Những tuyệt phẩm thơ cổ nổi tiếng

DẠY VÀ HỌC. 5 tuyệt phẩm thơ cổ nổi tiếng mà tôi ưa thích nhất là “Mốt mai một cuốc một cần câu” của Nguyễn Bỉnh Khiêm. “Viếng mộ Liễu Hạ Huệ” của Nguyễn Du. “Đập đá ở Côn Lôn” của Phan Chu Trinh, “Cảm hoài” của Đặng Dung và “Thợ bán than” của Trần Khánh Dư.  Nguyễn Bỉnh Khiêm là bâc kỳ tài hiểu sâu sắc biến dịch và thời thế “Thanh nhàn vô sự là tiên. Năm hồ phong nguyêt ruỗi thuyên buông chơi ” ứng xử hợp lý, tùy thời, lạc quan của bâc tiên tri. Ngày xuân đọc Trạng Trình, sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm để thấu hiểu sự nghiêp lạ lùng và đỉnh cao vọi của thơ nôm danh sỹ. Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ nơi “bia tàn chữ mất vùi gai góc/ nghe tiếng nghìn năm tôi xuống xe” càng cho thấy nhân cách kẻ sĩ và sự cảm thông của ông đối với Liễu Hạ Huê sâu sắc đến dường nào. Người hiền thực ra đời nào cũng có, thời thế nhiễu loạn, chẳng qua vàng lầm trong cát đấy thôi. Đọc Tâm sự của Nguyễn Du qua Đối tửu để hiểu và thương Nguyễn Du.  Phan Chu Trinh “Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn. Lừng lẫy làm cho lở núi non… ” “Cảm hoài” của Đặng Dung và “Thơ bán than” của Trần Khánh Dư thật bi tráng và lẫm liêt.

MỘT MAI, MỘT CUỐC, MỘT CẦN CÂU

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585)

Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dù ai vui thú nào,
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

MỘ LIỄU HẠ HUÊ

Nguyễn Du (1766-1820)

Sông Tứ dưới cầu Ngô Điếm qua
Danh thơm kẻ sĩ chửa phôi pha
Đạo ngay xử thế ba lần truất
Bậc thánh nên công một đức hòa
Đối mặt Ni Sơn vinh nước tổ
Thương thân Đạo Chích hổ danh nhà
Bia tàn chữ mất vùi gai góc
Nghe tiếng nghìn năm tôi xuống xe

Dịch thơ: Đặng Thế Kiệt

(xem: Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ
bản chữ Hán, dịch nghĩa, dịch thơ và lời bình)


ĐẬP ĐÁ Ở CÔN LÔN

Phan Chu Trinh (1872-1926)

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn
Lừng lãy làm cho lở núi non
Xách búa đánh tan năm bảy đống
Ra tay đập bể mấy trăm hòn
Tháng ngày đâu quản than sành sỏi
Mưa nắng càng bền dạ sắt son
Những kẻ vá trời khi lỡ bước.
Gian nan chi kể sự con con !

CẢM HOÀI

Đặng Dung (?-1414)

Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.

Bản dịch của Phan Kế Bính
(xem: Cảm hoài của Đặng Dung
bản chữ Hán, dịch nghĩa, dịch thơ và lời bình)

THỢ BÁN THAN

Trần Khánh Dư (?-1340)

Một gánh càn khôn quẩy xuống ngàn
Hỏi rằng chi đó? Gửi rằng:Than!
Đói no miễn được đồng tiền tốt
Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn !
Muốn giữ lửa hương cho vẹn kiếp
Thử xem sắt đá có bền gan ?
Nghĩ mình nhem nhuốc toan nghề khác
Nhưng sợ trời kia lắm kẻ hàn.

Tài liệu tham khảo:
1. Bắc hành tạp lục Nguyễn Du – Wikisource
2 Thuật hoài (Đặng Dung) –Wikipedia tiếng Việt
3. Kiều Văn chủ biên- giới thiệu
Thơ nôm Danh sĩ, tuyển thơ nhiểu tác giả
Nhà Xuất bản Đồng Nai 1997, 172 trang

Trở về trang chính
Dạy và học BlogtiengViet
CÂY LƯƠNG THỰC
; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM

Gia đình nông nghiệp

NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s