Bài học thực tiễn từ người Thầy

 

NGỌC PHƯƠNG NAM. Đọc bài “Giúp châu Phi trồng lúa bài toán được và mất” của TS. Tô Văn Trường viết về giáo sư Võ Tòng Xuân, tôi nhớ về bài học an sinh và chiến lược kết nối Nam – Nam của nguyên Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết cùng lời dặn của thầy Norman Boulaug: “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”. Giáo sư Võ Tòng Xuân có nhiều tâm sự khi trồng lúa giúp châu Phi, khác với ý kiến của anh Hoàng Kim (Đồng Tháp),”Giúp bạn cũng là tự giúp mình !”, tôi, Hoàng Kim (Đại học Nông Lâm) liên tưởng đến “Chuyện bếp gas nhiên liệu sinh học”, hiện đã là tiến bộ kỹ thuật rộng lớn tại Nigeria. Nó được gợi mở ý tưởng qua học hỏi kinh nghiệm thực tiễn từ Việt Nam. Các đoàn chuyên gia dầu khí và nghề sắn của châu Phi đã đến Việt Nam. Họ thăm ruộng sắn và nhà máy chế biến nhiên liệu sinh học, thăm thu hoạch sắn và học trên đồng cùng nông dân và sinh viên, họ cũng đến thặm gia đình chúng tôi. Sau khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo là công nghệ và tổ chức sản xuất. Bài học thực tiễn từ người Thầy thật thấm thía! Hoàng Kim (ĐH Nông Lâm)

GIÚP CHÂU PHI TRỒNG LÚA BÀI TOÁN ĐƯỢC VÀ MẤT!

Tô Văn Trường

Nhân đọc bài “Sang Châu Phi trồng lúa” đăng trên báo Sài gòn tiếp thị, tác giả Huỳnh Kim bức xúc, viết bài “Tại sao bỗng dưng nhẩy tưng sang Châu Phi lập liên doanh trồng lúa” đặt vấn đề rất cụ thể những nhà khởi xướng, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn cụ thể là Chính phủ Việt Nam phải trả lời thỏa đáng cho nông dân Việt Nam các câu hỏi : Việt Nam được lợi gì khi đầu tư trồng lúa ở Châu Phi? Và việc phát triển cây lúa ở Châu Phi có mất thị trường xuất khẩu gạo của nông dân Việt Nam, do tạo thêm cạnh tranh về xuất khẩu gạo hay không? Lợi đâu không thấy, có đâu mà thấy (?!). Nếu có thì quí vị hãy trưng ra. Tôi chỉ thấy toàn là tai hại cho nông dân Việt Nam, và nền kinh tế Việt Nam.

Để khách quan và khoa học, tôi chuyển nguyên văn bài viết của tác giả Hoàng Kim đến một số chuyên gia, nhà khoa học ở trong và ngoài nước và một số “lão nông tri điền” để tham vấn.

Thứ nhất là một số người đồng ý chia sẻ với nỗi lo của tác giả Hoàng Kim đứng trên lập trường lợi ích của người nông dân về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng và Việt Nam sẽ mất “bí kíp” trồng lúa! Tuy nhiên, lại khẳng định nhưng làm gì có chuyện thành công mà lo. Ngay ở Phillipine có trụ sở Viên nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) nhưng bao năm nay, người Phi vẫn phải nhập lúa gạo hàng năm. Đối với Châu Phi, nhiều nước độc lập khỏi ách thực dân, được Liên HIệp Quốc giúp đỡ mà đói vẫn hoàn đói, có độc lập nhưng có ngày nào yên. Vậy là vấn đề nằm ở chỗ khác chứ không phải người Châu Phi không sản xuất được lương thực.

Thứ hai là hầu hết các ý kiến phân tích cho rằng chuyện về xuất khẩu cây lúa quả là chuyện đáng suy nghĩ. Câu chuyện chắc phải nhìn nhận trên nhiều khía cạnh về chính trị, kinh tế xã hội và trong khung cảnh hội nhập toàn cầu chính sách hợp tác kinh tế toàn diện kể cả cơ hội đầu tư. Việt Nam đưa người đi giúp các nước trồng lúa là đúng đạo lý. Nhìn lại lịch sử phát triển nông nghiệp của Việt Nam biết bao loại giống cây trồng, vật nuôi, và các kỹ thuật canh tác đều ít nhiều có bàn tay giúp đỡ, chuyển giao của các chuyên gia, và các nước tiên tiến đi trước. Nhiều chuyên gia về nông nghiệp của Việt Nam được đào tạo, trưởng thành từ nước ngoài rồi về nước giúp phát triển nông nghiệp trong đó có cây lúa. Tinh thần cạnh tranh mà các nước phát triển đang áp dụng là làm sao mình tiến bộ hơn đối thủ để chiếm thị trường và lợi nhuận, chứ không phải là chèn ép, mong đối thủ kém đi để mình có ưu thế! Không kể là về tinh thần nhân đạo, không thể nói mình cứ mong muốn các nước Châu Phi cứ đói nghèo hoài để nông dân mình có cơ hội bán gạo cứu đói. Trong một nước cũng vậy, chúng ta nghĩ sao nếu có người cứ cầu mong cho có bão lụt để bán được nhiều mì gói cứ trợ! Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay khi mất an ninh lương thực ở bất cứ nơi đâu thì sẽ ảnh hưởng đến tất cả mọi người trên thế giới.

Việt Nam không nhất thiết phải cố gắng để xuất khẩu 6-7 triệu tấn gạo. Thái Lan đang giảm số lượng gạo để tăng tỉ trọng gạo chất lương để không ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu. Diện tích đất trồng lúa của Việt Nam chỉ bằng 40% của Thái Lan (4,1 triệu ha so với gần 10 triệu ha) nên phải trồng giống lúa năng suất cao, nhu cầu phân bón nhiều, giá thành tăng. Trên thế giới ngày càng có nhiều nước tham gia xuất khẩu gạo và tiềm năng cao, còn một số nước đang nhập cũng có chiến lược tự túc như Indonesia, Philipine. Do đó, việc cạnh tranh xuất khẩu gạo là đương nhiên. Về kinh tế ta cũng đâu có được nhiều từ xuất khẩu gạo, đó là chưa kể, Việt Nam có lợi thế rất lớn trong sản xuất lúa nên năng lực cạnh tranh khá cao. Thực ra, trồng lúa không có lợi nhuận cao như các cây trồng khác nhưng nông dân Việt Nam vẫn phải tiếp tục trồng lúa vì nhiệm vụ an ninh lương thực toàn cầu và nhà nước cần có lợi thế về xuất khẩu gạo để trao đổi về các quyền lợi về kinh tế khác và uy tín chính trị trên toàn cầu. Theo mô hình cơ bản trong lý thuyết thương mại quốc tế của Hechscher-Ohlin, một quốc gia sẽ có lợi thế xuất khẩu những mặt hàng thâm dụng những nguồn lực dư thừa của nó. Việt Nam vẫn là một quốc gia nông nghiệp không có nguồn vốn tài chính dồi dào, thế mạnh của Việt Nam trong cạnh tranh quốc tế là nguồn lực lao động sẵn có và rẻ tiền. Với lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo, các mặt hàng nông lâm thủy sản Việt Nam vẫn còn sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới.

Nhìn dưới góc độ ngành nghề khác, cũng có kinh nghiệm đáng tham khảo. Ngày trước, khi ngành may mặc không phát triển, ai có nghề may đều rất giấu nghề. Rồi có một giai đoạn các trường dạy cắt may mở ra và phát triển. Ngày đó mọi người cứ nghĩ rằng ai cũng biết tự cắt may thế này thì các hiệu may thất nghiệp. Nhưng đã có một ông thợ may giỏi ngày đó rất tích cực đi dạy các lớp cắt may nói rằng quan niệm thế là nhầm. Khi mọi người có hiểu biết nhiều về cắt may tức là họ sẽ biết cách ăn mặc đẹp hơn. Khi có nhu cầu ăn mặc đẹp hơn thì các hiệu may sẽ càng đắt khách. Câu nói đó của ông thợ may ngày đó khiến mọi người khó hiểu và không tin được. Nhưng rồi thời gian đã chứng minh là ông đúng.

Trong bài viết, tác giả Hoàng Kim đề cập đến việc GS. TS Võ Tòng Xuân là một nhà khoa học lớn, một nhân cách lớn, nên có một tâm hồn lớn. Việc Giáo sư bất nhẫn trước nạn đói của châu Phi nên muốn giúp các nước châu Phi trồng được lúa để hết đói là một việc thiện, cho nên Giáo sư chủ trì chương trình “An toàn lương thực Tây Phi Châu – Sierra Leone” là điều có thể hiểu được nhưng không nên lẫn lộn giữa việc thiện của một cá nhân và việc hợp tác vì quyền lợi song phương của hai quốc gia. Là người trong cuộc mắt thấy, tai nghe, tay làm trong đợt đi khảo sát thực tế ở Sierra Leon cùng với Gs Võ Tòng Xuân, xin được trình bày rõ hơn với bạn đọc.

Ngưỡng mộ và ấn tượng trước các thành tích về phát triển lương thực của Việt Nam, đặc biệt là kỹ thuật trồng lúa năng suất cao của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), năm 2005 tiến sỹ Sama Monde Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và An ninh lương thực Sierra Leone đã đến thăm và đặt vấn đề nhờ đại học An Giang sang giúp xây dựng chương trình an ninh lương thực cho Sierra Leone. Năm 2006, GSTS Võ Tòng Xuân Hiệu trưởng trường đại học An Giang đã đến Sierra Leone làm việc với Phó Tổng thống Solomon Berawa, Bộ trưởng Sama Monde về chương trình nói trên. Sau khi đi khảo sát thực địa, 2 bên thống nhất lựa chọn vùng Mange Bureh thuộc huyện Port Loko làm khu thí điểm trồng lúa. Vấn đề đặt ra là làm sao có được nguồn kinh phí để có thể bắt tay vào việc xây dựng khu thí điểm này?
Sierra Leone là quốc gia nằm ở Tây Phi có diện tích 71.740 km2, dân số hơn 5 triệu người, có nhiều tiềm năng về tài nguyên (đất đai, nguồn nước, khoáng sản…) nhưng vì mới trải qua cuộc nội chiến, cơ sở vật chất rất nghèo nàn, lạc hậu, lương thực phải nhập khẩu hơn 90%, ngay Thủ đô là Freetown cũng thiếu điện nước trầm trọng, nhiều phố phải thắp đèn dầu và hình ảnh người dân từ già đến trẻ phải nhẫn nại đi đội nước mang về dùng trở thành khá phổ biến trên các đường phố.

https://hoangkimvietnam.files.wordpress.com/2011/09/giup2bchau2bphi2btrong2blua2b1.jpg

GS Võ Tòng Xuân và TS Tô Văn Trường đang khảo nghiệm cây lúa trong nhà lưới làm đối chứng tại Mange Bureh

Từ ngày 12/11/2007 đến ngày 22/11/2007 đoàn chuyên gia Việt Nam đã tiếp tục đến làm việc về tiến trình của dự án với các quan chức của Phủ Tống thống và Bộ Nông nghiệp và An ninh lương thực Sierra Leone. Đoàn gồm có: GSTS. Võ Tòng Xuân- Hiệu trưởng Đại học An Giang, TS. Tô Văn Trường- Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, KS. Đặng MinhSơn- Tổng giám đốc Công ty tư vấn đầu tư và Xây dựng quốc tế (ICIC). Đoàn đã đi khảo sát thực địa, đánh giá sơ bộ kết quả bước đầu, thảo luận với người dân địa phương và các quan chức liên quan.

https://hoangkimvietnam.files.wordpress.com/2011/09/giup2bchau2bphi2btrong2blua2b2.jpg?w=300

Thảo luận về phương án thiết kế công trình thủy lợi tại hiện trường

Từ ngày 12/11/2007 đến ngày 22/11/2007 đoàn chuyên gia Việt Nam đã tiếp tục đến làm việc về tiến trình của dự án với các quan chức của Phủ Tống thống và Bộ Nông nghiệp và An ninh lương thực Sierra Leone. Đoàn gồm có: GSTS. Võ Tòng Xuân- Hiệu trưởng Đại học An Giang, TS. Tô Văn Trường- Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, KS. Đặng MinhSơn- Tổng giám đốc Công ty tư vấn đầu tư và Xây dựng quốc tế (ICIC). Đoàn đã đi khảo sát thực địa, đánh giá sơ bộ kết quả bước đầu, thảo luận với người dân địa phương và các quan chức liên quan.

Việc lựa chọn khu thí điểm hơn 100 ha để trồng lúa ở Mange Bureh là hoàn toàn thích hợp về điều kiện thổ nhưỡng, đất đai, nguồn nước. Giống lúa của Việt Nam đưa sang có ưu điểm là giống lúa ngắn ngày, năng suất cao so với giống lúa địa phương. Các giống lúa trồng thí điểm ở Trại nông nghiệp Rokupr (gần 1 ha) mọc khá tốt vì có đủ nguồn nước. Riêng 4 ha lúa thí điểm ở Mange Bureh phát triển không được như mong muốn vì 3 nguyên nhân (1) Cỏ tranh cao ngút đầu người, làm đất chỉ bằng thủ công không có máy cày lật hết rễ cỏ tranh nên ảnh hưởng nhiều đến cây lúa (2) Làm đất, gieo trồng vào cuối tháng 8 nên khi mùa mưa chấm dứt, không có đủ nguồn nước cung cấp cho các giai đoạn phát triển của cây lúa (ra lá, đẻ nhánh, làm đòng, trổ chín) và (3) bón phân và thuốc trừ sâu đều thiếu so với yêu cầu phát triển của cây lúa.

https://hoangkimvietnam.files.wordpress.com/2011/09/giup2bchau2bphi2btrong2blua2b3.jpg?w=300

Đoàn chuyên gia Việt Nam thảo luận về chương trình an ninh lương thực tại Dinh Tổng thống.

Về quy hoạch và thiết kế các công trình thủy lợi, đã khảo sát đo đạc bình đồ, thiết kế sơ bộ hệ thống cấp nước (trạm bơm, kênh, cống điều tiết) cho khu trồng lúa. Tuy nhiên, do các công trình được thiết kế tính toán trên cơ sở tính lưu lượng tưới theo mực nước sông ở Little Scarcies, chưa xây dựng sơ đồ tính toán thủy lực bằng phần mềm HEC-RAC cho mực nước đầu kênh theo hệ thống nên công trình thiết kế thiên về an toàn, không được kinh tế. Mặt khác, do không có điều kiện khoan thăm dò địa chất nên không so sánh phương án trạm bơm đặt trên đường ray so với đặt trên phao nổi theo chế độ của thủy triều. Qua đợt khảo sát thực địa này, đoàn công tác đã quyết định phải điều chỉnh lại thiết kế hệ thống công trình thủy lợi cả về quy mô và kích thước. Sự điều chỉnh này đã giảm được kinh phí hơn 100 nghìn đô la so với thiết kế ban đầu. Cũng từ kết quả khảo sát, đoàn cũng đã xác định lại diện tích có khả năng trồng lúa ở đây chỉ vào khoảng 112 ha chứ không phải là 200 ha như ước tính ban đầu của phía bạn. Căn cứ vào tính hình thực tế và rút kinh nghiệm bài học thất bại của Đài Loan khi đầu tư xây dựng khu thí điểm trồng lúa năm 1961 và Trung Quốc năm 1972 ở Mange Brreh, chúng tôi nhận thấy:

Mô hình sản xuất ở Mange Bureh chỉ nên trồng lúa 2 vụ trong mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm để tận dụng ưu điểm của vùng này là hàng năm có lương mưa rất lớn khoảng 3.000 mm/năm, và giống lúa của Việt Nam khoảng 90 ngày rất thích hợp 2 vụ trong mùa mưa. Công trình thủy lợi chủ yếu tưới tiêu hỗ trợ theo thời kỳ sinh trưởng của cây lúa. Nếu bố trí vụ lúa thứ 3 vào mùa khô, theo tính toán của chúng tôi, chỉ riêng tiền mua xăng dầu để chạy máy bơm còn đắt hơn tiền nhập khẩu lương thực và sau này có bàn giao thì người dân địa phương cũng không thể thực hiện vì lý do kinh tế. Vụ lúa thứ 3 sẽ được trồng trong mùa khô, khi Chính phủ phát triển thủy điện để vừa có điện chạy máy bơm, vừa cung cấp cho sinh hoạt và các hoạt động kinh tế khác. Tiềm năng thủy điện của Sierra Leone còn rất lớn, chưa được khai thác. Để đảm bảo chương trình an ninh lương thực và phát triển kinh tế bền vững cần phát triển “mô hình kinh tế trang trại” trồng trọt, chăn nuôi và đánh bắt, với sản phẩm chính vẫn là 2 vụ lúa trong mùa mưa (theo mô hình sản xuất của nông dân An Giang). Vụ thứ 3 chủ yếu trồng mè, đậu phộng (theo mô hình sản xuất của nông dân Tây Ninh). Các loại hoa màu có giá trị kinh tế cao như bắp cải, củ cải, ớt xanh, củ hành, dưa leo, cà rốt, cải xanh, gừng, xoài. Các loại cây dài hạn như mì, mía, điều, cao su, tiêu, trà, thuốc lá. Ở những vùng trũng sẽ làm ao, nuôi thủy sản nước ngọt cá, tôm; kết hợp chăn nuôi như heo, gà vv…Chương trình an ninh lương thực cho Sierra Leone cũng cần chú trọng các lớp đào tạo huấn luyện chuyển giao công nghệ, nông dân tham gia chọn tạo giống lúa ở cộng đồng và kỹ thuật sản xuất lúa giống. Bởi vì nếu người dân không biết cách tự tạo ra giống lúa nguyên chủng thì chỉ sau vài vụ sản xuất lúa sẽ bị thoái hóa vv…

Từ chương trình thí điểm ở Sierra Leone GS Võ Tòng Xuân và các nhà khoa học Việt Nam tiếp tục sang giúp Nigeria, Morambique, cộng hòa hồi giao Mauritania vv…với mục đích giúp họ “cái cần câu hơn cho xâu cá” tinh thần truyền bá “văn minh lúa Việt” để xây dựng hình ảnh thương hiệu Việt Nam có trách nhiệm với xã hội loài người và đẩy mạnh uy tín và sự cống hiến của Việt Nam với nhân loại. Đấy chính là văn hóa của người Việt, phải biết thi ân bất cầu báo, phải biết nghĩ đến hạnh phúc của người trước hạnh phúc của mình, phải biết mình vì mọi người thì mọi người mới vì mình ((Alexandre Dumas).

Mạn phép trích dẫn một vài ý chính của GS Võ Tòng Xuân mới mại cho tôi để kết luận cho bài viết này: “Tôi thường ít không thì giờ đâu mà đi tranh cải với những người có ý kiến quá thiển cận và ích kỷ , chỉ biết ngửa tay nhận mà không bao giờ cho ai cái gì cả. Nếu các nước ngoài họ cũng nghĩ như anh Hoang Kim thì chắc VN và các nước nghèo trên thế giới sẽ không có ai viện trợ cả. Nên xác nhận lại lần nữa -mà chính anh H Kim đã biết rất rõ- nông dân ta nghèo không phải vì không ai mua lúa, nhưng nghèo vì những người có quyền bán lúa đã và đang điều khiển thị trường. Trong khi cả thế giới đều được khuyến khích giúp đỡ châu Phi, thì VN chờ có ai bỏ tiền ra mới chịu đi làm công cho người ta để gọi là “giúp cho châu Phi”. Chương trình của mình nhờ có CTy Long Van 28 mới goi được là viện trợ cho Sierra Leone với đúng nghĩa Việt Nam viện trợ, ta giúp cho nông dân Phi trực tiếp. Tôi xin đính chính là CTy Long Vân 28 không vì lợi nhuận nào để giúp chúng ta sang đó ngoài ý muốn giúp máy nhà khoa học VN có điều kiện sang giúp Phi. Tôi chỉ ửng hộ các chương trình mà tôi thấy rõ là chúng ta giúp nông dân Phi trực tiếp để giúp họ xóa đói giảm nghèo. Nếu chương trình liên doanh để làm giàu trên đầu trên cổ nông dân (như các công ty Trung Quốc mua đất ở các nước châu Phi rồi đưa dân họ sang sản xuất nông nghiệp, hoặc các công ty lương thực và Tổng công ty Lương thực ăn lời của nông dân VN) thì tôi không bao giờ tham gia. Mặc dù có sự giúp đỡ của mình, các nước châu Phi và nông dân của họ rất khó có thể đủ ăn được, làm gì có để xuất khẩu! Trở ngại lớn nhất là họ không bao giờ đầu tư cho thủy lợi, và không muốn dùng thủy lợi ngay khi có viện trợ hệ thống thuỷ lợi. Anh Hoàng Kim lo sợ vì không biết được cốt lõi của vấn đề. Các anh khác cũng la hoãng tương tự: nào là thương lái Trung Quốc thu tóm khoai lang của VN, nào là “các doanh nghiệp nước ngoài đang thâu tóm ngành chăn nuôi”. Đời sống nông dân ta sẽ ra sao khi ta không có những doanh nghiệp nước ngoài giúp sản xuất và tiêu thụ nông sản? Mình đã thấy rõ “tài năng” của phần lớn doanh nghiệp VN – họ chơi với thương lái, ăn xỗi ở thì, để nông dân mạnh ai nấy sản xuất rồi cái gì bán được thì mụa, không được thì không mua…để cho nông dân hoàn toàn gánh lấy rủi ro. Nhân đây tôi nói thêm là mình phê phán CTy CPVN, nhưng chính họ đã cung cấp cho người chăn nuôi của ta những con giống rất tốt và thức ăn gia súc rất hiệu quả. CP vào VN một thời gian ngắn đã đánh bại hết các công ty TAGS của VN. Vì sao? Người chăn nuôi VN dù có yêu nước cách mấy đi nữa cũng không thể bỏ tiền ra nuôi mấy công ty TAGS VN với những TAGS rất tồi, nuôi gia súc lâu lớn. Tôi chưa thấy công ty TAGS nào của VN mình có một chương trình nghiên cứu. Các công ty nông nghiệp khác của ta cũng chả có nghiên cứu gì, giỏi đi copy kết quả trong sách vỡ, kể cả TCT Lương thực cũng chưa bao giờ tài trợ cho chương trình nghiên cứu cây lúa. Trong khi đó thì Công ty CP tại trụ sở chính của họ ở Bangkok mà tôi có dịp đến thăm hồi năm 1986, có một tòa nhà 4 tầng làm trung tâm nghiên cứu khoa hoc của họ. CTy mướn chuyên gia nước ngoài đến nghiên cứu, trả lương cả chục ngàn đôla/tháng, mới có được kết quả để họ ứng dụng vào chế biến TAGS, lai tạo giống gà, giống tôm. Dĩ nhiên sản phẩm họ tung ra thị trường được người chăn nuôi ưa chuông là thế.vv…”

LẠI PHẢI TRANH LUẬN VỚI ÔNG TÔ VĂN TRƯỜNG

 
Hoàng Kim (Đồng Tháp)

*  Xin lưu ý Hoàng Kim (Đồng Tháp) không phải là Hoàng Kim (Đại học Nông Lâm)

image Tôi nói “lại phải”, bởi vì trước đây trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, khi tôi đang tranh luận với ông Phó Chủ tịch VFA, về vấn đề lập liên doanh lúa gạo của Tổng công ty lương thực miền Nam với Campuchia, thì ông Tô Văn Trường nhảy vào dạy bảo tôi với bài viết “Một cái nhìn rộng mở” đăng trên báo Hội Nhà văn Việt Nam, sau đó, tôi đã viết bài “Phải hướng tầm nhìn về phía quyền lợi của nông dân”, để tranh luận với ông.

Nay, khi tôi viết bài: “Tại sao bỗng dưng nhảy tưng sang châu Phi lập liên doanh trồng lúa?” đăng trên Bauxite Việt Nam, ông Tô Văn Trường lại viết bài: “Giúp châu Phi trồng lúa: bài toán được và mất” đăng trên vncold.vn, chắc cũng với ý định giúp tôi mở rộng tầm nhìn.

Trong bài viết của mình tôi đã nêu rất rõ rằng việc từ thiện của các cá nhân (nhất là của GS-TS Võ Tòng Xuân), việc vì lợi nhuận của các doanh nghiệp, tôi không đặt thành vấn đề, mà vấn đề tôi muốn nói tới, là sự hợp tác cấp quốc gia, là việc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn soạn dự án chi tiết để hợp tác với Bộ Nông nghiệp của Siera Leone.

Vì vậy, khi tôi nói rằng: “Các nhà khởi xướng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đặc biệt là Chính phủ Việt Nam, phải trả lời thỏa đáng…” thì “các nhà khởi xướng” ở đây là khởi xướng việc hợp tác cấp quốc gia, chứ không phải là những nhà khởi xướng có tính cách cá nhân như GS.TS Võ Tòng Xuân.

Thế nhưng, ông Trường lại nghĩ rằng tôi “đặt vấn đề rất cụ thể những nhà khởi xướng” là đặt vấn đề với GS Võ Tòng Xuân, cho nên ông Trường dài dòng giải thích việc ông và GS sang châu Phi hướng dẫn trồng lúa, rồi lại gởi email cho GS nói về bài viết của tôi, làm cho GS hiểu lầm rằng tôi công kích GS, điều này lẽ ra không có, nếu ông Trường đọc kỹ hơn bài viết của tôi.

Nên nhớ, chính Thứ trưởng Bộ Nông Nghiệp, Ngư nghiệp và An ninh lương thực Cộng hòa Sierra Leone đã phát biểu: “Việc quan trọng nhất là thành lập các liên doanh giữa Việt Nam và Sierra Leone để cùng khai thác thị trường tiềm năng và sản xuất sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu (tôi nhấn mạnh)…”.

Tôi nhấn mạnh hợp tác để làm lúa xuất khẩu, chứ không phải làm lúa để đủ ăn, vậy mà ông Trường đọc cũng không thấy.

Tôi đặt câu hỏi rất cụ thể: khi hợp tác lập liên doanh trồng lúa ở cấp quốc gia Việt Nam được lợi gì? Và việc phát triển cây lúa ở châu Phi có làm mất thị trường xuất khẩu gạo của nông dân Việt Nam, do tạo thêm cạnh tranh về xuất khẩu gạo hay không? Hai câu hỏi này ông Trường không hề trả lời.

Ông lại cho rằng: “Việt Nam đưa người đi giúp các nước trồng lúa là đúng đạo lý” vì “Nhìn lại lịch sử phát triển nông nghiệp của Việt Nam hầu hết giống cây trồng mới của VN đều có nguồn gốc nước ngoài như lúa, sắn…”.

Tôi biết rằng nông nghiệp Việt Nam được các nước giúp đỡ, nhưng phải xem họ giúp mình như thế nào.

Giúp cho nông nghiệp Việt Nam nhiều nhất là Viện nghiên cứu lúa gạo IRRI. Nhưng IRRI là một tổ chức phi lợi nhuận chứ không phải là một quốc gia, để trả ơn IRRI chúng ta hãy đóng góp tiền bạc để cơ quan này mở rộng nghiên cứu, chứ không phải đi dạy nước khác làm lúa.

Xin hỏi ông Trường: từ trước đến nay, ông có thấy nước nào trong 5 nước xuất khẩu gạo hàng đầu, cử chuyên gia sang Việt Nam lập liên doanh trồng lúa và dạy nông dân Việt Nam làm lúa hay không?

Nông dân chúng tôi không hề “mong muốn các nước châu Phi cứ đói nghèo hoài” để chúng tôi bán gạo cứu đói, nhưng thực trạng là người dân các nước châu Phi đang bị đói, để giúp nạn đói ở châu Phi, Chính phủ hãy mang gạo sang giúp, hãy mang hàng nhu yếu sang giúp, nhưng Chính phủ không được phép biến các nước châu Phi thành đối thủ cạnh tranh xuất khẩu gạo với Việt Nam, đây mới chính là đạo lý.

Giúp cho dân châu Phi hết đói là điều quá tốt, nhưng tại sao nhất thiết phải lấy nồi cơm của nông dân mà giúp (?!). Lấy nồi cơm của nông dân chúng tôi đi giúp, rồi nông dân chúng tôi lấy gì mà ăn?

Nông dân chúng tôi không mong thiên tai làm cho thế giới mất mùa, nhưng khi thế giới mất mùa vì thiên tai, nông dân chúng tôi bán được gạo nhanh với giá cao là điều đương nhiên, hợp đạo lý, không có gì phải mặc cảm cả.

Còn việc biến các nước châu Phi thành đối thủ cạnh tranh xuất khẩu gạo để “được ở vị thế, ở uy tín chính trị của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế”, thì cái “được” này nghe sao giống “bệnh sính thành tích” quá.

Nói về vấn đề được, mất khi liên doanh trồng lúa cấp quốc gia với châu Phi, mà ông Trường không đi vào phân tích được mất về quyền lợi, chỉ lan man với đạo lý, với uy tín chính trị, vậy mà báo Sài Gòn Tiếp thị Online lại rút ngắn bài viết này rồi đăng với tên là “Giúp châu Phi trồng lúa, được nhiều hơn mất”, tôi không biết được nhiều là được cái gì nhiều?

Tôi đã gởi mail cho phóng viên Hoàng Bảy của báo Sài Gòn Tiếp thị:

“Kính gởi anh Hoàng Bảy,

Hôm trước tôi có đọc bài “Sang châu Phi trồng lúa” nên tôi có viết bài “Tại sao bỗng dưng nhảy tưng sang châu Phi lập liên doanh làm lúa” đăng trên boxitvn.

Vấn đề tôi muốn lưu ý, là không nên lẫn lộn giữa việc từ thiện của một cá nhân, và việc hợp tác của hai quốc gia, lưu ý mọi người về quyền lợi của nông dân sẽ bị gây hại khi giúp châu Phi trồng được lúa.

Nay ông Tô Văn Trường cho rằng “Giúp châu Phi trồng lúa,được nhiều hơn mất”, mà bài viết của ông không hề phân tích “được, mất”, thì theo ý tôi quá hời hợt, không đúng là một bài viết tranh luận.

Tôi rất muốn tranh luận với ông Trường trên báo Sài Gòn Tiếp thị nhưng không biết có được hay không? Nhờ anh hỏi giùm. Xin cảm ơn”.

Đây là trả lời của anh Hoàng Bảy:

“Những bài kiểu ntn khó đăng trên sgtt lắm anh ơi, nên suy nghĩ rộng ra một chút, chuyển giao kỹ thuật hay hợp tác đầu tư cũng là hình thức kiếm ngoại tệ về, đó là có lợi chứ ko có hại. Suy nghĩ rằng khi giúp họ rồi mình mất thị trường, nông dân VN khó khăn là quá cạn, mình thử đặt vấn đề lại xem trong tương lai liệu vựa lúa ĐBSCL có còn màu mỡ, lợi thế sản xuất đc lúa như hiện nay nữa không khi mà mấy con đập trên thượng nguồn đc xây làm thủy điện, rồi nc biển ngập hết, lúc đó ngay cả nông dân cũng ko có gạo ăn chứ đừng nghĩ đến chuyện xuất khẩu. Đừng nên nghĩ quá hẹp, hãy mở rộng tầm ra”.

Thiệt là lạ quá, ông Thứ trưởng Bộ Nông Nghiệp, Ngư nghiệp và An ninh lương thực Cộng hòa Sierra Leone qua Việt Nam để yêu cầu: thành lập các liên doanh để sản xuất sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu (mà chủ yếu là lúa gạo), nông dân chúng tôi can ngăn rằng: đừng biến Sierra Leone nói riêng và châu Phi nói chung thành đối thủ cạnh tranh xuất khẩu gạo với Việt Nam, vì việc này gây hại cho nông dân, là điều hết sức đúng đắn và hợp đạo lý. Vậy mà anh Hoàng Bảy chê tôi suy nghĩ quá cạn, rồi bảo tôi “ Đừng nên nghĩ quá hẹp, hãy mở rộng tầm nhìn”, vậy không biết mở rộng tầm nhìn đến đâu, về phía nào? Đến lúc nồi cơm của nông dân bị đập bể chắc (?!).

Quyền lợi của nông dân có thể bị gây hại nếu lập liên doanh, nông dân chúng tôi lên tiếng là điều đương nhiên, quí vị là người ngoài cuộc, nếu công tâm, quí vị hãy chứng minh rằng việc lập liên doanh để xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp (mà chủ yếu là lúa gạo) với châu Phi, không gây hại cho nông dân Việt Nam, quí vị hãy chứng minh rằng Việt Nam được lợi to lớn khi lập liên doanh, vậy là xong, tôi sẽ công nhận quí vị đúng.

Không nên giải thích không đúng trọng tâm hoặc chê khen tùy tiện.

H.K.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Được đăng bởi bauxitevn

CHUYỆN BẾP GAS NHIÊN LIỆU SINH HỌC

Hoàng Kim (Đại học Nông Lâm)

Giúp bạn cũng là tự giúp mình !

Bếp gas nhiên liệu sinh học từ nguyên liệu sắn lát hiện đã là tiến bộ kỹ thuật rộng lớn tại Nigeria. Nó được học hỏi và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam. Các đoàn chuyên gia dầu khí và nghề sắn của Nigeria đã đến Việt Nam. Họ thăm ruộng sắn, nhà máy chế biến nhiên liệu sinh học, thu hoạch sắn và  học trên đồng với nông dân và sinh viên Việt Nam. Bếp cồn sinh học là việc nhỏ mà lớn.

Nguyen Văn Bo (1), Hoang Kim (2), Rod Lefroy (3), Keith Fahrney (3), Reinhardt Howeler (3) Hernan Ceballos (3)
ABSTRACT
Cassava in Vietnam is among the four most important food crops. But it has always been considered a secondary crop even though it has played an important role in national food security, especially during the difficulty year of the late 1970s. During the past two decades of economic renovation, Vietnam has successfully escaped lingering food deficiency. Cassava now an important source of cash income to small farmers, who either use it for animal feeding or for sale to starch factories. In 2008, cassava fresh root production in Vietnam was about 9.39 million tones, up from only 1.99 million tones in 2000. This was achieved through both area expansion, from 237,600 to 556,000 ha and marked increases in yield, from 8.36 t/ha in 2000 to 16.90 t/ha in 2008. Vietnam has developed an E10 policy requiring the production of 100 to 150 million liters per year. Petrovietnam plans to build three tapioca-based ethanol plants in the northern (Phu Tho), central (Quang Ngai) and southern Vietnam (Binh Phuoc). Each costing $80 million which will use cassava as feedstock, is expected to open in 18 months with total annual capacity of 300 million liters per year. The first and second of which is already under construction in Phu Tho and Quang Ngai. The third plant will begin in Binh Phuoc in March next year and is due to be completed at the end of 2011. The Ministry of Agriculture and Rural development (MARD) has planned to remain cassava area around 450.000 hectares from 2011 to 2015 and efforts to increase fresh root yield from 16.90 to 20.00 ton/ha in 2011 and 23.00 – 24.00 ton/ha in 2015 (MARD 7256/TB-BNN-VP 25 12 2009). Vietnam is now probably the second largest exporter of cassava products (chip and starch), after Thailand. Major markets of Vietnam’s cassava exports are China and Taiwan, Japan, Singapore, Malaysia, South Korea and countries in Eastern Europe. Besides, animal feed factories also contributed significantly to the increasing demand for cassava roots. Although in Vietnam cassava processing is a relatively new business and export volumes are still low, the cassava processing factories are new and modern. That is why Vietnam’s cassava products may have a competitive advantage in the world market.
Key words: Cassava in Vietnam, Bio-fuel
1 Vietnam Academy of Agricultural Sciences (VAAS), nvbo@hn.vnn.vnn
2 Nong Lam University (NLU), Linh Trung, Thu Duc, Ho Chi Minh City, Viet Nam, hoangkim_vietnam@yahoo.com; http://cropsforbiofuel.blogspot.com
3 International Center for Tropical Agriculture (CIAT), Cali, Colombia; h.ceballos@cgiar.org ; CIAT c/o FCRI, Dept. of Agriculture, Chatuchak, Bangkok, 10900 Thailand, r.howeler@cgiar.org
Lessons from CassavaViet
Six essential conditions for a successful cassava R&D program include: Materials, Markets, Management, Methods, Manpower and Money (6 Ms).
Main experiences in linking cassava R&D activities in Vietnam include:
1) Establishment of the Vietnam Cassava Program (VNCP) including advanced cassava farmers, researchers, extension worker, managers of cassava research and development projects, cassava trade and processing companies.
2) The establishment of on-farm research and demonstration fields (farmer participation research FPR)
3) Ten mutual link-up activities (10 T – in Vietnamese):
CONCLUTION:
Lessons from Vietnam (Trip report of Mr. Boma)
“Vietnam is a classic example of how cassava can contribute to rural industrialization and development. Previously, people were reluctant to grow cassava because they thought that cassava caused soil degradation and produced low profits. But in reality one hectare of cassava can produce 60-80 tones of fresh roots and leaves. The situation has changed because of the development of sustainable cultivation techniques and new high-yielding varieties with the availability of a large and growing market demand. Cassava has become a cash crop in many provinces of Vietnam. Cassava chips and starch is now being produced competitively, and cassava markets are promising. The combination of wide spread production of fresh cassava roots and the processing of cassava into chips starch and ethanol has created many jobs, has increased exports, attracted foreign investment, and contributed to industrialization and modernization of several rural areas”.
Fictures: Boga Boma and Nigerians biofuel group visit to Vietnam
HOPE RISES ON ETHANOL FROM CASSAVA
Fictures: Boga Boma and Nigerians biofuel group visit to Vietnam
HOPE RISES ON ETHANOL FROM CASSAVA
CROPS FOR BIOFUEL to follow up 234NEXT.COM. By Ayodamola Owoseye December 20, 2009. With the whole world clamouring for reduction in the burning of carbon in order to slow down the effects of global warming, Nigeria may soon be able to reduce its carbon emission by using ethanol fuel as substitute for kerosene. (Picture: Dwindling cassava cultivation inhibits the planned conversion of cassava to ethanol for energy production)
More …
Boma Anga, the chief executive officer of Cassava Agro Industries Service Ltd (CAISL) said in a telephone interview that Nigerians will soon be able to use ethanol across the country as an option for household cooking fuel.
“Nigerians will be able to purchase ethanol fuel for cooking by March 2010,” said Mr. Anga. “The cooking fuel also known as Cassakero (cassava-kerosene) will be available to the public as an alternative to kerosene in order to reduce the money spent on fuel usage by most families,” Mr. Anga added.
Ethanol as substitute
The idea of looking for a substitute for the carbonised cooking fuel (kerosene) and wood came as a result of the harmful impact on the environment and climate change.
Since carbon burning has been identified as one of the reasons for climate change, the world decided to look for alternative means in terms of biofuel, which is renewable fuel derived from biological matter, for instance biodiesel, biogas, and methane which are all believed to have less hazardous impact on the ecosystem.
Mr. Anga said the Cassakero initiative was planned as substitute for kerosene and wood for Nigerians through the production of ethanol from cassava root.
“This is to promote the use of ethanol as a substitute for kerosene in the country as this will reduce the greenhouse effect caused by the use of carbon fuel. The programme is targeted toward installing about 10,000 small-scale bio ethanol refineries in the 36 states of the federation, including the FCT, over the next four years, to produce daily ethanol cooking fuel requirement for four million families,” he said.
Food security
But the project is raising concerns about food security as cassava is a major staple of most Nigerians. It is used in producing flour which is made into a paste and the popular garri, eaten in most homes across the land.
Mr. Anga, however, said the project will not have any negative effect on cassava supply in the market nor will it affect food security as the companies will be using specially cultivated, industrial cassava.
“Considering the tonnes of cassava required for the project, I want to assure you that it will not endanger food security as we will be using non-edible industrial variety of cassava which will be planted on fresh land.
“We have already established a feedstock supply that will produce eight million tonnes of cassava at an average yield of 25 tonnes per hectares from 320,000 hectares to be planted nationwide. To also ensure a steady supply of cassava for the feedstock, we have signed a contract with Nigerian Cassava Growers Association (NCGA) to supply eight million tonnes of cassava tubers,” he added.
He said the contract would benefit over 250,000 cassava farmers across the country with additional 400,000 hectares to be deployed for cassava cultivation as the refinery will require 40 hectares of cassava to supply 100 per cent feedstock requirement annually.
Cassava farmers welcome the initiative
Cassava farmers see this as a welcome initiative, as it will increase the market for the produce and encourage more people to embark on farming.
Jimoh Bashir, a cassava farmer, said the initiative is a good one as this will allow more farmers to cultivate the crop more, knowing that there is a market for it as compared to when farmers had to seek for buyers to buy the commodity from them.
“This is a nice initiative that we hope will last long as it will open up the market,” Mr. Bashir said.
“Most of what is produced in the country is used in the food sector. Having the product used in the industries will only enhance our financial status as this means there will be more produce with a ready market. This means most of the farmers that have abandoned farming will be lured back to it,” he said.
Mr. Bashir is, however, concerned about the affect of this on food production in the country as there is a tendency for farmers to change from producing edible cassava for the industrialised ones.
“This might, however, pose a threat to the production of edible cassava by farmers. Farmers will tend to concentrate more on producing the industrial cassava root with a ready market and use, than cultivating the normal ones. This might also affect the market price of the crop,” he said.
Economic implications for Nigerians
With the federal government’s plan to deregulate the downstream oil sector which might lead to a sharp increase in the prices of petroleum products, especially kerosene, the domestic cooking fuel for most households, the average Nigerian will have to spend more on the purchase of the product or seek alternative means such as coal or wood which will further endanger the environment.
Mr. Anga arued that ethanol will be cheaper and available for the masses as it burns slower than the normal kerosene fuel.
“The new fuel will be locally produced; and provide Nigerians with a new household fuel for use in cooking, lighting, heating, refrigeration and electricity generation. This fuel will be cleaner, safer and cheaper than kerosene without the need for government subsidy and the introductory price will be retailed at about N75 per litre,” he said.
“The production and the distribution of the ethanol based appliances will create employment and wealth to investors and the nation in general. The programme will also create sustainable employment and reduce poverty and deforestation while enhancing food and energy security in the Nation.
“The primary goal is to make ethanol as a cooking fuel available, accessible and affordable, in a commercially profitable and sustainable manner, to low income Nigerians,” he added.

xem thêm

Hoa điên điển và em Cao Nguyên

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS

Dạy và học ĐHNLHCM

Gia đình nông nghiệp

NGỌC PHƯƠNG NAM
, DẠY VÀ HỌC

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s