Tư liệu người Nga, văn chương Nga

NGỌC PHƯƠNG NAM.  Tiểu luận Văn học Nga chiếc nôi vĩ đại và êm ái của Nguyễn Chu Nhạc và chân dung văn Ivan Novitxky của Trần Đăng Khoa rất ấn tượng về văn chương Nga người Nga. Mình đã đọc nhiều lần bài Khoa viết trong Chân dung và đối thoại nhưng đọc lại trang này trên mạng vẫn thấy tươi rói, ngời lên con người Nga, tính cách Nga điển hình tựa như Natasha Rostova trong Chiến tranh và Hòa bình của Lev Tonstoi,  như Acxênhia của Mikhain Sôlôkhôp và anh Ivan Nga cùng chú gấu Misa vậy. Bài tiểu luận của Nguyễn Chu Nhạc thật quý như vị tướng khái quát lực lượng trước trận đánh. Chu tiên sinh nên gửi bài này lên Từ điển Bách khoa Mở kiểu như  Cây Lương thực – Wikipedia tiếng Việt. Việc này sẽ lợi cho lớp trẻ dễ hơn khi đi vào những dãy núi hùng vĩ của văn chương Nga.  Hoài Tố Hạnh bình: Ôi chao tham chén bỏ mâm/ Tham vàng bỏ ngãi, lẫn ông với thằng./ Chênh vênh vỡ nửa vầng trăng/ Mới hay nòng nọc, thằn lằn đứt đuôi / Mới hay cá biển chim trời/ Một thời buông, bắt, một thời mò kim ...Mình có 15 năm (1983-1997 làm việc cùng chuyên gia nông nghiệp Nga nay vui bạn để ca nối lời: “Thật vàng chẳng phải than đâu / Mà đem thử lửa cho đau lòng vàng/ Hiểu sâu cá biển chim ngàn/ Mới hay thầy bạn là vàng của tâm. (ảnh HK sách Đường sống, tác phẩm Lev Tonstoy. Nhà Xuất bản Tri thức, Hà Nội, 1180 trang).

VĂN HỌC NGA, CHIẾC NÔI VĨ ĐẠI VÀ ÊM ÁI.

Nguyễn Chu Nhạc

Tôi có thói quen, hễ khi công việc bế tắc, hoặc khi tự thân thấy chan chán, là tôi lượn hiệu sách. Hệt như cánh phụ nữ ở cơ quan tôi, họ lấy lại niềm vui bằng cách lượn siêu thị mua vặt vãnh, hay sà vào các shop quần áo thời trang. Và cũng giống như các mặt hàng đầy tính vật chất kia, món ăn tinh thần-sách bây giờ tràn lan, ê hề, có cả loại đại hạ giá, thích cuốn nào thì nhặt mua, mà tiền túi cũng chẳng phải băn khoăn, cân nhắc như thời trước khốn khó. Chớ trêu thay, tuổi trẻ ham đọc, khát kiến thức thì không có sách mà đọc, đến lúc đứng tuổi, có điều kiện mua sách thì lòng không còn ham đọc, vả lại cũng không có thời gian.

Lượn hiệu sách, lần nào cũng vậy, loanh quanh rồi lại mò đến khu vực bày sách văn học Nga. Hễ cứ sa vào khu vực ấy, tôi cũng bị mê dụ, khó tránh khỏi cám dỗ, nâng lên đặt xuống mãi rồi cũng mua một vài quyển, cho dù tôi đã từng đọc, từng mua quyển sách đó… Sao lại thế ? Tôi đang đi tìm lại tuổi thơ tôi ?!…

Trong bộ sách Đi tìm thời gian đã mất ( Retrouvé le temp ) của Marcel Prouts , ở phần Cái tên xứ sở, tác giả đã tự sa vào mê cung của hồi ức, để rồi giăng bẫy bạn đọc và để họ tự cuốn theo không tài nào cưỡng nổi, quẫy tìm mãi mà chẳng thấy đường ra. Văn học Nga cũng luôn làm tôi mất phương hướng. Với tôi, văn học Nga không chỉ là văn thôi, mà còn là tình cảm và ký ức. Chẳng thế mà trong phần tự bạch của mình về văn chương thế giới kim cổ, văn học Nga đã chiếm một tỷ trọng không nhỏ.

Về nhà văn : N. L.Tolstoi (nhà văn xuất sắc nhất), S.A. Exenin (nhà thơ xuất sắc nhất ) , A.P. Tsekhov ( nhà văn viết truyện ngắn & kịch xuất sắc nhất ) , I.S. Turgeniev ( nhà văn viết về tình yêu hay nhất ) , P.M. Dostoievski ( nhà văn viết về cái ác hay nhất ) , M. Gorki ( nhà văn viết cho thiếu nhi hay nhất ), K.G. Pautovsky ( nhà văn viết chân dung văn học xuất sắc nhất ), I.A. Bunin ( nhà văn viết truyện ngắn xuất sắc nhất ).

Về tác phẩm văn học : Chiến tranh và hòa bình (N.L Tolstoi)- tiểu thuyết xuất sắc nhất ; Bút ký người đi săn ( I.S. Turgeniev )- tác phẩm du ký xuất sắc nhất ; Sông Đông êm đềm ( M.K. Solokhov )- tiểu thuyết hoành tráng nhất ; Taras Bulba ( N.V. Gogol )- tiểu thuyết bi tráng nhất ; Đất vỡ hoang ( M.K. Solokhov )- tiểu thuyết khôi hài nhất; Cánh buồm đỏ thắm (A. Grin )- tác phẩm cho thiếu nhi hay nhất ; Chuyện núi đồi và thảo nguyên ( T. Aimatov )- tác phẩm văn xuôi giàu chất thơ nhất ; Evgeni Onegin (A.S.Pushkin )- trường ca hay nhất v.v…

Sơ sơ thế mà văn học Nga đã đầy ắp. Với tôi, giờ đây là sự đầy ắp trong ký ức. Chứ vào cái tuổi tôi đi học thì …

Ngày ấy, cuối những năm sáu mươi và đầu bảy mươi thế kỷ trước, sách truyện hiếm lắm, còn hơn xa xỉ phẩm. Sách giáo khoa cho học sinh còn truyền nhau mấy thế hệ trong nhà cùng học thì lấy đâu ra sách truyện. Tôi may mắn vì cha tôi vốn là mọt sách, ông lại giỏi hai ngoại ngữ là Hán ngữ và Pháp ngữ, nên đọc rất nhiều. Từ nhỏ, tôi thường được cha kể cho nghe nhiều chuyện. Chuyện Tàu thì có Thủy Hử, Tam Quốc diễn nghĩa, Tây Du ký, Phong thần diễn nghĩa… còn chuyện Tây thì những Truyện cổ An-đec-xen, truyện cổ Grim, truyện ngụ ngôn La Phông-ten… Song đấy mới là chuyện kể. Còn những tác phẩm văn học tôi tự đọc lấy thì lại là những tác phẩm văn học Nga-Xô viết. Tôi nhớ, những cuốn sách văn học đầu tiên tôi được đọc là: Thời thơ ấu, Những trường đại học của tôi, Kiếm sống ( M. Gorky ), Suối thép (A.Xêraphimôvits ), Những linh hồn chết ( N.V. Gogol ), Chiến tranh và hòa bình ( L. Tolstoi ), Người con gái viên đại uý ( A. Pushkin ), Người anh hùng của thời đại chúng ta ( M. Lermontov ), Chuyện chú bé đánh trống ( A.P. Gaidar ), Cánh buồm đỏ thắm ( A. Grin ), Con đường đau khổ ( A. Tolstoi ), Đội cận vệ thanh niên ( A. Fadeev ); rồi cuốn Trong chiến hào Xtalingrad , Những người chân đất và một số tác phẩm của các nhà văn Xô-viết mà giờ đây tôi không còn nhớ tên tác giả. Tôi còn nhớ rõ là hai cuốn Đội cận vệ thanh niên, Trong chiến hoà Xtalingrad được Nhà xuất bản Cầu Vồng ( Raduga ) hợp tác với ta in, nên sách rất đẹp với giấy trắng và bìa dày cứng.

Còn về thơ, đó là những bài thơ trữ tình của Pushkin, Lermontov, Blok, Nhekraxov … được các chàng sinh viên chép vào sổ tay. Ầy là vì, vùng quê tôi chỉ cách Hà Nội hơn hai chục cây số đường chim bay, nên những năm chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ, có đến mấy trường đại học từ Hà Nội sơ tán về. Sinh viên thì ở nhờ nhà dân, giảng đưòng thì dựng tạm tranh tre vách đất. Lẽ dĩ nhiên, thư viện của trường cũng phải chia nhỏ theo chân sinh viên. Đấy chính là nguồn sách đọc của tôi suốt thời nhỏ… Có hai lý do để cái kho sách của mấy trường đại học sơ tán về quê tôi ùn ùn chuyển đến nhà tôi và nhờ thế tôi được đọc. Là vì, bô tôi vốn là kiến trúc sư thời Tây, ông giỏi Hán tự và Pháp ngữ, khá thông thạo đông tây kim cổ, nên các chàng sinh viên từng tiếp xúc rất khoái trò chuyện sách vở với ông. Thứ nữa, quan trọng hơn, tôi có hai người chị gái tuổi mới lớn và hình thức cũng khá, các chàng sinh viên vo ve xung quanh tán tỉnh, rồi các chàng thi nhau mang sách truyện đến cho hai em đọc để mở mang nâng cao kiến thức. Vậy là cái thằng tôi được đọc ké, thực ra là người đọc chính. Phần lớn số sách truyện ấy là văn học Nga-Xô viết.

Tôi đã miệt mài đọc những cuốn sách đó. Mê mẩn, chim đắm vào thiên nhiên, phong cảnh, xã hội Nga thời phong kiến Sa hoàng, rồi lại sục sôi cùng bầu không khí cách mạng tháng Mười Nga cùng sự khốc liệt bi tráng của chiến tranh thế giới thứ 2, khi nhân dân Liên Xô tiến hành cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống lại chủ nghĩa phát-xít. Với một tâm trạng như vậy, tôi đã biết thích mẫu nhân vật có chất anh hùng, kiểu như vị công tước Andray Ponkonsky (Chiến tranh và hòa bình ), Olech Cosevoi và những thanh niên kôm-xô-môn ( Đội cận vệ thanh niên), chú bé đánh trống v.v…

Lớn lên chút nữa, tôi có dịp mon men đến các tác phẩm khác như Anna Karenina ( L. Tolstoi ), Taras Bulba ( N. V Gogol ), Bút ký người đi săn, Cha và con, Mối tình đầu, Lũ xuân, Axia ( I. Turgeniev ), Sông Đông êm đềm, Đất vỡ hoang ( M. Solokhov ) , Người đàn bà có con chó nhỏ cùng vài ba truyện ngắn khác của A. Tsekhov… Và như vậy, tôi đã mong manh biết hương vị của tình yêu đôi lứa toát ra từ những nhân vật, những cuốn sách văn học Nga vốn luôn thấm đẫm tình người. Những tình cảm đó len lỏi trong tôi, ít nhiều dẫn dắt tôi đến với thứ tình cảm tự nhiên đầy hấp dẫn với tuổi mới lớn, tình yêu nam nữ, mối tình đầu…

Đến lúc tôi học đại học, cũng là thời điểm Việt Nam đang lên đến đỉnh cao của quang vinh, ấy là kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh chống Mỹ Ngụy. Đây cũng là thời điểm cực thịnh của phe XHCN. Lưu học sinh Việt Nam ào ạt sang Liên Xô học tập, từ học nghề và bậc đại học đến bậc cao hơn là phó tiến sĩ, tiến sĩ đủ các chuyên ngành. Những người từng được đào tạo sớm ở Liên Xô đã về nước làm việc thì vào độ chín. Ấy cũng chính là lúc văn học Nga – Xô-viết được dịch ra tiếng Việt, được các nhà xuất bản ở ta thi nhau in. Tuy in trên giấy xấu, song người đọc có cái mà đọc. Những năm tháng này, qua hệ thống thư viện nhà trường, rồi dè sẻn tiền gia đình cho, tôi đã đọc không biết bao nhiêu tác phẩm văn học Nga – Xô-viết. Trong trí nhớ của tôi ngổn ngang những tác phẩm như : Xê-vat-trô-pôn ( L. Tolstoi), Những đóm lửa ( Korolenko ), Chuyện sông Đông , Số phận con người ( M. Solokhov ), Gia đình Golovdiov ( ), Đêm trước ( I. Turgeniev ), Paris sụp đổ ( I. Erenburg ), Tuyển truyện ngắn ( A. Tsekhov ), Tuyển truyện ngắn ( M Gorki ), Thép đã tôi thế đấy ( Ostrovski ), bộ ba tác phẩm chân dung văn học là Bông hồng vàng-Bình minh mưa-Một mình với mùa thu ( K. Pautovsky ), Cây phong non chùm khăn đỏ, Vình biệt Gun-sa -rư , Con chó khoang chạy bên bở biển, Đoạn đầu đài ( T. Aimatov ), Truyện một người chân chính, Những người Xô-viết chúng ta ( B. Polevoi ), Daghestan của tôi ( R.Gamzatov ), Bến bờ ( I. Bondarev ), Trên mảnh đất người đời (K.Ivanov) , Và nơi đây bình minh yên tĩnh ( Vaxiliev ), Bài ca núi Anpơ (V. Bưkov )… Rồi đó là hàng loạt những cái tên như : K. Feedin, A. Platonov, B. Zitkov, N. Dumbadze, F. Gladkov, K.Ximonov, V. Sucsin, Raxputin, A. Kron …v.v… Dạo đó, những tác phẩm bị xem là có vấn đề về chính trị như các tác phẩm của I. Bunin, thơ và tiểu thuyết của B. Pasternak ( Bác sĩ Zivago ), của A. Soljenitsin; hoặc những tác phẩm được cho là khó hiểu hoặc lạ lẫm kiểu như Trái tim chó, Nghệ nhân và Margrita ( M. Bugakov ), hay như Lôlita ( Nabokov) không hề được dịch và xuất bản, mà chỉ nghe phong thanh rằng hay ho thế này xuất sắc thế kia chứ nào biết đầu cua tai nheo ra sao.

Văn học Nga – Xô-viết đã chinh phục nhiều thế hệ người Việt Nam, trước tiên là bởi tình cảm với quê hương Cách mạng Tháng Mười, với đất nước của V.I.Lenin, sau nữa là vì chính sự xuất sắc của nền văn học đó.Vào thời ấy, hết thảy những ai yêu văn học, ở độ tuổi học trò rồi sống đời sống sinh viên, hoặc ra mặt trận, đều mang trong lòng tình cảm và hình bóng một vài nhân vật hay tác phẩm văn chương Nga – Xô-viết. Ngày ấy, những tác phẩm thắp lên bầu nhiệt huyết của thanh niên Việt Nam và trở thành cẩm nang gối đầu giường là những Thép đã tôi thế đấy, Đội cận vệ thanh niên, Trong chiến hào Stalingrad ; tuổi trẻ học đường chớm yêu đương thì truyền tay nhau Mối tình đầu của Turgeniev, Anna Karenina của L. Tolstoi, Bông hồng vàng của Paustovski, là Chuyện núi đồi và thảo nguyên của Aimatov, là thơ Pushkin và Lermontov .v.v…

Tôi nhớ, văn học Nga – Xô-viết đã làm nên những hiện tương xã hội, những trào lưu nho nhỏ. Ví như, Thép đã thôi thế đấy, đã thôi thúc nhiều nam thanh niên viết đơn tình nguyện ra mặt trận ( thậm chí đã có người cắt tay lấy máu mình để viết đơn ) ; Bài thơ Đợi anh về của K. Ximonov qua bản dịch của nhà thơ Tố Hữu làm nhiều người xúc động, dám hy sinh mà không bi lụy ; Cuộc họa thơ tình tay đôi giữa Berxonov – Onga Bergon dậy lên trào lưu tình yêu tinh thần trong giới sinh viên ; Tiểu thuyết luận đề Thao thức của A. Kron đã cho thấy phần nào sự xơ cứng của xã hội và nhà nước Liên Xô với những giá trị ảo, đồng thời sớm cảnh báo về một sự rạn nứt khó bề cứu vãn, đã làm không ít trí thức ta phải suy ngẫm, kiểm chứng …

Sự thăng hoa của tâm trạng nhiều khi lại bắt nguồn từ sự thăng hoa của âm nhạc và văn học, và nó dẫn đến sự thăng hoa về sáng tạo. Không biết với những người khác thì thế nào, riêng với tôi , văn học Nga-Xôviết không những dẫn dắt tôi đến lòng yêu cuộc sống và tình yêu đôi lứa, hơn thế còn thắp lên trong tôi sự khát khao của sáng tạo, đưa tôi đến con đường sáng tác văn học. Nếu như văn học sử Trung Quốc đã mê hoặc tôi, kích thích lòng ham hiểu biết, khiến tôi bị lôi kéo để rồi sa đà vào mớ bòng bong rối rắm của các sự kiện và buồn vui theo sự thăng trầm của lịch sử, thì văn học Nga – Xô-viết lại khiến lòng tôi rạo rực đam mê, ham sống và mong muốn được sáng tạo, cống hiến. Tôi biết ghi nhật ký, bắt đầu viết những vần thơ, những dòng văn đầu tiên là nhờ thế !…

Bây giờ văn chương đa sắc màu, đa diện… Đông hay Tây, cổ hay kim, thích hoặc không, đều vô nghĩa cả, khi mà internet luồn lách và xuyên phá hết thảy. Việc định giá trị thật – giả , hiện thực – huyền ảo cũng khó lắm thay. Người đọc có quyền, họ tự lựa chọn và biết tìm cách để đọc được những gì họ cần xem, muốn xem. Vậy thì, lựa chọn cái gì là việc của họ, công việc của người cầm bút là viết. Viết ra những gì mà mình tâm đắc, mình muốn bộc lộ, thể hiện…

Với người viết, sống trong một bầu không khí như thế tưởng dễ lắm thay, song kỳ thực lại khó lắm thay…. Và giờ đây, sống trong một thế giới có HIV và ma túy, có bạo lực và khủng bố, có hạt nhân và virus máy tính … thì ai có thể tránh được đây, và cũng chẳng thể dọn nhà sang một thế giới khác trong sạch hơn để sinh sống ? Chỉ còn cách chấp nhận và sống chung, với sự nỗ lực mang tính cá nhân nhiều hơn ?…. Ấy là lúc âm nhạc và văn chương lên tiếng. Đấy là dạng thức, là phương tiện, hơn thế là công cụ, để nâng đỡ và cứu rỗi tinh thần con người ta. Tôi đã từng yêu văn học Nga – Xô-viết với cả tấm tình. Tôi không hề hối tiếc, bởi với tôi, văn học Nga – Xô-viết luôn luôn là chiếc nôi vĩ đại và êm ái, bởi giờ đây, vẫn chính văn học Nga – Xô-viết nâng giấc tâm hồn tôi !…

Tôi viết những dòng này vừa đúng vào dịp người ta kỷ niệm 90 cách mạng tháng Mười Nga thành công. Về mặt tinh thần để hướng đến một xã hội tương lai tốt đẹp hơn, tôi quả quyết rằng, giá trị của cuộc cách mạng ấy vẫn con nguyên giá trị ban đầu, tươi mới và sôi động như những gì nhà báo người Mỹ là John Reed đã viết trong thiên phóng sự nổi tiếng của mình- Mười ngày rung chuyển thế giới.

Tôi đã hiểu thế nào là đặc sản Nga, bánh mỳ đen với muối và văn học, tôi đã hiểu thế nào là tâm hồn và tính cách Nga.

Mặc dù, chưa một lần đặt chân đến nước Nga mà tôi lòng đã đầy ắp ký ức về thiên nhiên và con người Nga như đã sống những năm dài ở đó, chỉ là qua cuộc thám hiểm kỳ thú vào thế giới văn học Nga – Xô-viết mà thôi !…

IVAN NÔVITXKI

Trần Đăng Khoa

Người đầu tiên đón tôi ở Trường viết văn Macxim Gorki – Maxcơva là Iuri Valentinôvich Gaphurôp. Ông là nhà phê bình văn học, tốt nghiệp khoa lý luận trường M. Gorki, ra làm báo Đường sắt Xô-viết, rồi trở lại trường làm Trưởng khoa ngoại quốc, phụ trách người nước ngoài. Đó là một người tầm thước. Mái tóc nâu. Đôi mắt sắc và nụ cười bỡ ngỡ mà ta thường chỉ thấy trên gương mặt các giáo sư Xô-viết. Đó là nụ cười nhân hậu và trong vắt của đứa trẻ thơ nằm trong nôi mà các cụ ta ở quê vẫn quen gọi là nụ cười bà mụ dạy. Còn tôi, không hiểu sao, tôi cứ nghĩ đấy là nụ cười của Nước thiên đàng.

Tôi ọ ẹ nói với Iuri Valentinôvich bằng một thứ tiếng Nga ngọng nghịu, rằng tôi muốn được ở chung với người Nga, một anh bạn Nga thuần khiết để học tiếng. Chẳng biết Iuri có hiểu điều tôi nói không, chỉ thấy ông gật gật và mủm mỉm cười, một nụ cười đúng là của Nước thiên đàng.

Thế rồi ngay chiều hôm ấy đã có tiếng gõ cửa. Một anh bạn Nga to béo phục phịch với gương mặt rậm rịt râu ria, mang theo một chiếc va-li cũ nát đựng đầy sách. Những cuốn sách cũng cũ kỹ và bụi bặm như ông chủ của chúng.

– Tôi là hàng xóm của anh. Iuri bảo anh là đại uý quân đội. Đúng không? Tôi cũng là đại uý, đại uý phục viên.

Anh bạn mới đến bắt đầu nói bằng một thứ tiếng nghe xèo xèo như rán tóp mỡ. Vừa nói, anh vừa ra hiệu, hai tay cứ khoắng tít trong không khí như một bà cốt đã nhập đồng. Sau những lời ỗm oãm của anh, tôi lờ mờ hiểu rằng, anh cũng đã từng là một người lính, từng làm nghĩa vụ quốc tế đánh nhau ở Apganixtan và để lại trên vùng đất xa xôi ấy một nửa bàn chân trái, do giẫm phải mìn.

– Tôi là Ivan Nôvitxki. – Anh bạn tiếp tục giới thiệu.- Ivan Nôvitxki nghĩa là gì, cậu biết không?  Nghĩa là Ivan no whisky – Ivan không có rượu.

Nói rồi, Ivan không có rượu búng búng một ngón tay ngắn chủn, mập mạp vào cái cổ to, đỏ bự như cổ gà chọi. Và thế là chúng tôi thân nhau. Thân khá nhanh. Có lẽ chính cái chất nông dân quê kiểng đã giúp chúng tôi sớm “bắt” nhau. Tôi ở sông Kinh Thầy; còn Ivan ở sông Đông. Anh là đồng hương của Mikhain Sôlôkhôp. Thành phố Rôxtôp trên sông Đông, quê anh có thể gọi là thành phố M. Sôlôkhôp. Ngay từ khi nhà văn còn sống, người ta đã dựng tượng ông bên bờ sông Đông, đã có cả một bảo tàng M. Sôlôkhôp do chính ông, ăn lương nhà nước, biên chế làm nhân viên hướng dẫn bảo tàng. Các phố, đại lộ và ga tàu điện ngầm trong thành phố đều mang tên các nhân vật của M. Sôlôkhôp, chứ không phải tên các danh nhân văn hoá hay các vị chính khách như ở các thành phố Nga khác. ở đó có ga Grigôri, công viên Panchêlêvits, phố Đunhiasca. Nhà Ivan trên đại lộ Acxênhia.

“Tiếc là bây giờ chẳng còn Acxênhia nữa. – Ivan lầu bầu. – Các cô gái sông Đông bây giờ họ nghiêm trang lắm, cứ như là những cây cột điện mặc váy. Phụ nữ mà không lẳng lơ, không sóng sánh ướt át thì chán lắm, vì mất hết sự hấp dẫn”. Ivan là người mau chuyện. Anh bô lô ba la suốt ngày, cứ như một cái rađiô di động. Không cần biết ông bạn ấm ớ ở trên sao Hoả kia có nghe được mình hay không. Có khi nửa đêm, anh còn lôi tôi dậy, bắt nghe hàng loạt thơ mới. Anh viết lại nhiều. Mà viết được bài nào, anh cũng bắt tôi phải nghe. Có ngày, anh nhăn nhó với tôi : “Hôm nay đối với tớ, quả là một ngày xúi quẩy”. Tôi hoảng hốt : “Sao thế ? Có chuyện gì thế, Ivan?”. “Một ngày xấu. Rất xấu chứ sao? Đúng là ngày quỷ tha ma bắt. Tớ viết được ít quá. Có được mỗi… mười một bài thơ thôi”. Tôi tròn mắt kinh hãi. Còn anh thì lầu bầu đọc thơ. Anh đọc chậm. Thỉnh thoảng lại hỏi :”Cậu có hiểu không ?”.

Nếu thấy mặt tôi nghệt ra, anh lập tức lật từ điển. Ivan tra từ điển ma quái như một nhà ảo thuật. Anh chỉ lật một, hai nhát đã ra ngay được chữ cần tra. Đi dạo, hay ngồi trò chuyện với tôi, bao giờ anh cũng cặp kè kè hai bên nách hai cuốn từ điển dày đến hàng…. chục ký. Tôi nghe thơ Ivan lâu thành quen, quen đến mức không cần từ điển cũng hiểu được hết. “Cậu viết khoẻ thật. – Tôi bảo. – ở Việt Nam, đến thi sĩ lớn cũng không thể viết nổi một ngày chục bài. Có người hàng tháng, thậm chí phải hàng năm mới viết được một bài. Ngày xúi quẩy mà cậu còn sản xuất được hơn chục bài thì cậu đúng là thiên tài. Nhưng thiên tài thì không nên đọc thơ, Ivan ạ, chỉ đọc số lượng bài cho thiên hạ hãi thôi, chứ đừng đọc thơ nhá, vì thơ như thế này mà một ngày cậu viết được có mười một bài thì… ít quá”.

Ivan cười hự hự, rồi dứ dứ nắm đấm lên trước trán tôi. Tôi cũng cười khụt khịt. Đúng là hai lão dở người. Ngoài kia, khu vườn vàng rực sau ô cửa sổ bỗng cồn lên tiếng quạ. Tuyết đang xuống. Những bông tuyết non đầu mùa bay rụt rè như đang muốn thăm dò mặt đất. Có bông tan lửng ngay trong không trung, có bông rơi xuống lá cây thì hoá thành những chấm nước nhỏ li ti như mưa bụi. Ivan nhảy cúa lên : “Được mùa ! Nước Nga lại được mùa rồi”. Ivan ôm chầm lấy tôi, hôn rối rít. Bây giờ thì anh không còn là thi sĩ nữa, anh là gã nông dân sông Đông thực thụ. Rồi anh ồm oàm giải thích cho tôi hiểu tuyết có vai trò quan trọng như thế nào đối với mùa màng. Tuyết rơi sớm, rơi dày sẽ ủ ấm hạt giống trong đất. Khi tuyết tan, mùa sẽ bục dậy ngùn ngụt như có phép mầu nhiệm. Còn khi mùa tuyết mà chưa thấy tuyết thì dân lo đến thắt ruột, vì biết là mất mùa, đói kém, bởi hạt giống đã gieo sẽ cháy khô trong giá rét. Thế rồi vui quá, Ivan kéo tôi, lao tồng tộc xuống đường. ở đó khá đông người. Toàn cụ già và trẻ con. Họ mặc những bộ váy áo sặc sỡ, rồi cứ để đầu trần mà nhảy múa tưng bừng. Có ông cụ đặt đứa cháu bụ bẫm lên vai mà múa. Ông cụ múa bằng đôi chân. Người Nga đón tuyết đầu mùa như thế đấy.

Chiều ấy, Ivan về nhà sớm hơn ngày thường. Anh khuân lỉnh kỉnh bao nhiêu đồ ăn. Bánh mì, bắp cải, súp cá, cà-rốt. Thấy tôi, anh reo lên :

– Tớ tìm được thơ cậu đây này. Có đúng là thơ cậu không ?

Rồi anh giơ lên đầu một cuốn sách mỏng dính, đen nhẻm, trông rất nhem nhuốc. Đúng là thơ tôi, tập Bên cửa sổ máy bay in ở Nhà xuất bản Tác phẩm mới, bằng tiếng Việt, thời còn bao cấp. Tôi rất kinh ngạc, làm sao Ivan có thể biết được đó là thơ tôi, khi ở trên bìa, ở khắp cuốn sách chẳng có một chữ Nga nào.

– Tớ tìm được ở hiệu sách Hữu nghị, phố Gorki đấy. ở đó, có rất nhiều sách Việt Nam. Trông tên tác giả, tớ đoán là cậu. Tớ mua những chín côpêch cơ đấy.

– Đó, cậu thấy không ? Tớ viết chật vật suốt mười năm mới được có chín côpêch, trị giá bằng một quả trứng gà loại ba… Trứng gà loại một thì một quả những mười hai côpếch cơ.

– Thế là quá đắt đấy. – Ivan lại cười hích hích. – Tập thơ cậu bằng chín côpêch, chín côpêch mua được chín bao diêm. Mà chỉ một que diêm thôi cậu đã đốt được cả Matxcơva rồi. Thế thì có gì mà cậu phải quàng quạc như con quạ già mất tổ thế ?

Ivan khá hóm hỉnh và thông minh. Trong những cuộc tranh biện, anh luôn có những ý kiến bất ngờ. Tôi rất thích nghe những nhận xét của anh về những con người chúng tôi thường gặp. Bởi nghe nó ngồ ngộ, vui tai, chứ thực tình, tôi cũng không tin lắm ở những lời nhận xét của anh.

Lúc bấy giờ là đầu năm 1987. Rất nhiều nhà văn của ta sang trường Macxim Gorki thực tập và nghe một cua giảng ngắn hạn có phiên dịch, Ivan thân họ khá nhanh. Có đận anh về phòng đã say nhoè bia rượu. Anh hỏi :”Họ có tài không ? Các nhà văn Việt Nam ấy”. “Tài chứ ! Tài lắm đấy. ở nước tớ, họ là những nhà văn lớn, gặp được họ không dễ, lại được họ mời bia như cậu càng không dễ”. Ivan cười khùng khục, vẻ đắc chí như người trúng số độc đắc. “Tớ thấy họ rất chịu khó. Rỗi lúc nào, là họ đi cửa hàng. Họ mua gì, cậu biết không ? Họ mua khăn mùi-xoa, dây điện và máy sấy tóc. Toàn những đồ đạc lỉnh kỉnh của đàn bà. Các bố này chắc là yêu vợ lắm. Mà nói cho đúng, trông họ cứ cặm cụi như những người đàn bà đã hết duyên, phải lấy sự chịu khó, tần tảo để thay cho nhan sắc nhằm giữ chân các đức ông chồng. Những người như thế mà có tài thì thật quý. Đàn ông nước cậu tuyệt vời. Đàn ông Liên Xô, họ chẳng biết gì đến chuyện bếp núc”. Rồi Ivan lẩm bẩm bình luận về từng nhà văn một. Cứ theo lời anh thì mỗi con người đều là cái giá phơi sách, một cuốn sách chứa toàn điều bí mật của cả đời mình mà lại cứ mở tênh hênh giữa giời đất. Cuốn sách ấy chính là gương mặt của họ.

Tôi đâm tò mò :
– Thế cậu thấy ông này thế nào ?

Tôi chỉ nhà văn Lê Lựu đang ngồi xổm trên chiếc ghế dài kê dọc hành lang, bỏm bẻm nhai bánh mì. Trông anh như một bà đi chợ vừa buông quang thúng, giờ thì đang thảnh thơi nhai trầu vỏ.

– Ông này tuyệt vời ! – Ivan thì thầm. – Ông ấy rất thích kinh doanh, nhưng vốn không có, hoặc giả nếu có, ông ấy cũng không chịu bỏ vốn vì sợ lỗ. Bởi thế, ông ấy toàn kinh doanh đồ cũ. ở gầm giường ông ấy có đến hàng trăm đôi giày. Nhưng đến khi cần vào vũ trường thì ông ấy chẳng có đôi nào cả.

– Thế còn ông kia ?
Tôi lại chỉ nhà thơ Phạm Tiến Duật đang nói chuyện bằng tiếng Nga với mấy cô gái Nga ở bến đợi xe. Tôi chẳng biết anh nói gì. Chỉ thấy người anh lắc lư như một quả chuông, còn mấy cô gái Nga thì cười như nắc nẻ.

– Đấy là một thiên tài. Ông ấy còn là bậc thày của E. Eptusencô. – Ivan lại nhận xét

– Đó là một nhà truyền giáo vĩ đại. Ông ấy có khả năng thôi miên hàng triệu người, nhưng ông ấy thì dường như lại không tin lắm ở những điều ông ấy nói ra. Chỉ khi nào người ta bắt đầu nghi ngờ ông ấy, thì ông ấy mới thực sự tin vào những gì mình đã phán truyền. Hình như những nhà truyền đạo đều như thế cả cậu ạ.

– Thế còn chị này ?
– Có phải người kia không ? – Ivan đánh mắt về phía nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ. Chị đang xoè tay cho cô Elêna Elêcôva, một nhà văn Bungari bói tay. – Đẹp quá. – Ivan thì thào – Bà ấy như Đức Mẹ ấy. Tiếc là Đức Mẹ hơi lùn một tí. Bà này mới đúng là thi sĩ. Bà ấy dễ tin người lắm. Ai nói gì cũng tin. Vào các cửa hàng vải hay cửa hàng may đo của Nga, chắc bà ấy ngạc nhiên lắm. “Sao ở đây có lắm ông I. Gagarin thế nhỉ. Cửa hàng nào cũng có hàng chục ông I. Gagarin khoác đủ các loại áo như sắp sửa đi tắm”. Trước con mắt bà ấy, cái manơcanh ở cửa hàng nào cũng thành nhà du hành vũ trụ I. Gagarin.

– Thế còn tớ ? Cậu thấy tớ sao? Thử hé cánh cửa cho tớ lé mắt nhòm vào tương lai tí chút.

– Cậu ấy à ? Thảm lắm !

Ivan vớ cái bút dạ, vẽ khoanh tròn một củ hành tây, bên trên loà xoà những lá, còn ở dưới thì lờ phờ mấy cái rễ xoăn xoeo.

– Đây chính là chân dung của cậu, khi cậu mới vào trường. Còn đây là khi cậu tốt nghiệp ra trường…

Ivan xoay củ hành tây, chúc ngược đầu xuống. Rồi anh cười ầm lên. Gương mặt hoang vu rậm rịt của anh bỗng nhoe nhoét nước mắt:

– Có đúng là cậu không nào ? Khi vào trường, cậu là anh chàng tóc dài, râu ngắn, còn khi ra trường thì cậu chỉ có râu mà chẳng còn sợi tóc nào…

Nguồn:
LÃO KHOA

Xem thêm
Chuyên gia nông nghiệp Nga hợp tác với Việt Nam

GS Vũ Công Hậu và những người bạn Nga (HK thứ 2 từ trái)

GS Trần Thế Thông (thứ 2 từ phải) làm việc với chuyên gia Nga

GS Vũ Công Hậu thảo luận khoa học và những người bạn Nga

GS Trần Thế Thông tặng quà lưu niệm cho chuyên gia Nga

(Ảnh tư liệu Hoàng Kim, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Hưng Lôc, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, nơi 15 năm hợp tác thu thập và đánh giá nguồn gen cậy trồng phía Nam hơp tác với Viện Vavilop (Nga) và Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam; GSVS Trần Đình Long chủ trì)

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s