Giống lúa cho các tỉnh phía Nam

 
CÂY LƯƠNG THỰC
. Sản xuất và cung ứng giống lúa các tỉnh phía Nam là thông tin Diễn đàn Khuyến Nông @ Nông nghiệp lần thứ 5 – 2011 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia vừa tổ chức mới đây tại An Giang. Loạt bài trong sách này là đặc biệt quan trọng để hiểu biết thực trạng, tiến bộ mới, thuận lợi và khó khăn của nghề lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long vùng lúa lớn nhất Việt Nam.Tóm tắt một sô tin chính:


GS.TS. Nguyễn Văn Luật, 2011.  Loại giống và hạt giống lúa cho sản xuất ở ĐBSCL đã cập nhật thông tin những giống lúa mới triển vọng nhất ở các tỉnh Nam Bộ: “Hội thảo đánh giá giống lúa hàng vụ do Viện Lúa ĐBSCL tổ chức hàng vài thập kỷ nay, năm nay vào ngày 16/02/2011, có trên 600 người tham dự đã bầu chọn giống lúa “hoa hậu” là OM10041; giống “á hậu” là OM 54541; giống đạt “ngôi thứ 3” là OM 6904 và một số giống khác. Đây mới chỉ là bước khởi đầu, vì đưa được vào sản xuất, còn phải nhân hạt giống, trồng thử để người nông dân tự đánh giá ngay trên đồng đất của mình. Theo trang tin điện tử của Viện Lúa ĐBSCL thì Viện đã có 16 giống lúa chịu mặn gồm các giống thuộc bộ giống OM 5464, 2488, 2818, 6379, 6677, 6074, 4276, 6690, 5651, 6521, 5199ĐB, 576, 2517, 5472, 6561, 2395. Trong đó có 15 giống đã được đưa vào sản xuất đại trà tại các tỉnh ven biển. Qua thực tế những giống này có ưu điểm kháng sâu bệnh tốt, cho năng suất cao, ổn định từ 5 – 7 tấn/ha, phẩm chất gạo tốt, đạt chuẩn xuất khẩu và đang được Cục Trồng trọt khuyến khích nông dân sử dụng rộng rãi trong điều kiện nước mặn xâm nhập và tình hình khô hạn như hiện nay”. (xem tiếp)

TS Nguyễn Trung Tiền, 2011. Phát triển sản xuất lúa gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long , đã chỉ rõ :Đồng  bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích trồng lúa khoảng 3,9 triệu ha, trong đó diện tích lúa cao sản (hè thu-đông xuân) mỗi vụ khoảng 1,6-1,7 triệu ha. Là vựa lúa lớn nhất của cả nước, hàng năm Vùng này đóng góp trên 50% sản lượng lúa và trên 90% tổng lượng gạo xuất khẩu của nước ta. Cây lúa hiện nay và trong những năm tới vẫn là cây trồng chủ lực của vùng ĐBSCL.Trong năm 2010 sản lượng và doanh thu xuất khẩu gạo đều tăng vượt bậc so với các năm trước đây. Theo ông Trương Thanh Phong – chủ tịch VFA – xuất khẩu gạo VN năm 2010 đạt 6,754 triệu tấn với trị giá gần 3 tỉ USD, giá xuất khẩu bình quân trên 431 USD/tấn và gần bằng với mức giá gạo Thái Lan. Tuy nhiên, để phát triển lúa vùng ĐBSCL nói riêng, Việt Nam nói chung và hướng đến cạnh tranh sòng phẵng với các nước khác mà đứng đầu là Thái Lan thì Việt Nam còn phải khắc phục và cải thiện nhiều hơn nữa những vấn đề cơ bản (xem tiếp)

GS.TS. Bùi Chí Bửu, GS.TS. Nguyễn Thị Lang, 2011. Cải tiến giống lúa phẩm chất gạo tốt tiếp cận chiến lược mới đã khái quát những thành tựu mới nhất trên thế giới và Việt Nam và đúc kết:. “Năng suất lúa là yếu tố cơ bản cho phép việc điều chỉnh mục đích sử dụng diện tích lúa. Khả năng năng suất lúa lai tăng so với lúa thuần 15-20%. Khả năng sử dụng công nghệ sinh học tạo giống lúa quang hợp theo chu trình C4 tăng năng suất hơn 40% (có nghĩa là năng suất tối đa sẽ đạt 12-16 tấn /ha). Bên cạnh đó, việc cải tiến kỹ thuật bón phân làm gia tăng hiệu quả sử dụng phân đạm từ 40% hiện nay lên 70% trong tương lai, tưới tiết kiệm nước, cộng thêm các giải pháp kỹ thuật đồng bộ khác sẽ góp phần quan trọng vào việc giảm giá thành. Cải tiến phẩm chất lúa gạo có ý nghĩa quyết định để tiếp cận mục tiêu phát triển sản xuất lúa theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững.” (xem tiếp)

PGS.TS. Phạm Văn Dư, ThS. Lê Thanh Tùng, 2011. Thành tựu và giới hạn của việc áp dụng giống lúa cao sản ở ĐBSCL đã khái quát thông tin về: Thành tựu của Cách mạng xanh từ năm 1961 đến 2000; Nhập nội, nghiên cứu phát triển các giống lúa mới ở ĐBSCL; Tình hình thặng dư lương thực dành cho xuất khẩu; Thành tựu và giới hạn của việc sử dụng giống lúa cao sản ở ĐBSCL. Bài báo nhấn mạnh: “Việc sử dụng giống lúa cao sản ngày nay đã giúp Việt Nam tiến rất xa trong canh tác thâm canh so với các nước trong khu vực. Rất nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được áp dụng giúp nông dân nâng cao dần năng suất qua các phương thưc sản xuất mới”..”Những vấn đề lớn cần suy nghĩ là: Việc bảo tồn tài nguyên tính đa dạng sinh học của giống lúa; Sự thu hẹp và mất dần các vùng sinh thái tự nhiên; Sự thay đổi về di truyền học tính kháng, tương tác ký sinh và ký chủ. Sự thay đổi về môi trường đất trồng lúa, ô nhiễm nguồn nước sạch, tài nguyên thủy sản; Chín tồn tại căn bản cần cải thiện về mặt kỹ thuật của hệ thống sản xuất và cung ứng giống lúa”. Tác giả đã nhấn mạnh bốn giải pháp chính: “1) Cần xây dựng quy trình thực hành nông nghiệp tốt (GAP) cho sản xuất lúa, trước mắt là VietGAP nhằm từng bước bảo đảm được chất lượng đã cam kết và đang được đòi hỏi trên thị trường thế giới. 2) Thực hiện chuyên canh trên quy mô tương đối lớn để bảo đảm chất lượng được nâng cao và duy trì ổn định, bảo đảm khả năng giao một lượng sản phẩm tương đối lớn trong thời hạn tương đối ngắn, theo kịp yêu cầu của thị trường…. 3) Cần có những dự án được kết hợp thành những chương trình mục tiêu, thực hiện một cách kiên trì và nhất quán để đạt được những tiến bộ rõ rệt trong thời gian ngắn. Động lực thị trường có thể sẽ giúp người nông dân tiếp cận nhanh hơn với các phương pháp và tác phong canh tác mới, từ bỏ cách làm ăn cũ, tư duy và tác phong cũ không còn thích hợp. 4) Giải quyết thỏa đáng quan hệ giữa Nhà nước, nông dân và các doanh nghiệp xuất khẩu gạo trong phân phối lợi nhuận theo hướng quan tâm nhiều hơn đối với người trồng lúa.” Đây là những vấn đề thực sự quan trọng và cấp thiết để phát triển sản xuất lúa gạo, góp phần nâng cao  thu nhập và đời sống của nông dân.(xem tiếp)

Nguyễn Phước Tuyên 2011. Những tiến bộ sản xuất lúa lai trên thế giới. Lúa lai là kỹ thuật chìa khóa để gia tăng năng suất, sản lượng lúa Trung Quốc là nước phát triển lúa lai nhất thế giới. Đến năm 2010, diện tích lúa lai Trung Quốc lên 20 triệu ha, chiếm 70% diện tích canh tác lúa của Trung Quốc, đã góp phần đưa năng suất lúa từ 4,24 tấn/ha của năm 1979 lên 6,58 tấn/ha năm 2009, trong khi năng suất lúa trung bình của thế giới chỉ có 4,32 tấn/ha (FAOSTAT, 2011), Diện tích lúa lai của các nước ngoài Trung Quốc trên 3 triệu ha, trong đó Việt Nam khoảng 600.000 ha, chủ yếu trồng ở các tỉnh phía Bắc và một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên. Các dòng lai giữa Indica và Japonia đều cho năng suất trên 9 tấn/ha. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã lai tạo ra Việt Lai 20 vào năm 2004 đã được công nhận là giống quốc gia đầu tiên của Việt Nam. Từ đó đến nay, có nhiều giống lúa lai khác được ra đời như TH3-3, TH5-1, TH 3-4 và Việt Lai 24, những giống này cũng đã được công nhận là giống quốc gia và đang được sản xuất trên diện tích hàng chục nghìn héc-ta là những thành công ban đầu của canh tác tự lai tạo và sản xuất hạt giống lúa lai tại Việt Nam.
(xem tiếp)

 

Nguyễn Phước Tuyên 2011. Triển vọng canh tác lúa Nhật cho các nước châu Á. Việc lai tạo giữa giống lúa tiên Indica vùng nhiệt đới với giống lúa cánh Japonica vùng cận nhiệt đới và ôn đới đã tạo nên những đột phá nâng cao năng suất lúa, tăng tính chống chịu lạnh, kháng bệnh cháy lá, cháy bìa lá, khô vằn, cải thiện cây lúa vàng lá sớm, hình dạng hạt gạo, độ dẻo, hóa hồ và các đặc tính khác. Cuộc cách mạng xanh bắt đầu bằng giống lúa IR8 là kết quả của lai tạo giữa giống Japonica của Trung Quốc là Dee-geo-woo-gen với giống Peta của Indonesia. Kết quả đã làm tăng năng suất lúa từ 2-3 tấn/ha lên 8-10 tấn/ha. Tại Hàn Quốc, việc phổ biến giống lúa cao sản Tongil là kết quả của lai tạo giữa giống lúa Japonica và Indica đã giúp Hàn Quốc thành công trong tự túc lương thực từ năm 1972. Hiện các dòng lai Japonica thích nghi với điều kiện nhiệt đới đang được Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) và Hàn Quốc phát triển theo hướng cải thiện năng suất, dạng hình cây lúa, chống đổ ngả, kháng sâu bệnh chính, chống chịu được điều kiện môi trường khắc nghiệt. IRRI gần đây đã phóng thích hai giống gạo tròn nhiệt đới Japonica mang tên IRRI 142 (NSIC Rc170) và IRRI 152 (NSIC Rc220) để canh tác trên diện rộng. Các giống lúa này mang đầy kỳ vọng giúp nông dân Philippines đạt lợi nhuận cao hơn, và nhất là giúp người tiêu dùng có thể thưởng thức được gạo Nhật với giá rẻ; đồng thời cũng mở ra triển vọng lớn đối với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Hoàng Kim, Hoàng Long
Điểm tin Tổng hơp Cây Lương thực

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia 2011. Sản xuất và cung ứng lúa giống các tỉnh phía Nam. Diễn đàn Khuyến Nông @ Nông nghiệp lần thứ 5. PGS.TS. Mai Thành Phụng (chủ biên), Ths. Phạm Văn Tình, KS. Vũ Tiết Sơn. Nhà Xuất bản Nông nghiệp, trang 8-29.  Hoàng Kim, Hoàng Long biên tập mạng và post  theo bản email trực tiếp từ PGS.TS. Mai Thành Phụng

MỤC LỤC (sẽ đăng tiếp và cập nhật tại đây)
Loại giống và hạt giống lúa cho sản xuất ở ĐBSCL
GSTS Nguyễn Văn Luật
Phát triển sản xuất lúa gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long

TS. Nguyễn Trung Tiền.
Cải tiến giống lúa phẩm chất gạo tốt tiếp cận chiến lược mới  

GS.TS. Bùi Chí Bửu và GS.TS. Nguyễn Thị Lang
Thành tựu và giới hạn của việc áp dụng giống lúa cao sản ở ĐBSCL
PGS.TS. Phạm Văn Dư, ThS. Lê Thanh Tùng
Những tiến bộ sản xuất lúa lai trên thế giới
ThS. Nguyễn Phước TuyênV
Triển vọng canh tác lúa Nhật cho các nước châu Á

ThS. Nguyễn Phước Tuyên

(Còn tiếp)

Trở về đầu trang:
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC, CÂY LƯƠNG THỰC, FOOD CROPS

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s