bảy thất ngôn, dàn trải thêm, biểu hiện sự buông thả, lửng lơ, phân vân… Câu tám bỗng đột ngột thu lại lục ngôn, như một sự dồn nén tâm sự.

Có bao nhiêu phần trăm sự thực trong bức tranh chiều tà bên sông lộng lẫy mà buồn? Có lẽ cũng chẳng nên đặt vấn đề cân đong cụ thể, bởi thơ nhìn chung là sản phẩm sáng tạo của trí tưởng tượng, thực và ảo hoà trộn đan xen. Hai câu kết của bài thơ xem ra mới thật sự là tâm điểm của bài thơ. Phải chăng, con thuyền mọn kia, chính là hình ảnh Ức Trai Tiên sinh, như con thuyền nhỏ bé ấy, đang một mình đi tìm bến đỗ, mà chưa tìm thấy nơi đâu là bến là bờ? Từ cái ngôn chí này, có thể ước đoán Ức Trai viết bài thơ này vào thời điểm quân Minh đang đô hộ nước ta, Ức Trai đang bị giam lỏng ở thành Đông Quan, chưa tìm được minh chủ mà đem tài giúp nước? Cũng có thể đây là thời điểm Nguyễn Trãi bị thất sủng, về ở ẩn tại Côn Sơn, trong hoàn cảnh chính sự trong nước đang rất đen tối, nhất là ở nơi triều chính. Nguyễn Trãi từ tin tưởng, đến nghi ngờ và thất vọng trước thực tại đau lòng: Biết bao trung thần bị hãm hại, còn lũ gian thần hiểm ác nổi lên như ong, nhũng lọan cả triều đình. Làm sao mà không bi quan cho được khi mà Trời ban tối, biết về đâu?

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Cụ Phán Men Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố

HỌC MỖI NGÀY. Blog Cao Thâm và Bee.net.vn có hai bài viết hay về cụ Phán Men Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, Trưởng Thường trực Quốc hội, nhân sĩ yêu nước tâm huyết và có uy tín trong hệ thống Quốc hội, Mặt trận, Chính phủ Kháng chiến đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cụ đã hi sinh khi rơi vào tay giặc lúc quân đội Pháp bất ngờ nhảy dù xuống thị xã Bắc Cạn ngáy 7 10.1947 nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta.. Phán Men là cụ phán đi men tường. Bác Hồ đã nhắc lời Khổng Tử “Người quân tử men tường mà đi” để nói về cụ Phán làm tôi sửng sờ dụi mắt đọc lại. Cụ Nguyễn Văn Tố ngoài cùng bên trái, ảnh Bee.net

CỤ PHÁN MEN

Cao Thâm

Cách đây tròn 64 năm (ngày 7/10/1947), quân đội Pháp nhảy dù xuống TX. Bắc Cạn, hòng tiêu diệt cơ quan đầu não của ta.

Thời tham gia viết sử cho Bưu điện Bắc Cạn, tôi đã được nhiều nhân chứng lịch sử như cụ Nông Văn Quang, Nguyên Bí thư Tỉnh ủy BC; cụ Doanh Hằng, nguyên Chủ tịch UBHC Kháng chiến tỉnh; cụ Trương Văn Kiên, nguyên CB Bưu điện BC v.v.kể cho nghe sự kiện này rất chi tiết. Theo các nhân chứng, sau ngày Toàn quốc Kháng chiến (19/12/1946), Trung ương Đảng, Chính phủ chuyển lên Việt Bắc. Khi đó, TX. Bắc Cạn có hàng vạn người. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 7/10, máy bay giặc Pháp bất ngờ nhảy dù xuống TX Bắc Cạn. Chúng đã bắn giết nhiều cán bộ và đồng ta. Đồng chí Trường Chinh, khi đó là Tổng Bí thư, được 2 mẹ con người Bắc Cạn kéo xuống hầm nên thoát nạn. Cụ Nguyễn Văn Tố, khi đó là Bộ trưởng Bộ Tế bần (có tài liệu nói là Bộ trưởng Cứu tế Xã Hội – tiền thân của Bộ Lao động TB- XH ngày nay) bị rơi vào tay giặc.

Trong hồi ký “Chiến đấu trong vòng vây”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, kể: “…Thấy cụ Tố là người chững chạc, nói tiếng Pháp yêu cầu chấm dứt chiến tranh xâm lược. Lúc biết đó không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng đã bắn chết khi ông già tìm cách chạy thoát. Đó là cụ Trưởng thường trực Quốc hội (vị trí này nay là Chủ tịch Quốc hội), nhân sĩ yêu nước tâm huyết và có uy tín. Cụ Tố hy sinh là một tổn thất lớn cho ta”.

Qua năm 1948, Nhà n¬ước đã tổ chức lễ truy điệu cụ Tố. Trong bài điếu văn, Hồ Chủ tịch đã dành những lời trân trọng, thống thiết, sâu sắc để t¬ưởng nhớ cụ:
“…Nhớ cụ xưa
Văn chương thuần túy, học vấn cao sâu
Thái độ hiền từ, tính tình thanh khiết
Mở mang văn hóa, cụ dốc một lòng
Phú quý công danh, cụ nào có thiết
Cụ dù hy sinh, tinh thần cụ ngàn thu sẽ vẻ vang bất diệt
Chính phủ khôn xiế́t buồn rầu, đồng bào khôn xiết nỗi lòng thương tiếc…”

Cụ Nguyễn Văn Tố (1889-1947), bút hiệu Ứng Hoè, sinh ngày 5 tháng 6 năm 1889, quê ở Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Thuở nhỏ, cụ học chữ Hán, sau sang Pháp học đỗ bằng Thành chung (trung học). Về nước, cụ làm việc tại trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội, chuyên về văn học cổ Việt Nam. Cụ từng làm Hội trưởng hội Trí Tri, Hội truyền bá chữ Quốc ngữ trước năm 1945. Sinh thời, cụ sống rất mực thước, quanh năm trong chiếc áo dài đen dân tộc, quần chúc bâu, đội khăn xếp ngay ngắn, đi giầy Gia Định. Cụ không bao giờ mặc âu phục mặc dù cụ làm việc cho một cơ quan nghiên cứu của người Pháp. Cụ cũng không bao giờ đi xe đạp hay xe kéo mà đi bộ từ nhà đến cơ quan men theo mái hiên các nhà dãy phố. Bởi vậy, cụ còn có cái tên “cụ Phán Men”.

Có một câu chuyện kể về “Cụ Phán Men”, tôi đã đọc ở đâu đó. Chuyện rằng: “Cuối năm 1945, cả nước gấp rút chuẩn bị cho Tổng tuyển cử. Những ngày đó, cụ Hồ thường cho một thư ký riêng của mình xuống liên lạc với cụ Nguyễn Văn Tố để trao đổi công việc. Nhà riêng cụ Tố ở phố Hàng Bạc. Cụ vốn đỗ cử nhân Hán học lúc mới ngoài 20 tuổi, qua Paris học tiếp 4 năm rồi về nước làm việc trong Viện Viễn Đông Bác Cổ. Là một trí thức yêu nước, cụ đã từng đứng ra tổ chức phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ được cả nước hưởng ứng mạnh mẽ. Nhiều năm cụ đi đi về về trên những con đường quanh co của khu phố cổ, bất kể mưa hay nắng bước ra khỏi nhà là cụ mang ô. Bóng một người đàn ông thấp nhỏ áo the khăn đóng đi men dưới mái hiên những ngôi nhà già nua đã thành một ấn tượng khó phai mờ trong đầu người dân Hà Nội, họ yêu quý gọi cụ là cụ Phán men.

Mỗi lần tới nhà cụ bàn việc khi đứng dậy để ra về bao giờ người thư ký cũng không quên rút từ trong cặp ra một chai rượu ngon và nói, thưa cụ, Bác cho tôi mang chai rượu xuống biếu cụ. Cụ Tố nhận rượu và cảm ơn.

Đến lần tặng rượu thứ ba, vừa đưa tay ra nhận rượu, cụ Tố vừa nhỏ nhẹ nói, nhờ anh về thưa lại là cụ hiểu lầm tôi rồi đấy. Người thư ký vội về thưa lại, Bác ngồi yên lặng hút thuốc. Rồi Bác quay ra hỏi ông cụ trách như vậy ý chú thì sao? Người thư ký nói: thưa Bác hình như cụ Tố không uống rượu. Bác Hồ bật cười, phải, chúng ta đã nhầm. Phán men không phải là Phán rượu, đây là người men tường mà đi. Quân tử nép tường mà đi, chú có biết ai đã nói thế không, là Khổng Tử nói đấy”.

Cao Thâm

Nguồn: Blog Cao Thâm

“ÔNG PHÁN MEN” THÀNH CHỦ TỊCH QUỐC HỘI ĐẦU TIÊN

Nguyễn Thìn Xuân

“Ông phán men”

Cụ Nguyễn Văn Tố (1889-1947) hiệu là Ứng Hòe, một nhà trí thức yêu nước nổi tiếng, nguyên Trưởng ban thường trực Quốc hội(tức Chủ tịch QH), Bộ trưởng Bộ Cứu tế – xã hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã hy sinh tại Bắc Cạn năm 1947.

Cụ sinh 5/6/1889 trong một gia đình nho giáo, gốc Hà Nội (tại làng Đông Thành, huyện Thọ Xương cũ).Tốt nghiệp trường Thông ngôn, cụ đến làm thư ký tòa soạn bộ kỷ yếu (D.P.C.H.V). Từ nhân viên phụ tá, cụ lên chức chủ sự Học viện Viễn Đông Bác cổ, một cơ quan nghiên cứu lịch sử văn hoá của người Pháp ở 26 phố Lý Thường Kiệt. Ngoài thời gian làm việc ở công sở, cụ thường viết bài in trên các báo chí tiếng Việt như tạp chí Tri Tân, Đông Thanh, Thanh Nghị… và các báo chí tiếng Pháp về nhiều lĩnh vực như văn học, nghệ thuật…

Cụ đã soạn thảo được hai bộ sử học đồ sộ “Đại Nam dật sử”, “Sử ta so với sử Tàu” rất công phu, nghiên cứu, đối chiếu nhiều nguồn thư tịch, tranh luận kịch liệt với các nhà sử học Pháp ở Đông Dương để làm sáng tỏ chân lý một cách khoa học. Rất tiếc bộ “Sử ta so với sử Tàu”, cụ mới soạn đến cuối đời nhà Lý, sau đó ít lâu cụ bị hy sinh nên còn dang dở.

Các nhân viên của EFEO năm1937. Hàng đầu bên trái là Louis Bezaceer, cụ Nguyễn Văn Tố ở hàng thứ hai, đứng giữa ông George Coedes và bà Madelene Colani. Ảnh: Xưa và Nay.

Cụ Nguyễn Văn Tố không những uyên thâm Hán học mà tinh thông cả Tây học. Ngay cả với ông Nguyễn Thiệu Lâu, giáo sư trường Khải Định (Huế), có 5 bằng cử nhân KHXH, khi nhờ cụ xem bản thảo, cụ cũng gạch đỏ, ghi rõ lỗi thuộc loại nào khiến ông Lâu cũng phải tâm phục, khẩu phục. Người Pháp cũng rất kính nễ ông. Bezacier, chuyên viên khảo cổ học người Pháp cũng phải nhờ cụ sửa bài. Ông Coedès ,Giám đốc Viện, khi đưa bài cho cụ, nói hẵn với cụ rằng: “Có sai cứ sửa, nếu sau này có ai chỉ trích một điểm gì là lỗi ông đó”.

Trong số 128 vị sáng lập hội Trí Tri, có tên 20 người Pháp, đứng đầu là toàn quyền P.Doumer. Năm 1934 – 1935, cụ Nguyễn Văn Tố, thành viên cũ của Hội Đông kinh nghĩa thục được bầu làm Hội trưởng của Hội Trí Tri thay cho Phạm Quỳnh được Bảo Đại vời vào Huế làm thượng thư bộ Học. Bởi vậy, ở Việt Nam, đầu thế kỷ XX, danh tiếng của cụ được xếp vào loại tứ danh kiệt “Quỳnh, Vĩnh, Tố, Tốn” (Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Phạm Duy Tốn).

Cụ sống rất mực thước, quanh năm trong chiếc áo dài đen dân tộc, quần chúc bâu, đội khăn xếp ngay ngắn, đi giầy Gia Định. Cụ không bao giờ mặc âu phục mặc dù cụ làm việc cho một cơ quan nghiên cứu của người Pháp. Cụ cũng không bao giờ đi xe đạp hay xe kéo mà đi bộ từ nhà đến cơ quan men theo mái hiên các nhà dãy phố. Bởi vậy, đương thời, cụ còn có cái tên “ông phán men”.

Lập hội truyền bá chữ Quốc ngữ

Tuy nhiên điều làm cho người dân đất Việt còn mãi mãi ghi ơn công đức của cụ là việc cụ tham gia sáng lập ra Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ để mong “95% dân số Việt Nam không biết một thứ chữ gì” (thống kê của Nha học chính Đông pháp năm 1938) được học chữ quốc ngữ, một thứ chữ chỉ cần học 3 thàng là có thể biết đọc, biết viết – một thứ chữ mà ngày nay “ như sinh ra là đã có thứ chữ này rồi” (nhà văn Hoàng Tiến).

Cụ Nguyễn Văn Tố đã cùng lớp trí thức đầu thế kỷ XX như các ông Trương Văn Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Văn Vĩnh, Lương Văn Can, Phan Kế Bính, Vũ Đình Hòe… phát động công cuộc Cách mạng chữ quốc ngữ. Đầu năm 1938, theo đề nghị của Trường Chinh, xứ ủy Bắc kỳ quyết định vận động một tổ chức công khai chống nạn mù chữ và giao cho Trần Huy Liệu, chủ bút báo Tin Tức cùng các ông Đặng Thai Mai, Võ nguyên Giáp, giáo sư trường tư thục Thăng Long, tập hợp một số tri thức tiêu biểu như Bùi Kỷ, Hoàng xuân Hãn, Quản Xuân Nam… họp tại nhà ông Phan Thanh bàn bạc thành lập một tổ chức lấy tên là Hội truyền bá học chữ quốc ngữ. Các thành viên nhất trí cử cụ Nguyễn văn Tố làm Hội trưởng, đặt trụ sở tại hội quán Trí Tri ở phố Hàng Quạt số nhà 47, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Sau những ngày thành lập, Hội TBQN lần lượt được thành lập ở cả Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ. Mặc dù thưc dân Pháp đã phải công nhận việc thành lập nhưng chúng ra sức ngăn cản, tìm mọi cách phá rối, cản trở Hội hoat động. Đại tướng Võ nguyên Giáp đã từng phải nói: “Đi học lúc bấy giờ là đi làm cách mạng”.

Tuy Hội TBQN chỉ hoat động đến Cách mạng tháng 8 nhưng cũng đã giải phóng cho được gần 7 vạn người thoát nạn mù chữ, là vườn ươm cho ngành Bình dân học vụ do Bác Hồ kính yêu sáng lập ra sau ngày 3/9/1945.

Chủ tịch Quốc hội đầu tiên

Cách mạng tháng 8 mới thành công, bộn bề khó khăn, thù trong giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Nguyễn văn Tố mới có dịp gặp nhau. Mến vì đức, trọng vì tài, Bác Hồ mời cụ Tố ra giúp nước. 2 triệu người chết đói năm Ất Dậu đang đè nặng lên xã hội.

Được Bác Hồ phân công, cụ Tố sẵn lòng nhận nhiệm vụ là Bộ trưởng Bộ Cứu tế – xã hội (nay là Bộ LĐ-TB-XH) trong Chính phủ Hồ Chí Minh. Sau tổng tuyển cử đầu tiên, cụ trúng cử đại biểu Quốc hội với tư cách là đại biểu tỉnh Nam Định. Trong cuộc họp Quốc hội sau đó, cụ đươc bầu là Trưởng ban thường trực Quốc hội (ngày nay là Chủ tịch Quốc hội) khóa 1 và cho đến ngày 8/11/1946, cụ Bùi Bằng Đoàn thay thế. Ngày 3/11/1946, cụ lại giữ chức Bộ trưởng không bộ trong Chính phủ.

Giặc Pháp trở lại xâm lược nước ta, ngày 7/10/1947, chúng cho quân nhảy dù xuống Bắc Kạn âm mưu tiêu diệt đầu não kháng chiến, cụ bị chúng bắt và giết: ” Thấy cụ là người chững chạc, nói tiếng Pháp yêu cầu chấm dứt chiến tranh xâm lược. Lúc biết đó không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng đã bắn chết khi ông già tìm cách chạy thoát. Đó là cụ Trưởng ban thường trực quốc hội, nhân sĩ yêu nước tâm huyết và có uy tín. Cụ Nguyễn Văn Tố hy sinh là một tổn thất lớn cho ta” ( Hồi ký “Chiến đấu trong vòng vây” – Võ Nguyên Giáp).

Sang năm 1948, sau khi đánh tan âm mưu tấn công của thực dân Pháp Nhà nước ta đã tổ chức lễ truy điệu cụ Tố. Trong bài truy điệu, Hồ Chủ tịch đã dành những lời trân trọng, thống thiết: “…Nhớ cụ xưa/ Văn chương thuần túy, học vấn cao sâu/ Thái độ hiền từ, tính tình thanh khiết/ Mở mang văn hóa, cụ dốc một lòng/ Phú quý công danh, cụ nào có thiết”…

“Chúng tra tấn cực kỳ dã man, tàn khốc/ Cụ trả lời chúng bằng một nụ cười oanh liệt/ Chúng làm hại cụ, lịch sử Pháp muôn đời thêm một vết xấu xa…/Cụ dù hy sinh,tinh thần cụ ngàn thu sẽ vẻ vang bất diệt/

“Chính phủ khôn xiết buồn rầu, đồng bào khôn xiết nỗi lòng thương tiếc”.

Nói đến nhà trí thức lớn của đất nước, nhà bác học “thông kim bác cổ” (lời Giáo sư Nguyên Xuân), “nhà sử học anh hùng” (GS Hà Văn Tấn), nói đến vị liệt sỹ Bộ trưởng đầu tiên đã ngã xuống vì nền độc lập còn non trẻ của nước nhà, ai cũng thấy cuộc đời và sự nghiệp của cụ thật đáng khâm phục.

Tuy nhiên, đến ngày nay, ai cũng xót thương cho linh hồn của cụ, vẫn còn lang thang nơi rừng thiêng của tỉnh Bắc Kạn, cám cảnh không có nơi cho đồng bào cả nước đến cắm nén nhang thơm viếng cụ.

Nguyễn Thìn Xuân

Nguồn: Bee.net

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Vui vui vui 5 phút thư giản

Thư của ông chồng, vợ già và bồ nhí


Thư của bà vợ gửi cô bồ nhí

“… Khi viết thư cho tôi, cô có vẻ tự đắc pha chút hả hê. Cô cảm thấy mình giật được từ tay bà khác một mỏ vàng, và mình có những phẩm chất rất khác thường nên mới gặp may như thế.

Cô nhầm thảm hại quá, cô ơi!

Quả thật lão ấy là một cái mỏ. Hay nói chính xác hơn, đã từng là mỏ. Điều ấy cách đây ba mươi năm về trước, cả thành phố đều phải công nhận chứ đâu cần phải một cô gái có trí tuệ siêu việt gì.

Nhưng trên, trong và dưới cái mỏ ấy, tôi đã đào, đã cuốc, đã đẽo, đã nổ mìn, khai thác rầm rộ, quy mô mấy chục năm.

Và giờ đây, mỏ chỉ còn khung, còn lai sự hoang tàn. Chỉ có đôi mắt ngốc của cô, chỉ có cặp môi dại của cô và chỉ có tí não khờ của cô mới không nhận ra điều đó.

Cô vớ được lão, khi tôi trong một chừng mực nào đó, đã mặc cho lão tự do. Cho lão có cảm giác sổng chuồng. Đàn ông sống bằng ảo tưởng cô ạ, và nuôi dưỡng cái ảo tưởng đó một cách khéo léo là nhiệm vụ của phụ nữ chúng ta.

Tôi không vui gì khi lão có bồ. Nhưng chớ nói rằng tôi quá hoảng sợ vì điều đó. Tôi quá hiểu đứa khác sẽ được bao nhiêu trong khi mình đã vớ bao nhiêu. Phần của cô, hỡi ôi, thật là thảm hại.

Cô khéo là ngây thơ và nhí nhảnh. Cô té xỉu khi gặp thằn lằn và ngã lăn ra khi gặp tắc kè. Dạ thưa cô, khi bằng tuổi cô, tôi cũng ngây thơ như thế. Nhưng lúc này, gặp hai của đấy, tôi chỉ đập một cái cho bẹp dí là xong.

Rồi cô khoe là cô biết chợp mắt, biết ngả đầu và biết cười he hé nghiêng nghiêng. Ôi dào, những trò đó ngày xưa tôi làm mãi. Và bây giờ vẫn có thể làm, thậm chí còn làm hay hơn cô ấy chứ. Nhưng vì mục đích gì, gặt hái gì khi mọi thức đã no nê? Cô nhìn lão trong quán cà phê hạng sang. Trong com-lê và cà vạt đắt tiền. Còn tôi có khá nhiều dịp (nhiều hơn cả cần thiết) nhìn lão trong quần đùi rộng, trong áo may ô chả hiểu là màu gì.

Và tôi cam đoan rằng, cái tôi nhìn mới là cái thật. Cái cô nhìn là giả. Cô thừa biết thế, chẳng qua cô đang tự dối mình. Cô chê tôi chỉ biết rửa bát, nấu cơm. Cô thương tôi vì tôi chỉ chăm chăm lo cái nhà sạch bóng. Nhưng tôi lại thích vậy. Vì đấy là nhà tôi và lão chỉ có nửa phần. Còn lão có bóng hay không, có sạch hay không, lão phải tự lo. Tôi còn bận lo cho bản thân mình…” (…..)

Và đây là phản hồi của “người tình trẻ”

…xin phép được cho tôi gọi bà là…bà, không hơn không kém, vì chăng bà vẫn mãi chỉ là một con đàn bà cũ kỹ, với những suy nghĩ xưa như chính cái áo bà mặc, kiểu tóc bà để và đôi dép bà lê.

Bà thật là đáng thương khi đã tưởng mình luôn đứng trong vị trí của người ở trên. Bởi vậy nên bà chưa bao giờ biết là bà đang ở vị trí ở dưới hay ở trên hoặc chẳng là gì cả.

Bà yêu và dâng hiến những gì tốt đẹp nhất của minh cho ông ta, để rồi sau khi đã hơt hết đi phần thơm ngon nhất, ông ta bù lại cho phần đời còn lại của bà bằng việc ban thêm cho côc nước cặn một thìa đường. Vậy là bà cứ nghĩ là bà mới là người được hưởng những gì ngọt ngào nhất từ ông ta, là người có quyền chiếm đoạt được phần tinh túy nhất của thằng đàn ông trong con người mà bà gọi là chồng.

Liệu tôi có phải dậy lại bà về đàn ông nữa không ? Chắc chắn là có. Và không có gì phải ngạc nhiên khi bà sẽ là học trò ngu dốt nhất của trường đời. Bà hãy cứ sống nốt kiếp mông muội này đi và hãy ôm theo ảo mộng của bà xuống mồ. Vì rằng, thằng chồng tội nghiệp của bà hay là người đàn ông trong mộng tưởng của tôi thì cuối cùng cũng chỉ là một con cờ nhỏ bé trong cả một ma trận của cuộc chơi. Tôi, bà, ông ta, và rất nhiều thằng đàn ông khác đều đang bị cuốn trong cuộc chơi, chỉ khác, TÔI đang là người cầm cái.


Thư của ông chồng gửi bà vợ và cô bồ nhí

Tôi đã suy nghĩ rất nhiều khi được cả thư của cả hai bà. Tôi mạn phép được phúc đáp cả hai qua lá thư ngỏ sau đâyy. Xin mạn phép gọi 1 bà là cơm, 1 bà là phở

Thưa hai bà:

Nếu xét về “thành phần cấu tạo” thì cơm và phở rất giống nhau, đều được làm chủ yếu từ… gạo tẻ. Phở có thịt có hành thì cơm có cũng có, đã vậy cơm còn hay hơn vì không bao giờ bị trộn… hàn the. Cơm cũng rẻ hơn và… no lâu hơn.

Dân gian gọi vợ là cơm, bồ là phở. Nếu xét theo khoa học thì cách gọi đó chẳng xúc phạm ai cả vì hai “món” này đều có giá trị độc lập, chả cái nào cao hơn cái nào. Nhưng rõ ràng phở luôn luôn tượng trưng cho sự bay bướm. Ưu thế của phở so với cơm là quá rõ ràng trong chuyện tình ái, mặc dù nhiều lúc “phở” xấu hoặc già hơn “cơm”.

Đàn ông thèm “phở” vì ít được ăn phở. Muốn ăn phở, nhất là phở đặc biệt, thì phải có tiền, có xe, trong khi cơm ngày nào cũng được ăn và phải ăn.

Đàn ông dùng cơm ở nhà trong không khí quen thuộc, ấm áp đến nhàm chán, còn dùng phở ở xa nhà, trang trí lạ mắt, đôi khi đẹp mắt và có cả âm nhạc.

No thì rất khó ăn thêm cơm. Còn phở, no tới mấy cũng có thể làm thêm một tô. Ăn phở xong có thể đứng dậy, đi ngang hoặc ngồi, nằm một chút. Còn ăn cơm xong nhiều khả năng phải thu dọn và rửa bát đĩa.

“Phở” không quán nào giống quán nào, thậm chí là không tô nào giống tô nào. Còn cơm thì có khi bao nhiêu năm vẫn thế, chỉ có nguội hơn.

”Phở” có thể ăn chung với bạn bè. “Cơm” thì rất ít, phần lớn là ăn chung với… bà nấu cơm.

Lúc ăn phở, có thể dễ dàng yêu cầu thêm tý hành, tý bánh hoặc thêm tý ớt cho mặn nồng. Còn cơm, có gì trên mâm hãy xơi nấy, yêu sách lôi thôi còn bị mắng hoặc bị gắt gỏng “không ăn thì thôi”.

Phở tuy cùng một chỗ nhưng có thể ăn tái, chín, nạm, gầu, gân, sách.. tùy thực khách quyết định. Cơm thì do mụ nấu cơm quyết định.

Nếu ăn phở nhiều tới mức độ trở thành khách quen, khách có thể ăn… nợ. Còn nếu không đưa tiền lương, “cơm” sẽ dừng ngay.

Nhưng tôi thừa biết rằng bỏ tiệm “phở” này, có thể dễ dàng tìm tiệm khác. Còn bỏ “cơm” thì phức tạp vô cùng.

Chúc cả hai bà khỏe, vui nhân ngày 20-10. Tình yêu của tôi đối với các bà là mãi mãi

Theo blog Hiệu Minh

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC