Nhận định chiều hướng chiến lược Trung Quốc

NGỌC PHƯƠNG NAM . Aaron L. Friedberg  Giáo sư khoa Chính trị và Các Vấn đề Quốc tế Đại học Princeton, Mỹ vửa có bài viết “Hegemony with Chinese characteristics” đăng tại National Interest, số tháng 7-8, 2011, trang 18-27. Tạp chí Thời Đại Mới đã phỏng dịch bài này với tựa đề “Bá quyền với bản sắc Trung Quốc”. Đây là bài nhận định đường hướng chiến lược Trung Quốc với những điểm nhấn quan trọng cần đọc lại và suy ngẫm:

” Sau khi nhìn thấy cách Mỹ đánh quỵ Liên Xô bằng sự kết hợp giữa đối đầu bên ngoài và lật đổ bên trong, từ cuối Chiến tranh Lạnh các nhà chiến lược Trung Quốc đã sợ rằng Washington có ý định làm như thế với họ. Niềm tin này làm méo mó nhận thức của Bắc Kinh hầu như về mọi khía cạnh của chính sách Mỹ đối với Trung Quốc, từ nhiệt tình giao hảo kinh tế đến những cố gắng cổ vũ sự phát triển hệ thống pháp luật của Trung Quốc. Niềm tin ấy cũng định hướng sự đánh giá của lãnh đạo Trung Quốc về những hoạt động của Mỹ khắp châu Á, những họat động mà Bắc Kinh tin là nhằm bao vây Trung Quốc bằng những nước dân chủ ủng hộ Mỹ, và điều đó tiêm nhiễm vào các chính sách của Trung Quốc chống lại ảnh hưởng ấy.

Với sự nổi lên của Trung Quốc trên vũ đài thế giới, nước này trở thành nguồn cảm hứng và hỗ trợ vật chất cho các nhà độc tài đang bị khó khăn ở Trung Đông, châu Phi và châu Mỹ Latin, cũng như châu Á… Trung Hoa lục địa đã pha trộn thành công một nền cai trị độc tài với kinh tế thị trường. Nếu nước này đi đến chỗ được coi như đưa ra một mô hình phát triển thay thế (cho mô hình của Mỹ) thì sự tiếp tục tăng trưởng của Trung Quốc dưới sự cai trị chuyên chế có thể làm phức tạp và làm chậm lại những cố gắng từ lâu của Mỹ nhằm khuyến khích truyền bá các thiết chế chính trị tự do khắp thế giới.

Nỗi lo sợ Mỹ mưu toan thay đổi chế độ cũng có một vai trò ngày càng quan trọng trong việc họach định chính sách của Trung Quốc đối với các nước ở những vùng khác trên thế giới. Nếu Mỹ có thể làm áp lực và có lẽ hạ bệ các lãnh đạo hiện nay ở Venezuela, Zimbabwe và Iran thì nó cũng có thể …làm cái gì đó tương tự đối với Trung Quốc. Bằng cách giúp cho những chế độ này sống còn, Bắc Kinh có được bạn bè và đồng minh cho những cuộc đấu tương lai, làm yếu đi … năng lực phi thường của Mỹ khỏi chính Trung Quốc. Những cố gắng của Washington làm cô lập, ép buộc và có thể làm xói mòn những nhà nước … như  Iran và Bắc Triều Tiên) đã bị làm cho phức tạp nếu không nói là thất bại, bởi sự sốt sắng của Bắc Kinh gắn kết với chúng. Đồng thời, tất nhiên, những hành động của Trung Quốc cũng làm gia tăng mối lo ngại ở Washington về những động cơ và những dự định của nó, bằng cách đó đổ thêm dầu vào ngọn lửa tranh đua. 

… Động cơ để Đảng Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục nắm giữ quyền hành không chỉ có gốc rễ trong lợi ích bản thân. Giới lãnh đạo của Đảng thành thực tin rằng Đảng đã có những thành tựu vẻ vang trong quá khứ và ở sự cần thiết không thể thiếu được của Đảng trong tương lai. Dù gì thì chính Đảng Cộng sản Trung Quốc đã giải cứu Trung Quốc khỏi ngọai xâm, đã đưa nước này ra khỏi một thế kỷ bị áp bức và nhục nhã, nâng Trung Quốc lên hàng những đại cường trên thế giới. Trong con mắt của những lãnh đạo của nước này, và một bộ phận nhân dân Trung Quốc, những thành tựu này tự bản thân chúng đã cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc thẩm quyền đạo đức duy nhất và chính đáng hóa sự cai trị của Đảng. Nhìn về tương lai, các quan chức Đảng tin rằng chỉ có họ là đang đứng giữa một bên là tiếp tục ổn định, thịnh vượng, tiến bộ và vươn lên tầm vĩ đại không thể chặn lại, và một bên là quay lại với hỗn loạn và bạc nhược. .. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, các đồng nhiệm của ông và những người có khả năng kế tục ông thấy rõ nhiều thách thức cả trong lẫn ngoài mà họ đang đối diện, nhưng họ tin rằng họ, và chỉ có họ, mới có thể tìm ra giải pháp cần thiết để giữ cho đất nước của họ tiến lên và làm cho quốc gia này giành lại được số phận của nó. Quả thật, họ tin rằng chính tầm cỡ và sự phức tạp của những vấn đề đang đối diện với Trung Quốc là lý do khiến sự tiếp tục cầm quyền của họ là tuyệt đối cần thiết.

Ước muốn của Đảng tiếp tục cầm quyền định hình mọi khía cạnh của chính sách quốc gia. Về mặt đối ngoại, ….mục đích tối hậu của Bắc Kinh là …tập trung chú ý vào an toàn của chế độ, …duy trì những điều kiện quốc tế cần thiết để tiếp tục tăng trưởng kinh tế. …Với một nước Trung Quốc đang trở nên giàu và mạnh hơn, sự theo đuổi an ninh của quốc gia này cũng đã dẫn họ tìm cách tăng cường kiểm soát thế giới bên ngoài. Sự “đẩy ra ngoài” này có động lực cả công lẫn thủ. Là người cai quản sự vĩ đại của dân tộc, Đảng có trách nhiệm đưa Trung Quốc trở về địa vị đúng của nước này ở trung tâm châu Á. Sự tôn trọng rõ ràng của những nước khác đối với Trung Quốc là bằng chứng thành công của chế độ về mặt này và gia tăng tính chính đáng của chế độ đối với nhân dân Trung Quốc. Đặc biệt, nếu tăng trưởng kinh tế có thể vấp ngã, thì sự “đứng lên” trước kẻ thù truyền thống và giải quyết vấn đề Đài Loan và các cuộc tranh chấp khác theo quan điểm của Bắc Kinh dễ trở thành những phần quan trọng trong chiến lược của Đảng Cộng Sản Trung Quốc nhằm duy trì quyền lực của họ. Các lãnh đạo Trung Quốc tin rằng đất nước họ càng tỏ ra mạnh về mặt đối ngọai, thì chế độ của họ càng mạnh trong nước. Ngược lại, nếu đối ngọai Trung Quốc có vẻ bạc nhược hoặc nhận thức phổ biến rằng nước này đã bị thua thiệt hay bị khinh bỉ, thì có thể là cực kỳ nguy hiểm đối với triển vọng tiếp tục cầm quyền của Đảng. Những lo lắng ngấm ngầm về tính chính đáng của Đảng khiến chế độ nhạy cảm hơn với sự khinh rẽ và thất bại, và càng khiến họ kiên quyết hơn trong việc ngăn chặn những thử thách và tránh thất bại. Sự bảo đảm tốt nhất chống lại những nguy cơ như thế đối với Trung Quốc là tích lũy một ưu thế sức mạnh áp đảo trong khu vực láng giềng của nuớc này.

Hơn nữa, sự cực kỳ nhạy cảm của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đối với cái mà Đảng coi là “chủ nghĩa ly khai” là hậu quả trực tiếp của việc họ tin rằng họ phải duy trì kiểm soát tập trung ở mọi nơi mọi lúc. Vì thế, yêu sách tăng tự trị ở Tây Tạng và Tân Cương được xem như mối đe dọa “chết người” đối với sự thống nhất quốc gia và như vậy là đối với sự tiếp tục cầm quyền của Đảng. Chế độ này tin rằng nếu họ buông lơi dù chỉ một chút sự nắm chặt của họ thì cả nước sẽ vỡ tung. Các lãnh đạo Trung Quốc thấy cần phát triển đủ sức mạnh để ngăn chặn các nước láng giềng của họ cung cấp viện trợ và nhu yếu cho các nhóm ly khai và sẽ tạo ra những khả năng để can thiệp trực tiếp nhằm ngăn chặn chúng, nếu điều đó trở nên cần thiết. 

Ngay khi Đảng mạnh hơn và, trong vài khía cạnh, tự tin hơn, họ vẫn tiếp tục lo sợ sự ô nhiễm tư tưởng. Các nước dễ bảo và đồng tâm nằm dọc theo biên giới của Trung Quốc có khả năng giúp Bắc Kinh đối phó với nguy cơ này rất nhiều hơn những quốc gia dân chủ phóng khoáng có quan hệ chặt chẽ với phương Tây. Mong muốn ngăn chặn “diễn biến hòa bình” trong nước cho chế độ một lý do thuyết phục hơn để muốn định hướng sự phát triển chính trị của các láng giềng của Trung Quốc. 

Tóm lại: không phải những người cầm quyền hiện nay ở Trung Quốc mưu cầu ưu thế cho quốc gia của họ chỉ vì họ là lãnh đạo của một cường quốc đang lên, hay đơn giản vì họ là người Trung Quốc. Mong muốn thống trị và kiểm soát của họ, phần lớn, là một phó sản của loại hệ thống chính trị mà họ đang cầm đầu. Một Trung Quốc mạnh, dân chủ tự do, chắc chắn cũng sẽ tìm một vai trò lãnh đạo trong khu vực của nó và có lẽ một quyền phủ quyết trên thực tế đối với những sự phát triển mà quốc gia này cho là đi ngược những lợi ích của họ. Tuy nhiên, một chế độ (dân chủ tự do) như thế cũng sẽ ít sợ mất ổn định trong nưóc, ít cảm thấy bị đe dọa bởi sự hiện diện của các nước láng giềng dân chủ, và cũng có xu hướng tìm ủng hộ của dân chúng trong nước qua sự chế ngự và lệ thuộc của những nước khác.

 ♦

Dù không phải ai cũng tin như thế, nhưng, cuối cùng, một nước Trung Quốc dân chủ hơn sẽ đem đến một môi trường hòa bình hơn, khó có chiến tranh hơn, ở châu Á. Theo quan điểm của nhiều người theo chủ nghĩa thực tế, những cải cách nội bộ sẽ chỉ làm cho Bắc Kinh phồn thịnh hơn, hùng cường hơn và vì vậy là một đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ hơn mà không làm nước này chệch khỏi ý muốn thống trị Đông Á và giải quyết những tranh cãi với một số láng giềng của nó. Có một sự thật chắc chắn rằng ngay cả nếu trong dài hạn, Trung Quốc trở thành một nền dân chủ hòa bình và ổn định đi nữa thì cuộc chuyển đổi của nó cũng sẽ đầy chông gai. Việc mở cửa hệ thống chính trị của đất nước cho những bất đồng và tranh luận dễ đưa một yếu tố bất ổn vào chính sách đối ngoại của nó khi các tiếng nói khác được nghe và các lãnh đạo đầy tham vọng tranh giành nhau sự ủng hộ của dân chúng. Như một nhà quan sát, nhà kinh tế học David Hale buồn bã chỉ ra: “Một Trung Quốc chuyên chế có thể dễ dàng đoán trước. Một Trung Quốc mở cửa và dân chủ hơn có thể sinh ra những bất trắc mới trong cả chính sách đối nội và các quan hệ quốc tế.”

Chủ nghĩa dân tộc, có lẽ dưới dạng độc hại và hung hăng nhất của nó, là một nhân tố có thể đóng vai trò nổi bật trong việc định hướng chính sách ngoại giao của một vương quốc ở giữa tự do hóa. Nhờ có sự lan tràn của mạng lưới Internet và nới lỏng kiềm chế trên ít nhất một số dạng biểu hiện chính trị của “lòng yêu nước”, chế độ hiện nay đã thấy mình là đối tượng phê phán bất cứ khi nào nó giữ lập trường mà một số “cư dân mạng” cho là dễ dãi quá đáng đối với Nhật Bản, Đài Loan và Mỹ. Bắc Kinh lâu lâu lại tìm cách khuấy động tình cảm yêu nước, nhưng, sợ rằng cơn giận dữ đối với các nước ngoài cũng có thể dễ dàng quay trở lại chống lại đảng, chế độ cũng đã hết sức giữ gìn những cơn cuồng nhiệt của quần chúng trong vòng kiểm soát. Một chính phủ được bầu ra một cách dân chủ có thể ít rụt rè hơn nhiều. Nhà khoa học chính trị Fei Ling Wang cho rằng một chế độ hậu cộng sản thực tế sẽ mạnh hơn trong việc đòi chủ quyền đối với Đài Loan, Tây Tạng và Biển Nam Trung Quốc. Như ông giải thích:

Một chế độ ”dân chủ” ở Bắc Kinh, thoát khỏi những nỗi lo lắng làm suy nhược về sự sống còn của chính nó nhưng chắc chắn sẽ bị lôi kéo bởi những tình cảm của dân chúng, có thể làm cho cường quốc Trung Quốc đang lên thành một sức mạnh quả quyết, nôn nóng, tham chiến và hung hăng hơn, ít nhất trong thời kỳ bất ổn leo nhanh lên vị trí của một cường quốc đẳng cấp thế giới.

Xem bài đầy đủ dưới đây:

 

Bá quyền với bản sắc Trung Quốc  
(Phỏng dịch bài “Hegemony with Chinese characteristics,”
National Interest, tháng 7-8, 2011, tr. 18-27)

Aaron L. Friedberg
Giáo sư khoa Chính trị và Các Vấn đề Quốc tế
Đại học Princeton, Mỹ

Hoa Kỳ và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc bị dính vào nhau trong một cuộc tranh chấp thầm lặng nhưng ngày càng mạnh mẽ nhằm giành quyền lực và ảnh hưởng, không chỉ ở châu Á mà còn khắp thế giới. Mặc dù những gì mà nhiều nhà bình luận nghiêm chỉnh và đầy thiện chí có vẻ tin, sự kình địch đang chớm nở giữa Mỹ và Trung Quốc không chỉ là hậu quả của những ngộ nhận hay chính sách sai lầm, đàng sau chúng là những lực phát xuất từ cấu trúc đang chuyển biến của hệ thống quốc tế và từ chính sự khác biệt của thể chế chính trị ở hai nước này.

Trong suốt lịch sử, quan hệ giữa các nước đang chế ngự và các nước đang vươn lên không bao giờ là dễ dàng – và thường là dữ dội. Những nước hiện là cường quốc thì có khuynh hướng xem mình là cảnh vệ một trật tự quốc tế mà họ đã có công sáng lập và nhờ nó mà họ đang tiếp tục hưởng lợi.  Mặt khác,  những cường quốc đang vươn lên thì cảm thấy bị kiềm hãm, thậm chí bị lừa bịp, bởi tình trạng hiện hữu; họ đấu tranh chống lại tình trạng ấy để giành lấy cái mà họ cho rằng đúng ra là của họ. Thực vậy, câu chuyện này, với những ngụ ý kiểu Shakespeare về trẻ và già, vững mạnh và suy tàn, là thứ chuyện cỗ xưa nhất trong lịch sử còn ghi lại của loài người. Ngay từ thế kỷ 5 trước công nguyên nhà sử học vĩ đại người Hy Lạp Thucydides bắt đầu nghiên cứu về cuộc chiến tranh Peloponnesia với nhận xét tưởng chừng như đơn giản rằng nguyên nhân sâu xa nhất, thực nhất, của chiến tranh này là “sự lớn lên của sức mạnh Athena và sự sợ hãi mà nó gây cho Sparta.”

Sự thật rằng quan hệ Mỹ-Trung là quan hệ cạnh tranh thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Song hai nước này không phải là hai cường quốc bất kỳ: Từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Mỹ là nước giàu nhất và mạnh nhất thế giới; Trung Quốc, khác thế, là quốc gia mà khả năng là tăng lên nhanh nhất. Mỹ vẫn còn là “số một,” nhưng Trung Quốc đang nhanh chóng thu ngắn khoảng cách giữa họ và Mỹ.  Hậu quả của sự cạnh tranh này không thể là hệ trọng hơn, và đặc biệt là đầy tiềm năng đưa đến xung đột.

Ít nhất là dưới mắt các cường quốc hiện chế ngự, các nước đang lên có xu hướng là những kẻ gây rối. Khi khả năng của một nước gia tăng thì, nói chung, các lãnh đạo của nước ấy xác định lợi ích của họ một cách rộng rãi hơn, và muốn có ảnh hưởng nhiều hơn đối với những gì xảy ra xung quanh họ. Điều này có nghĩa là, thông thường, những nước đang lên không chỉ mưu đồ bảo vệ biên giới của họ mà còn muốn vượt ra ngoài biên giới ấy, có những biện pháp cần thiết để đảm bảo tiếp cận các thị trường, vật liệu và các đường giao thông, để bảo vệ công dân của họ đang làm việc xa nhà, bảo vệ các bạn bè và đồng minh nước ngoài của họ; để truyền bá các tôn giáo và ý thức hệ của họ; và để có những gì mà họ xem là quyền lợi chính đáng của họ trong những vấn đề khu vực và ở cả thế giới. 

Khi các nước đang trổi lên bắt đầu mạnh dạn lên tiếng, họ thường cảm thấy phải thách thức các đường biên giới cố hữu, các thiết chế quốc tế và hệ thống tôn ti trật tự uy tín đã được sắp xếp khi họ còn tương đối yếu. Tương tự Nhật Bản cuối thế kỷ mười chín, hay Đức ở bước ngoặt sang thế kỷ hai mươi, các cường quốc mới nổi muốn tìm chỗ đứng dưới mặt trời. Tất nhiên điều này đặt họ đối đầu với các cường quốc hiện ngự trị  – cái gọi là các nước status quo (đang có)  – vốn là những nhà kiến trúc, những kẻ thừa hưởng chủ yếu, và những người bảo vệ chính của bất kỳ hệ thống quốc tế hiện hữu nào.

Những cọ sát phát sinh từ đó giữa các lợi ích của hai bên rất ít khi được giải quyết một cách hòa bình. Nhận thấy mối đe dọa đang lớn lên đối với vị thế của họ, các cường quốc hiện có ưu thế (hay một liên minh của các nước có địa vị ấy theo thực tế – status quo) đôi khi tấn công và hủy diệt một đối thủ trước khi đối thủ này có thể lớn lên và đủ mạnh để thành một nguy cơ. Vài cường quốc khác – mong tránh chiến tranh – đã theo một chính sách ngược lại: cố gắng xoa dịu những nước có khả năng thách thức mình, họ tìm cách thỏa mãn những đòi hỏi và tham vọng của nuớc ấy và tìm cách đưa các nước ấy vào trật tự quốc tế hiện hữu một cách hòa bình.

Tuy nhiên, dù có chân thành đến mấy, những cố gắng này hầu như luôn luôn kết thúc trong thất bại. Đôi khi, lý do rõ ràng là vì những đòi hỏi của quốc gia đang lên. Như nước Đức của Adolf Hitler, một kẻ xâm lược có thể có những tham vọng quá lớn, đến mức các nước trong trật tự hiện hữu (status quo) không thể đáp ứng mà không thực tế trở thành kẻ phục tùng hay đưa dân tộc họ vào chỗ tự sát. Ngay khi những đòi hỏi của các nước đang lên là không quá lớn, các nước đang có ưu thế cũng thường rất khó chấp nhận nhượng bộ, do đó làm bừng thêm ngọn lửa oán giận và thất vọng của nước đang lên, hoặc quá hăm hở nhượng bộ, thì lại bồi dưỡng tham vọng của các nước này, khiến các đòi hỏi leo thang theo đường trôn ốc. Các chính sách nhượng bộ để xoa dịu mà thắng lợi có thể hiểu được về mặt lý thuyết, nhưng việc thực hiện chúng trong thực tế là rất khó khăn. Đó là lý do tại sao những thời kỳ chuyển tiếp  ̶  khi một cường quốc đang lên bắt đầu vượt các nước trước kia là vượt trội  ̶  đã luôn luôn được đánh dấu bằng chiến tranh.

Dù họ cẩn thận không nói thẳng, các nhà cầm quyền hiện nay của Trung Quốc có vẻ đang cố xây dựng quốc gia họ như cường quốc nổi trội ở Đông Á, và có lẽ cả châu Á nói chung. Mục đích là làm cho Trung Quốc thành nước mạnh nhất và có ảnh hưởng nhất trong vùng, một nước có khả năng ngăn chặn các cuộc tấn công và các mối đe dọa; giải quyết các tranh chấp lãnh thổ theo sở thích của Trung Quốc; ép buộc hoặc thuyết phục các nước khác chấp nhận những ý muốn của Trung Quốc trên những vấn đề từ thương mại và đầu tư đến liên minh và thỏa thuận căn cứ cho nước thứ ba, sự đối xử với Hoa kiều; và, ít nhất trong vài trường hợp, gây ảnh hưởng đến bản chất và thành phần chính phủ của các nước láng giềng. Bắc Kinh có thể không tìm cách chinh phục hay trực tiếp kiểm soát về mặt vật chất những nước xung quanh Trung Quốc, nhưng, chắc chắn là họ muốn thực hiện một dạng bá quyền khu vực, dù họ luôn luôn phủ nhận điều này. 

Trung Quốc không là quốc gia duy nhất có những tham vọng như vậy. Xuyên suốt lịch sữ, bao giờ cũng có một tương quan chặt chẽ giữa một bên là sự tăng trưởng của cải nhanh chóng và sức mạnh tiềm năng của một nước, vùng địa lý của những quyền lợi của nước ấy, cường độ và sự đa dạng của những đe dọa đã biết đối với những lợi ích, và bên kia là mong muốn tăng cường các khả năng quân sự và dùng ảnh hưởng lớn hơn để bảo vệ chúng.  Chính sự tăng trưởng có xu hướng khuyến khích bành trướng, mà bành trường thì sẽ dẫn đến mất an ninh, và mất an ninh thì càng tăng thêm ước muốn có nhiều quyền lực hơn nữa. Mẫu hình này được thiết lập rất rõ trong thời trung cổ. Khi nhìn lại các thế kỷ mười chín và hai mươi, Samuel Huntington thấy rằng

mọi cường quốc lớn khác, Anh và Pháp, Đức và Nhật, Mỹ và Liên xô, đã gắn liền với sự bành trướng, yêu sách ra bên ngoài, và chủ nghĩa đế quốc trùng khớp với hoặc tiếp ngay theo sau những năm công nghiệp hóa và tăng trưởng kinh tế nhanh chóng.

Đối với Trung Quốc, Huntington kết luận “không có lý do gì để nghĩ rằng việc có được sức mạnh quân sự và kinh tế không có những tác động tương tưˮ lên các chính sách của nước này.

Tất nhiên, cách hành xử trong quá khứ của các nước khác chỉ có tính gợi ý, khó là một chỉ dẫn chắc chắn đến tương lai. Chỉ vì các cường quốc khác đã cư xử cách nào đó không nhất thiết có nghĩa là Trung Quốc sẽ làm như vậy. Có lẽ, trong một thế giới mà thị trường là toàn cầu và có vũ khí hạt nhân, những nỗi lo sợ và tham vọng thúc đẩy các cường quốc nổi lên trước đây không còn mạnh mẽ như xưa. Có lẽ các lãnh đạo Trung Quốc đã học được từ lịch sử rằng những cường quốc mới nổi thường khuấy lên những bất mãn và chống đối.

Nhưng Trung Quốc không phải là một cường quốc mới nổi bất kỳ nào, và lịch sử của họ cho thêm một lý do để tin rằng họ sẽ tìm một hình thức ưu thắng nào đó trong khu vực. Trung Quốc là một dân tộc có một quá khứ lâu dài và tự hào như là một trung tâm chủ đạo của văn minh Đông Á.  Gần đây hơn, quốc gia này cũng có một kinh nghiệm ít vẻ vang hơn về sự đô hộ và nhục nhã trong tay ngọai xâm. Như một số nhà sử học gần đây đã vạch rõ, Trung Quốc không chỉ “nổi lên” mà còn trở về cái địa vị vượt trội trong khu vực mà có thời nó đã giữ, điều mà các lãnh đạo và nhiều người trong nhân dân của họ vẫn nghĩ là đương nhiên và thích đáng. Cái mong muốn phục hồi hệ thống lấy Hán làm trung tâm có thể nhất quán với điều mà nhà báo Martin Jacques mô tả như

một giả định phổ biến về phần người Trung Quốc, rằng địa vị tự nhiên của họ nằm ở trung tâm Đông Á, rằng nền văn minh của họ không ai trong khu vực sánh nổi, và rằng cái địa vị xứng đáng của họ mà lịch sử ban cho, sẽ được khôi phục vào một thời điểm nào đó trong tương lai. 

Học giả bảo thủ Diêm Học Thông (Yan Xuetong) đặt vấn đề một cách ngắn gọn: Nhân dân Trung Quốc tự hào về quá khứ vinh quang của đất nước mình và tin rằng việc Trung Quốc rơi khỏi địa vị ưu việt là “một sai lầm lịch sử mà họ nên sửa chữa.” Nếu có điều gì là đúng thì đó chính là cái “thế kỷ nhục nhã” mà Trung Quốc bạc nhược và dễ bị tổn thương càng làm cho việc theo đuổi quyền lực của họ thêm cấp bách. Với một dân tộc có một lịch sử như của Trung Quốc, việc giành lại một địa vị quyền lực vô địch không được xem một cách đơn giản là vấn đề tự hào mà đúng hơn như một điều kiện tiên quyết thiết yếu để tiếp tục tăng trưởng, an ninh và, rất có thể, sự sống còn. 

Những mẫu hình ngấm ngầm của chính trị quyền lực như thế đang đẩy Mỹ và Trung Quốc vào chỗ nghi kỵ và tranh đua, nếu không nhất thiết là đến xung đột công khai. Nhưng câu chuyện này không chỉ có thế. Không như khẳng định của một số người theo chủ nghĩa thực tế, các vấn đề tư tưởng hệ ít nhất cũng quan trọng như vấn đề quyền lực trong việc quyết định tiến trình của các quan hệ giữa các quốc gia. Sự kiện Mỹ là một nền dân chủ tự do trong khi Trung Quốc vẫn còn là một chế độ toàn trị là một sức đẩy thêm rất mạnh cho sự tranh đua, một chướng ngại cho những quan hệ ổn định và hợp tác, và tự nó là một nguồn gốc của thù địch và nghi ngờ lẫn nhau. 

Quan hệ giữa các xã hội dân chủ và không dân chủ luôn được thực hiện trong cái mà nhà chính trị học Michael Doyle mô tả là một “bầu không khí hiềm nghi”, phần nào vì “nhận thức của các nước tự do rằng các nước không tự do luôn ở trong một tình trạng xâm lược gây hấn chống lại chính nhân dân của họ.” Các nước dân chủ, nói ngắn gọn, xem các nước không dân chủ là ít chính đáng hơn bởi lẽ những nước sau này không có sự đồng ý mà dân chúng của họ được tự do tỏ bày. Đơn giản là, trong thâm tâm, phần lớn các công dân ở những nước dân chủ không tin rằng tất cả mọi quốc gia đều được tạo ra một cách bình đẳng, hoặc là mọi quốc gia đều đáng đuợc kính trọng như nhau, bất kể quốc gia ấy được cai trị như thế nào.

Nhìn dưới ánh sáng này, những tranh cãi Mỹ – Trung Quốc về những vấn đề như kiểm duyệt và tự do tôn giáo không chỉ gây khó chịu ngoài mặt — những khó chịu có thể hóa giải hoặc rũ bỏ. Trái lại, chúng là triệu chứng của những khó khăn sâu hơn. Đối với đa số người Mỹ, sự vi phạm nhân quyền của Trung Quốc không chỉ tự nó đã là sai trái, nó còn là dấu hiệu mạnh mẽ của bản chất tởm gớm về đạo đức của chế độ Bắc Kinh. Trong khi Mỹ có thể giao dịch với một chính phủ như vậy ít ra về một số vấn đề, khả năng có một quan hệ nồng ấm, tin cậy nhau, là xa vời, ấy là nói nhẹ nhất.

Các xã hội dân chủ cũng có xu hướng xem các xã hội không dân chủ là, tự căn bản, không đáng tin và có khuynh hướng, một cách nguy hiểm, xâm lăng các nước khác. Vì những hành động của các nước không dân chủ được che phủ trong bí mật, những mưu toan, và toàn bộ thực lực quân sự của những nước này rất khó được nhận biết. Trong những năm gần đây, các quan chức Mỹ đã thúc ép đối tác Trung Quốc của họ phải minh bạch hơn về các chương trình quốc phòng, nhưng ít có hy vọng những yêu cầu này sẽ được đáp ứng theo bất kỳ cách nào có ý nghĩa. Thậm chí, nếu Bắc Kinh bỗng nhiên công bố ồ ạt những thông tin và những con số, thì các nhà phân tích Mỹ cũng sẽ nhìn chúng với thái độ nghi ngờ sâu sắc, săm soi các dữ liệu ấy để tìm ra những dấu hiệu dối trá và đánh lạc hướng. Và họ làm thế là đúng; chính phủ Trung Quốc tập quyền và kiểm soát ngặt nghèo được đặt vào ưu thế tốt hơn nhiều để làm những âm mưu như vậy, so với đối tác Mỹ của nó, vốn phân quyền, công khai và hay để lộ bí mật.

Khả năng bảo mật của các chính quyền không dân chủ cũng cho phép các quốc gia này dễ sử dụng vũ lực mà không báo trước. Từ năm 1949, các nhà cầm quyền Trung Quốc đã bộc lộ một thiên hướng đặc biệt về tấn công bất ngờ và đánh lừa. (Hãy nghĩ đến việc Bắc Kinh lao vào Chiến tranh Triều Tiên tháng Chạp năm 1950, hay cuộc tấn công Ấn Độ của họ vào tháng Mười 1962.) Khuynh hướng này có thể đã bắt rễ sâu trong văn hóa chiến lược Trung Quốc từ thời Tôn Tử, nhưng nó cũng hoàn toàn nhất quán với tính cách của chính sách đối nội hiện nay của nước này. Thật ra, hầu hết các nhà phân tích Mỹ quan ngại về bản chất chuyên chế của chính phủ Trung Quốc nhiều hơn là về văn hóa của Trung Quốc. Nếu Trung Quốc là một xã hội dân chủ, có lẽ nền tảng văn hóa xã hội sâu xa của hành vi chiến lược và chính trị của nó có thể không khác nay là mấy, nhưng các nhà lập định kế hoạch của Mỹ có thể đỡ lo lắng hơn nhiều vì khả năng một nước Trung Quốc như thế có thể liều lĩnh thử một đòn tấn công như sét đánh trên các lực lượng và các căn cứ Mỹ ở tây Thái Bình Dương sẽ rất thấp hơn. 

Những nỗi lo xâm lược như thế còn gia tăng bởi nhận định rằng chính cái lo lắng về sự thiếu tính chính đáng trong nội bộ có thể khiến các nước không dân chủ sẽ lái sự thất vọng và bất bình của dân chúng sang các kẻ thù bên ngoài. Chẳng hạn một số nhà quan sát phương Tây lo ngại rằng nếu nền kinh tế Trung Quốc suy sụp, nhà cầm quyền Trung Quốc có thể đổ lỗi cho nước ngoài, thậm chí ngụy tạo khủng hoảng với Đài Loan, Nhật Bản hoặc Mỹ để huy động dân của họ và chuyển sự tức giận của dân chúng sang một hướng khác. Dù chủ đích của Bắc Kinh thật sự là sao đi nữa, những cuộc đối đầu như thế có thể dễ dàng leo thang khỏi tầm kiểm soát.  Chẳng phải là lãnh đạo các nuớc dân chủ không bao giờ bị cám dỗ phiêu lưu quân sự ở nuớc ngòai. Tuy nhiên, vì hậu quả đối với họ là thấp hơn nhiều (bị bỏ phiếu bất tín nhiệm chứ không phải bị lật đổ và vào tù, hoặc xấu hơn nữa), ít có khả năng là họ sẽ mạo hiểm đến mức cực độ để bám giữ quyền lực của mình. 

Sự nghi kỵ giữa Washington và Bắc Kinh không phải một chiều – và với lý do dễ hiểu. Các nhà cầm quyền hiện nay của Trung Quốc không coi mình là lãnh đạo phong trào cách mạng thế giới như trước đây, nhưng họ vẫn tin rằng họ đang dính vào một cuộc đấu tranh ý thức hệ, mặc dù trong cuộc đấu tranh ấy, cho đến gần đây họ đã hầu như hoàn toàn ở thế tự vệ. Trong khi họ xem những tuyên bố của Washington rằng Mỹ quan ngại về nhân quyền và các quyền tự do cá nhân là khá mỉa mai và có tính cơ hội, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không nghi ngờ gì rằng Mỹ được thực tình thúc đẩy bởi hùng khí ý thức hệ. Nhìn từ Bắc Kinh, Washington là một cường quốc nguy hiểm, thánh chiến, phóng khóang, hầu như có tính đế quốc, một quốc gia không nghỉ yên chừng nào mà nó chưa thể áp đặt các quan điểm và lối sống của nó lên toàn hành tinh. Ai chưa nắm được nhu cầu này của Mỹ chỉ cần đọc những diễn văn của các quan chức Mỹ với những lời hứa hẹn mở rộng tầm ảnh hưởng của dân chủ và tẩy sạch thế giới khỏi bạo quyền.

Thật ra, chính vì ý thức hệ mà Mỹ có khuynh huớng nghi ngờ và thù địch Trung Quốc nhiều hơn là chỉ vì các lý do chiến lược, ý thức hệ cũng có xu hướng làm tăng ở Washington ý muốn sẵn sàng trợ giúp các quốc gia dân chủ khác khi những quốc gia dân chủ này cảm thấy bị đe dọa bởi quyền lực Trung Quốc, ngay cả khi sự trợ giúp này không phải là những gì mà những tính toán chính trị thực dụng thuần túy về những lợi ích của nó có vẻ đòi hỏi. Chính vì lẽ đó, không thể giải thích được sự giúp đỡ kiên trì – thật ra là đang sâu đậm hơn – cho Đài Loan trong những năm 1990 nếu không tham chiếu sự kiện là hòn đảo này đã phát triển từ một thành trì chuyên chế của phe chống cộng thành một nền dân chủ tự do. Bỏ đi những liên hệ cuối cùng của Mỹ với Đài Loan sẽ gỡ bỏ nguồn gây xích mích chủ yếu với Trung Quốc và một nguyên nhân tiềm tàng của chiến tranh. Một động thái như thế thậm chí vẫn có thể hiểu được nếu Đài Loan vẫn còn hiện ra trong mắt nhiều người Mỹ — như nó đã hiện ra trong những năm 1970 — như một nền độc tài tham nhũng và trấn áp. Nhưng sự kiện là Đài Loan ngày nay được coi như nền dân chủ chân chính (nếu không hoàn thiện) sẽ khiến Washington rất khó có khi nào tự ý bỏ rơi nó.  

Sau khi nhìn thấy cách Mỹ đánh quỵ Liên Xô bằng sự kết hợp giữa đối đầu bên ngòai và lật đổ bên trong, từ cuối Chiến tranh Lạnh các nhà chiến lược Trung Quốc đã sợ rằng Washington có ý định làm như thế với họ. Niềm tin này làm méo mó nhận thức của Bắc Kinh hầu như về mọi khía cạnh của chính sách Mỹ đối với Trung Quốc, từ nhiệt tình giao hảo kinh tế đến những cố gắng cổ vũ sự phát triển hệ thống pháp luật của Trung Quốc. Niềm tin ấy cũng định hướng sự đánh giá của lãnh đạo Trung Quốc về những hoạt động của Mỹ khắp châu Á, những họat động mà Bắc Kinh tin là nhằm bao vây Trung Quốc bằng những nước dân chủ ủng hộ Mỹ, và điều đó tiêm nhiễm vào các chính sách của Trung Quốc chống lại ảnh hưởng ấy.

Với sự nổi lên của Trung Quốc trên vũ đài thế giới, nước này trở thành nguồn cảm hứng và hỗ trợ vật chất cho các nhà độc tài đang bị khó khăn ở Trung Đông, châu Phi và châu Mỹ Latin, cũng như châu Á – những người cầm cự cuối cùng của các chế độ phản dân chủ, những người đã được cho là trên đường rơi vào đống rác của lịch sử sau khi Liên Xô sụp đổ. Người Mỹ có thể tin từ lâu rằng điều kiện cần của tăng trưởng là quyền tự do chọn lựa trong lãnh vực kinh tế (điều được giả định là sẽ tất yếu mở rộng tự do chính trị), nhưng, ít nhất là hiện tại, Trung Hoa lục địa đã pha trộn thành công một nền cai trị độc tài với kinh tế thị trường. Nếu nước này đi đến chỗ được coi như đưa ra một mô hình phát triển thay thế (cho mô hình của Mỹ — Người dịch) thì sự tiếp tục tăng trưởng của Trung Quốc dưới sự cai trị chuyên chế có thể làm phức tạp và làm chậm lại những cố gắng từ lâu của Mỹ nhằm khuyến khích truyền bá các thiết chế chính trị tự do khắp thế giới.

Nỗi lo sợ rằng Mỹ mưu toan thay đổi chế độ cũng có một vai trò ngày càng quan trọng trong việc họach định chính sách của Trung Quốc đối với các nước ở những vùng khác trên thế giới. Nếu Mỹ có thể làm áp lực và có lẽ hạ bệ các lãnh đạo hiện nay ở Venezuela, Zimbabwe và Iran, nó có thể trở nên táo bạo hơn trong cố gắng làm cái gì đó tương tự với Trung Quốc. Bằng cách giúp cho những chế độ này sống còn, Bắc Kinh có được bạn bè và đồng minh cho những cuộc đấu tương lai, làm yếu đi cái nhận thức rằng dân chủ đang trên đường tiến tới và làm chệch một số năng lực phi thường của Mỹ khỏi chính Trung Quốc. Những cố gắng của Washington làm cô lập, ép buộc và có thể làm xói mòn những nhà nước chuyên chế “hoang đàng” (như Iran và Bắc Triều Tiên) đã bị làm cho phức tạp nếu không nói là thất bại, bởi sự sốt sắng của Bắc Kinh gắn kết với chúng. Đồng thời, tất nhiên, những hành động của Trung Quốc cũng làm gia tăng mối lo ngại ở Washington về những động cơ và những dự định của nó, bằng cách đó đổ thêm dầu vào ngọn lửa tranh đua. 

Có thể là, trong vị trí địa chính trị của Bắc Kinh, bất kỳ một cường quốc nào đang trổi lên cũng muốn có ảnh hưởng đáng kể trong khu vực kế cận với nước ấy. Cũng có thể là, với lịch sử của họ, và cho dù họ được cai trị như thế nào, Trung Quốc cũng đặc biệt quan tâm đến việc tự khẳng định mình và việc được láng giềng thừa nhận là đứng đầu giữa những kẻ ngang hàng. Nhưng cuối cùng thì chính đặc điểm chính trị nội bộ Trung Quốc là yếu tố quyết định chính xác cách Trung Quốc định nghĩa những mục tiêu của họ đối với thế giới bên ngòai, và phương cách theo đuổi mục tiêu ấy của họ

Như Ross Terrill của Trung tâm Fairbank Đại học Harvard nhận xét, khi chúng ta nói về các ý định hay chiến lược “của Trung Quốc”, sự thật là chúng ta đang nói về các mục tiêu và kế hoạch của các lãnh đạo chóp bu hiện nay của nước này mà, như ông mô tả, là “chín ông kỷ sư làm thành Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản Trung Quốc.” (Ross Terrill, “What does China Want?” Wilson Quarterly. Mùa thu 2005). Tất cả những gì chúng ta biết về những người này cho thấy rằng họ được thúc đẩy trên hết bởi niềm tin của họ về sự cần thiết duy trì sự cầm quyền của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Theo một nghĩa nào đó, điều này hoàn toàn là vì lợi ích của chính họ. Những lãnh đạo hiện nay và gia đình họ được hưởng những đặc quyền và những cơ hội mà những người khác trong xã hội Trung Quốc không có được; những đặc quyền và cơ hội này xuất phát từ chính sự gần gủi của họ với cội nguồn của quyền lực chính trị. Sự kết thúc nhiều thập kỷ ngự trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ có những hậu quả lập tức, đau đớn và có lẽ bi thảm đối với những người đang có địa vị chóp bu của hệ thống. Những ngôi sao đang lên hy vọng một ngày nào đó sẽ chiếm những vị trí này và ngay cả những quan chức nhỏ với những tham vọng khiêm tốn có lẽ cũng tính tóan như vậy. Sự hội tụ quyền lợi cá nhân và một cảm giác chung số phận đem đến cho nhà nước-đảng này một sự dính kết mà nó sẽ không có nếu tình thế là khác hơn. Các đảng viên biết rằng nếu họ không đoàn kết với nhau họ rất có thể gặp nguy hiểm riêng rẽ – và điều hiểu biết này thấm nhiễm cách suy nghĩ của họ đối với mọi vấn đề mà họ đương đầu.  

Nhưng động cơ để Đảng Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục nắm giữ quyền hành không chỉ có gốc rễ trong lợi ích bản thân. Giới lãnh đạo của Đảng thành thực tin rằng Đảng đã có những thành tựu vẻ vang trong quá khứ và ở sự cần thiết không thể thiếu được của Đảng trong tương lai. Dù gì thì chính Đảng Cộng sản Trung Quốc đã giải cứu Trung Quốc khỏi ngọai xâm, đã đưa nước này ra khỏi một thế kỷ bị áp bức và nhục nhã, nâng Trung Quốc lên hàng những đại cường trên thế giới. Trong con mắt của những lãnh đạo của nước này, và một bộ phận nhân dân Trung Quốc, những thành tựu này tự bản thân chúng đã cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc thẩm quyền đạo đức duy nhất và chính đáng hóa sự cai trị của Đảng.

Nhìn về tương lai, các quan chức Đảng tin rằng chỉ có họ là đang đứng giữa một bên là tiếp tục ổn định, thịnh vượng, tiến bộ và vươn lên tầm vĩ đại không thể chặn lại, và một bên là quay lại với hỗn loạn và bạc nhược. Như một phân tích của hồ sơ cá nhân bí mật bị rò rỉ của “thế hệ thứ tư” các lãnh đạo Trung Quốc hiện nay (với Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, và Giang Trạch Dân là ba thế hệ lãnh đạo đầu) của các nhà Trung Quốc học Andrew Nathan và Bruce Gilley cho thấy, về vấn đề này, không có dấu hiệu bất đồng hay nghi ngờ gì trong nội bộ Đảng. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, các đồng nhiệm của ông và những người có khả năng kế tục ông thấy rõ nhiều thách thức cả trong lẫn ngòai mà họ đang đối diện, nhưng họ tin rằng họ, và chỉ có họ, mới có thể tìm ra giải pháp cần thiết để giữ cho đất nước của họ tiến lên và làm cho quốc gia này giành lại được số phận của nó. Quả thật, họ tin rằng chính tầm cỡ và sự phức tạp của những vấn đề đang đối diện với Trung Quốc là lý do khiến sự tiếp tục cầm quyền của họ là tuyệt đối cần thiết.

Ước muốn của Đảng tiếp tục cầm quyền định hình mọi khía cạnh của chính sách quốc gia. Về mặt đối ngoại, điều ấy có nghĩa là mục đích tối hậu của Bắc Kinh là “làm cho thế giới an toàn cho chủ nghĩa chuyên chế” hay ít nhất để tiếp tục chế độ độc đảng ở Trung Quốc. Trong nhiều thập kỷ gần đây, sự tập trung chú ý vào an toàn của chế độ đã dẫn đến, trước hết, việc duy trì những điều kiện quốc tế cần thiết để tiếp tục tăng trưởng kinh tế. Khả năng của Đảng trong việc nhanh chóng nâng cao thu nhập và phúc lợi cá nhân là thành tựu thật nhất trong ba mươi năm qua và là nguồn gốc của những đòi hỏi mạnh nhất của Đảng rằng nhân dân Trung Quốc phải biết ơn và trung thành với Đảng. Đồng nghiệp Thomas Christensen của tôi ở Princeton lập luận rằng, tăng trưởng kinh tế “tạo ra sự thỏa mãn và xao lãng của dân chúng, và, do đó thu được sự ủng hộ trong nước đối với Đảng (hay ít nhất cũng làm giảm sự tích cực chống đối)” Tăng trưởng còn tạo ra thu nhập mà chính phủ có thể dùng để “mua chuộc đối lập và tài trợ cho những địa phương nghèo và các vùng dân tộc thiểu số để cố gắng ngăn ngừa những cuộc nổi dậy có bạo lực.” 

Với một nước Trung Quốc đang trở nên giàu và mạnh hơn, sự theo đuổi an ninh của quốc gia này cũng đã dẫn họ tìm cách tăng cường kiểm soát thế giới bên ngoài. Sự “đẩy ra ngoài” này có động lực cả công lẫn thủ. Là người cai quản sự vĩ đại của dân tộc, Đảng có trách nhiệm đưa Trung Quốc trở về địa vị đúng của nước này ở trung tâm châu Á. Sự tôn trọng rõ ràng của những nước khác đối với Trung Quốc là bằng chứng thành công của chế độ về mặt này và gia tăng tính chính đáng của chế độ đối với nhân dân Trung Quốc. Đặc biệt, nếu tăng trưởng kinh tế có thể vấp ngã, thì sự “đứng lên” trước kẻ thù truyền thống và giải quyết vấn đề Đài Loan và các cuộc tranh chấp khác theo quan điểm của Bắc Kinh dễ trở thành những phần quan trọng trong chiến lược của Đảng Cộng Sản Trung Quốc nhằm duy trì quyền lực của họ. Các lãnh đạo Trung Quốc tin rằng đất nước họ càng tỏ ra mạnh về mặt đối ngọai, thì chế độ của họ càng mạnh trong nước. 

Ngược lại, nếu đối ngọai Trung Quốc có vẻ bạc nhược hoặc nhận thức phổ biến rằng nước này đã bị thua thiệt hay bị khinh bỉ, thì có thể là cực kỳ nguy hiểm đối với triển vọng tiếp tục cầm quyền của Đảng. Những lo lắng ngấm ngầm về tính chính đáng của Đảng khiến chế độ nhạy cảm hơn với sự khinh rẽ và thất bại, và càng khiến họ kiên quyết hơn trong việc ngăn chặn những thử thách và tránh thất bại. Sự bảo đảm tốt nhất chống lại những nguy cơ như thế đối với Trung Quốc là tích lũy một ưu thế sức mạnh áp đảo trong khu vực láng giềng của nuớc này. 

Hơn nữa, sự cực kỳ nhạy cảm của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đối với cái mà Đảng coi là “chủ nghĩa ly khai” là hậu quả trực tiếp của việc họ tin rằng họ phải duy trì kiểm soát tập trung ở mọi nơi mọi lúc. Vì thế, yêu sách tăng tự trị ở Tây Tạng và Tân Cương được xem như mối đe dọa “chết người” đối với sự thống nhất quốc gia và như vậy là đối với sự tiếp tục cầm quyền của Đảng. Chế độ này tin rằng nếu họ buông lơi dù chỉ một chút sự nắm chặt của họ thì cả nước sẽ vỡ tung. Các lãnh đạo Trung Quốc thấy cần phát triển đủ sức mạnh để ngăn chặn các nước láng giềng của họ cung cấp viện trợ và nhu yếu cho các nhóm ly khai và sẽ tạo ra những khả năng để can thiệp trực tiếp nhằm ngăn chặn chúng, nếu điều đó trở nên cần thiết. 

Ngay khi Đảng mạnh hơn và, trong vài khía cạnh, tự tin hơn, họ vẫn tiếp tục lo sợ sự ô nhiễm tư tưởng. Các nước dễ bảo và đồng tâm nằm dọc theo biên giới của Trung Quốc có khả năng giúp Bắc Kinh đối phó với nguy cơ này rất nhiều hơn những quốc gia dân chủ phóng khoáng có quan hệ chặt chẽ với phương Tây. Mong muốn ngăn chặn “diễn biến hòa bình” trong nước cho chế độ một lý do thuyết phục hơn để muốn định hướng sự phát triển chính trị của các láng giềng của Trung Quốc. 

Tóm lại: không phải những người cầm quyền hiện nay ở Trung Quốc mưu cầu ưu thế cho quốc gia của họ chỉ vì họ là lãnh đạo của một cường quốc đang lên, hay đơn giản vì họ là người Trung Quốc. Mong muốn thống trị và kiểm soát của họ, phần lớn, là một phó sản của loại hệ thống chính trị mà họ đang cầm đầu. Một Trung Quốc mạnh, dân chủ tự do, chắc chắn cũng sẽ tìm một vai trò lãnh đạo trong khu vực của nó và có lẽ một quyền phủ quyết trên thực tế đối với những sự phát triển mà quốc gia này cho là đi ngược những lợi ích của họ. Tuy nhiên, một chế độ (dân chủ tự do) như thế cũng sẽ ít sợ mất ổn định trong nưóc, ít cảm thấy bị đe dọa bởi sự hiện diện của các nước láng giềng dân chủ, và cũng có xu hướng tìm ủng hộ của dân chúng trong nước qua sự chế ngự và lệ thuộc của những nước khác.

 ♦

Dù không phải ai cũng tin như thế, nhưng, cuối cùng, một nước Trung Quốc dân chủ hơn sẽ đem đến một môi trường hòa bình hơn, khó có chiến tranh hơn, ở châu Á. Theo quan điểm của nhiều người theo chủ nghĩa thực tế, những cải cách nội bộ sẽ chỉ làm cho Bắc Kinh phồn thịnh hơn, hùng cường hơn và vì vậy là một đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ hơn mà không làm nước này chệch khỏi ý muốn thống trị Đông Á và giải quyết những tranh cãi với một số láng giềng của nó. Có một sự thật chắc chắn rằng ngay cả nếu trong dài hạn, Trung Quốc trở thành một nền dân chủ hòa bình và ổn định đi nữa thì cuộc chuyển đổi của nó cũng sẽ đầy chông gai. Việc mở cửa hệ thống chính trị của đất nước cho những bất đồng và tranh luận dễ đưa một yếu tố bất ổn vào chính sách đối ngoại của nó khi các tiếng nói khác được nghe và các lãnh đạo đầy tham vọng tranh giành nhau sự ủng hộ của dân chúng. Như một nhà quan sát, nhà kinh tế học David Hale buồn bã chỉ ra: “Một Trung Quốc chuyên chế có thể dễ dàng đoán trước. Một Trung Quốc mở cửa và dân chủ hơn có thể sinh ra những bất trắc mới trong cả chính sách đối nội và các quan hệ quốc tế.”

Chủ nghĩa dân tộc, có lẽ dưới dạng độc hại và hung hăng nhất của nó, là một nhân tố có thể đóng vai trò nổi bật trong việc định hướng chính sách ngoại giao của một Trung Quốc (Middle Kingdom – vương quốc ở giữa) tự do hóa. Nhờ có sự lan tràn của mạng lưới Internet và nới lỏng kiềm chế trên ít nhất một số dạng biểu hiện chính trị của “lòng yêu nước”, chế độ hiện nay đã thấy mình là đối tượng phê phán bất cứ khi nào nó giữ lập trường mà một số “cư dân mạng” cho là dễ dãi quá đáng đối với Nhật Bản, Đài Loan và Mỹ. Bắc Kinh lâu lâu lại tìm cách khuấy động tình cảm yêu nước, nhưng, sợ rằng cơn giận dữ đối với các nước ngoài cũng có thể dễ dàng quay trở lại chống lại đảng, chế độ cũng đã hết sức giữ gìn những cơn cuồng nhiệt của quần chúng trong vòng kiểm soát. Một chính phủ được bầu ra một cách dân chủ có thể ít rụt rè hơn nhiều. Nhà khoa học chính trị Fei Ling Wang cho rằng một chế độ hậu cộng sản thực tế sẽ mạnh hơn trong việc đòi chủ quyền đối với Đài Loan, Tây Tạng và Biển Nam Trung Quốc. Như ông giải thích:

Một chế độ ”dân chủ” ở Bắc Kinh, thoát khỏi những nỗi lo lắng làm suy nhược về sự sống còn của chính nó nhưng chắc chắn sẽ bị lôi kéo bởi những tình cảm của dân chúng, có thể làm cho cường quốc Trung Quốc đang lên thành một sức mạnh quả quyết, nôn nóng, tham chiến và hung hăng hơn, ít nhất trong thời kỳ bất ổn leo nhanh lên vị trí của một cường quốc đẳng cấp thế giới.

Điều cuối cùng là then chốt. Ngay cả những người tin tưởng nhất vào những tác động làm hòa dịu của quá trình dân chủ hóa cũng nhìn nhận khả năng của một cuộc chuyển đổi hỗn loạn. Trong tác phẩm Tương lai Dân chủ của Trung Quốc (China’s Democratic Future), Bruce Gilley thừa nhận rằng các cuộc cách mạng dân chủ trong các nước khác thường dẫn đến bùng nổ các cuộc xâm lược nước ngoài, và ông nhận xét rằng từ đầu thế kỷ hai mươi, phong trào ủng hộ dân chủ ở Trung Quốc cũng có tính dân tộc chủ nghĩa cao độ. Dù có những tiền lệ này, Gilley tiên đoán rằng sau một quãng cách có lẽ một thập kỷ, một nước được chuyển đổi sẽ yên hàn đi vào những mối quan hệ hợp tác và ổn định hơn với Mỹ cũng như với các nước dân chủ láng giềng của nó. 

Tất nhiên một kết quả như thế không hề là chắc chắn, và phụ thuộc vào những sự kiện và những tương tác khó biết trước và thậm chí khó kiểm soát. Nếu những va chạm ban đầu giữa một nền dân chủ non trẻ và những đối tác được thiết lập tốt hơn của nó bị xử lý tồi dẫn đến một cuộc xung đột vũ trang thật sự, lịch sử có thể xoay sang những hướng rất khác và ít hứa hẹn hơn nhiều [so với] nếu chúng được giải quyết thỏa đáng. Tuy nhiên, giả sử cuộc chuyển đổi có thể được dẫn hướng không gây ra thảm họa, có đầy đủ lý do để tin rằng các quan hệ sẽ được cải thiện với thời gian. Một người Trung Quốc ủng hộ cải cách chính trị, Liu Junning, đã tổng kết tóm tắt rõ ràng các viễn cảnh. Trong khi một nước Trung Quốc “dân tộc chủ nghĩa và độc tài” sẽ là một mối đe dọa đang hiện hình,” thì một nước Trung Quốc dân chủ, tự do cuối cùng sẽ chứng tỏ là một “đối tác xây dựng.” 

Kỳ vọng này xuất phát  không phải chỉ từ sự viễn mơ. Khi các giá trị và các thiết chế của dân chủ tự do có đuợccmột nền móng vững chắc, sẽ bắt đầu có cuộc tranh biện công khai và có ý nghĩa chính trị và cuộc tranh đua thật sự giữa các mục tiêu quốc gia và sự phân phối tài nguyên của đất nước. Các nhà lãnh đạo có tham vọng và những người tạo dư luận lưu tâm đến uy tín, danh dự, quyền lực và thanh toán nợ nần sẽ phải cạnh tranh với những người khác, nhấn mạnh đến tính ưu việt của sự ổn định quốc tế, hợp tác, hòa giải và thúc đẩy tăng tiến phúc lợi xã hội. Những yêu cầu của quân đội và những liên minh công nghiệp của nó sẽ có những đối trọng, ít nhất đến một mức độ nào đó, bởi các nhóm muốn chi tiêu nhiều hơn vào giáo dục y tế và chăm sóc người già. Phiên bản dân tộc chủ nghĩa thái quá và quyết đoán của lịch sử Trung Quốc và những nỗi bất bình của nó sẽ bị thách thức bởi những quan điểm thừa nhận sự có tội của chế độ cũ trong việc đàn áp các dân tộc thiểu số và từ chối tìm kiếm sự dàn xếp trên các vấn đề chủ quyền. Một giàn lãnh đạo bị ám ảnh với sự sống còn của chính nó và với những mối đe dọa từ các cường quốc bên ngoài sẽ được thay thế bởi một chính phủ vững vàng trong tính chính đáng của nó và không có lý do gì để sợ rằng các nền dân chủ trên thế giới đang tìm cách bao vây và lật đổ nó. 

Một nước Trung Quốc dân chủ có thể sẽ thấy dễ dàng sống hòa thuận với Nhật Bản, Ấn Độ, và Nam Triều Tiên, cùng nhiều nước khác. Sự tin cậy và tôn trọng lẫn nhau cuối cùng lớn lên giữa các nước dân chủ và xua tan nỗi sợ rằng người ta sẽ dùng sức mạnh chống lại nhau, sẽ làm tăng lợi thế của việc đạt được những dàn xếp thông qua thương lượng đối với những tranh chấp về biên giới, biển đảo và các nguồn tài nguyên. Một chính phủ dân chủ ở Bắc Kinh cũng sẽ đồng ý với một cơ hội tốt hơn để đạt được một giải pháp hai bên cùng chấp nhận cho sự xa cách sáu mươi năm với Đài Loan. Trái với những nhà cầm quyền Đảng Cộng Sản Trung Quốc hiện nay, một chế độ ở lục địa được dân bầu sẽ có thấy các cuộc xung đột ít có lợi cho họ hơn, chế độ ấy sẽ có nhiều khả năng bày tỏ sự tôn trọng đối với một chính phủ dân chủ khác được ưa thích hơn, và chế độ ấy cũng sẽ hấp dẫn hơn đối với nhân dân Đài Loan như một đối tác trong một số kiểu bố trí liên bang có thể sẽ thỏa mãn những mong muốn và xoa dịu những nỗi sợ hãi của cả hai bên. 

Chừng nào mà Trung Quốc còn được cai trị như hiện nay, thì sự lớn lên của sức mạnh của quốc gia này còn đặt một thách thức sâu xa lên các quyền lợi của Mỹ. Nếu Mỹ muốn ngăn chặn xâm lược, ngăn cản áp bức và duy trì một trật tự mở, đa phương, thì Washington và các nước bạn và đồng minh của Mỹ sẽ phải hành động tích cực hơn, và hợp tác chặt chẽ hơn, để duy trì sự cân bằng thuận lợi của sức mạnh trong khu vực. Trong dài hạn, Mỹ có thể học cách sống với một nước Trung Quốc dân chủ như một cường quốc vượt trội ở Đông Á, như nước Anh đã đi đến chấp nhận Mỹ như một cường quốc vượt trội ở Tây Bán cầu. Từ nay đến ngày đó, Washington và Bắc Kinh sẽ vẫn còn bị hãm trong một cuộc đấu tranh ngày càng mãnh liệt để giành ngôi bá chủ ở châu Á.

 © Bản dịch Thời Đại Mới

Bản thảo đăng trên viet-studies ngày 13-7-2011

NGỌC PHƯƠNG NAM

Advertisements

11 thoughts on “Nhận định chiều hướng chiến lược Trung Quốc

  1. Trung Quốc với cuộc chiến biên giới Trung – Ấn
    Tháng Bảy 15, 2011 — Lê Mai
    http://lemaiblog.wordpress.com/2011/07/15/trung-qu%E1%BB%91c-v%E1%BB%9Bi-cu%E1%BB%99c-chi%E1%BA%BFn-bien-gi%E1%BB%9Bi-trung-%E1%BA%A5n-2/#respond

    Lãnh thổ TQ rộng gần 9,6 triệu kilômét vuông, đứng thứ ba thế giới, song với chủ nghĩa bá quyền đại hán tộc đã tồn tại hàng ngàn năm, Chính phủ TQ vẫn chưa bằng lòng. TQ có lịch sử tranh chấp lãnh thổ lâu đời với các nước có chung đường biên giới, họ thèm muốn từng tấc đất. Tranh chấp biên giới trên đất liền, trên biển với VN mà đỉnh cao là cuộc xâm lược năm 1979; tranh chấp trên biển Đông với 6 nước Asean hiện đang diễn ra quyết liệt. Một tin gây sửng sốt, ngay đầu năm 2011, Tajikistan đã đồng ý nhượng 1 ngàn km vuông lãnh thổ cho Trung Quốc. Cần lưu ý, cuộc tranh chấp biên giới giữa hai nước này đã kéo dài nhiều thế kỷ.

    Lịch sử ghi lại chuyện thầy trò Đường Tăng vượt ngàn dặm, đi thỉnh kinh ở Ấn Độ, còn lưu truyền mãi mãi. Hai nước Trung – Ấn có quan hệ hữu nghị lâu đời. Trong quá trình lịch sử, hai nước đã hình thành một đường biên giới tập quán truyền thống. Tuyến đường biên giới này chia ra đoạn phía Tây, đoạn Giữa và đoạn phía Đông, dài khoảng 2.000 km.

    Năm 1914, Hăng ri Macmahông, đại biểu Chính phủ Anh cùng với đại biểu nhà đương cục Tây Tạng ký kết văn kiện, hình thành đường “Macmahông” nổi tiếng. Sau ngày lập nước CHNDTH, TQ cho rằng, về lịch sử, hai nước Trung – Ấn chưa bao giờ hoạch định biên giới, nhưng thực sự tồn tại đường biên giới tập quán truyền thống. TQ cho rằng, cái gọi là đường “Macmahông” là phi pháp, xâm lấn 9 vạn km vuông lãnh thổ TQ.

    Thế thì, thử hỏi, đường biên giới Trung – Việt theo hiệp ước Pháp – Thanh, TQ có coi là phi pháp hay không?

    TQ cho rằng, từ năm 1959 đến 1961, quân đội Ấn Độ đã dùng máy bay xâm nhập không phận TQ, tiến hành trinh sát khiêu khích trên 120 lần chiếc. Tháng 8.1959, quân đội Ấn Độ xâm nhập khu vực Sơn Nam đoạn phía Tây biên giới, nổ súng tập kích bộ đội tuần tra biên phòng TQ. Tháng 10.1959, quân đội Ấn Độ ở nơi tiếp giáp Latak thuộc Kasơmia đoạn phía Tây biên giới, bao vây bộ đội biên phòng TQ, bắn chết, bắn bị thương nhiều bộ đội biên phòng TQ.

    Liên Xô – người anh Cả của các nước XHCN lúc bấy giờ, theo dõi chặt chẽ cuộc xung đột biên giới Trung – Ấn, nắm rõ tình hình của mỗi bên. Thông tấn xã TASS của Liên Xô công khai tuyên bố chỉ trích TQ, bênh vực Ấn Độ trong vấn đề tranh chấp biên giới.

    Tại Bắc Kinh, Bí thư thứ nhất BCH TW ĐCS Liên Xô Khơrútsốp đã có một cuộc nói chuyện căng thẳng với các nhà lãnh đạo TQ.

    Nguyên soái Trần Nghị, Ngoại trưởng TQ mở đầu:

    – Trong vấn đề biên giới Trung – Ấn, các đồng chí đã có lập trường thiên vị Ấn Độ.

    – Chúng tôi chỉ nhắc nhở các đồng chí chú ý đoàn kết với Nê ru. Các đồng chí đã vì một bãi đất đồng hoang cỏ cháy kia mà xung đột với Nê ru. Ở đó có cái gì? Ở đó rất không đáng giá gì! Khơrútsốp đáp trả.

    – Trong tháng Tám, sự kiện Rănggiu phát sinh, sau đó lại xẩy ra một số xung đột với bộ đội biên phòng TQ. Thế nhưng, Thông tấn xã TASS của các đồng chí tuyên bố công khai thiên vị Ấn Độ, chỉ trích TQ. Trần Nghị tiếp tục.

    – Tây Tạng với Ấn Độ là láng giềng, bản thân Tây Tạng không thể tạo thành bất cứ uy hiếp nào với Ấn Độ, thế mà TQ lại vì Tây Tạng mà xung đột với Ấn Độ, lẽ nào đây là một sự sáng suốt?

    Vấn đề Tây Tạng, các đồng chí không thận trọng, không nên để cho Đạt Lai Lạt Ma bỏ chạy. Khơrútsốp nói.

    Mao Trạch Đông:

    – Đường biên giới dài như vậy, chúng tôi làm sao nhìn thấu ông ta được?

    – Các đồng chí để cho Đạt Lai Lạt Ma bỏ chạy, kết quả lại gây ra xung đột biên giới, gieo lửa với Ấn Độ trung lập.

    Chu Ân Lai:

    – Đồng chí Khơrútsốp, đồng chí hoàn toàn lạc đề rồi. Đạt Lai Lạt Ma làm phản chạy trốn, Ấn Độ xâm nhập và rõ ràng là xâm phạm TQ, làm sao có thể nói thả cho chạy được?

    – Đồng chí là nhà ngoại giao lớn, nổi tiếng thế giới, lẽ nào không hiểu được ý nghĩa của việc đoàn kết với Nê ru?

    Một mình Khơrútsốp rất khó khăn mới thoát ra được sự công kích của hầu hết Ủy viên BCT ĐCS TQ có mặt tại cuộc hội đàm.

    Trở lại với cuộc xung đột biên giới Trung – Ấn. Ngày 20.10.1962, quân đội TQ mở cuộc tấn công toàn diện vào quân đội Ấn Độ ở đoạn phía Đông và đoạn phía Tây, sau khi cho rằng quân đội Ấn Độ phát động cuộc tấn công vào quân đội TQ ở hai đoạn trên.

    Quân đội TQ với ưu thế về binh lực đã ào ạt vượt sông, sau đó chia thành các mũi tiến thẳng vào nơi quân Ấn xâm nhập. Quân Ấn Độ đào hào và xây lô cốt dày đặc, cố thủ với hỏa lực đan chéo mãnh liệt. Trận đánh diễn ra ở địa hình đồi núi, tác chiến bằng đơn vị bộ binh gọn nhẹ với lựu đạn, súng tiểu liên, bộc phá, có sự yểm trợ của pháo binh. Cả hai nước đều không dùng không quân và hải quân trong cuộc xung đột. Năm 1979, cuộc chiến biên giới Trung – Việt cũng diễn ra mà hai bên không sử dụng không quân và hải quân.

    TQ huyên hoang, trong hơn một tuần, quân biên phòng TQ đã quét sạch 86 % cứ điểm quân sự của quân Ấn Độ, đẩy lùi quân Ấn Độ về bên kia biên giới.

    Theo chiến thuật thường dùng, sau khi giành ưu thế quân sự, TQ lại đưa ra đề nghị hòa bình, buộc Ấn Độ ngồi vào bàn thương lượng. Chu Ân Lai viết thư cho Nê ru và các nguyên thủ trên thế giới, nêu rõ lập trường của TQ giải quyết vấn đề biên giới.

    Tại Trung Nam Hải, Mao Trạch Đông một mình bước ra khỏi phòng làm việc. Lát sau, Chu Ân Lai cũng bước ra, cả hai men theo con đường hàng cây râm mát, vừa đi vừa nói chuyện.

    Mao nhìn tơ liễu rủ trên mặt nước, quay đầu lại hỏi:

    – Thư đã giao đi chưa?

    – Đã giao hoàn toàn rồi!

    – Một bên là đánh trận bằng quân sự, một bên là đánh trận bằng ngoại giao, đều cần phải tranh thủ sự chủ động. Xem ra đã đánh được kha khá rồi phải không?

    – Báo cáo của Bộ Tổng tham mưu, tinh thần bộ đội rất hăng hái, đã tiến đến giới tuyến truyền thống rồi, hơn 5 ngàn lính địch bị tiêu diệt, thu nhiều vũ khí.

    Mao gật đầu:

    – Trên cơ bản là chiến tranh tiêu diệt.

    – Để tạo điều kiện có lợi cho cuộc đàm phán hòa bình, chúng ta chuẩn bị dừng lửa tại đây, bộ đội sẽ rút lui.

    – Tôi xem có thể được, dừng lửa tại đây, lui quân về vị trí tập kết, chúng ta nhường họ một chút, cũng xem như là sự thành ý của cuộc đàm phán.

    Chính phủ Ấn Độ cự tuyệt mưu mẹo đó, tuyên bố cả nước ở vào “tình trạng khẩn cấp”, thành lập “nội các ứng phó tình hình khẩn cấp”, cử người ra nước ngoài mua vũ khí, yêu cầu tăng viện trợ quân sự, quyết tâm tác chiến với TQ.

    Trung tuần tháng 11, tổng binh lực quân đội Ấn Độ bố trí trên khu vực biên giới Trung – Ấn tăng từ 2,2 vạn người lên 3 vạn người. Sau khi công tác chuẩn bị hoàn tất, quân đội Ấn Độ bắt đầu tiến công mãnh liệt toàn tuyến với sự yểm hộ của pháo binh. Giai đoạn hai của cuộc xung đột, từ 16 đến 21.11.1962 bắt đầu.

    Về sự bố trí của quân đội Ấn Độ, nguyên soái Lưu Bá Thừa, Tư lệnh bộ đội TQ tác chiến ở biên giới Trung – Ấn ví von, thế trận của quân đội Ấn Độ là một loại “đầu đồng, đuôi thiếc, lưng chặt, bụng lỏng”, mục đích là ngăn chặn quân TQ phản kích vào phía Nam, đồng thời chờ dịp tiến công, xâm nhập hướng Bắc.

    Với lực lượng vượt trội và sự bất ngờ, TQ đã giành ưu thế trong cuộc chiến tranh biên giới với Ấn Độ, kéo dài một tháng. Bài học của Ấn Độ là bài học về xây dựng lực lượng phòng thủ, về tính chủ động nhằm tiên liệu một cuộc xâm lấn bất ngờ của TQ. Lịch sử cho thấy, không một nước nào có chung đường biên giới với TQ được phép quên điều đó.

  2. Trung Quốc trỗi dậy hòa bình hay trỗi dậy chiến tranh?
    Tháng Sáu 12, 2011 — Lê Mai
    http://lemaiblog.wordpress.com/2011/06/12/trung-qu%E1%BB%91c-tr%E1%BB%97i-d%E1%BA%ADy-hoa-binh-hay-tr%E1%BB%97i-d%E1%BA%ADy-chi%E1%BA%BFn-tranh/

    Sự kiện “tàu Bình Minh 2″ xẩy ra ngay trước thềm Đối thoại Shangri-La làm chúng ta dễ dàng nhận thấy đó là một tính toán chiến thuật nằm trong chiến lược độc chiếm biển Đông của Bắc Kinh. Tướng Lương Quang Liệt, người dẫn đầu đoàn đại biểu hùng hậu của TQ – vốn rất nổi tiếng với tuyên bố về Đài Loan ngay sau khi ông ta nhậm chức Bộ trưởng Quốc phòng: “Đối với Đài Loan, đánh chậm không bằng đánh sớm, đánh nhỏ không bằng đánh lớn, đánh chiến tranh thường qui không bằng đánh chiến tranh hạt nhân, chỉ đánh Đài Loan không bằng lôi cả Nhật Bản vào cùng đánh”.

    Cho nên, không có gì ngạc nhiên khi các bên tham dự Đối thoại Shangri-La hồi hợp chờ đợi “giọng lưỡi” của Lương.

    Thế nhưng, các bên tham dự Đối thoại Shangri-La lại bất ngờ lắng nghe bài phát biểu đầy “nhã nhặn” của Lương. Có người làm một bản thống kê cho thấy, trong bài phát biểu ấy, có 3 từ “hữu nghị”, 6 từ “đối thoại”, 47 từ “hợp tác” và 34 từ “hòa bình”! Không phải ngẫu nhiên mà TQ luôn nói đến chiến lược “trỗi dậy hòa bình” của TQ – nhất là trong thời gian gần đây, trong khi việc làm của họ thì ngược lại. Không cần phải chờ đợi đâu xa, sự kiện tàu Viking 2 ngày 9.6.2011 tiếp ngay sau sự kiện tàu Bình Minh 2 đã làm cho những người luôn tin tưởng vào mối quan hệ Việt – Trung cũng bừng tỉnh, hiểu rõ TQ muốn gì và chắc chắn TQ sẽ không dừng lại ở đó. Thế giới có quyền đặt câu hỏi, vậy TQ áp dụng chiến lược trỗi dậy hòa bình hay trỗi dậy chiến tranh?

    Thập kỷ sáu mươi, xuất phát từ bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ, nhận định chiến tranh thế giới có thể sẽ xẩy ra, Mao đề ra chiến lược “đánh mạnh, đánh sớm, đánh chiến tranh hạt nhân”. Thế là không biết bao nhiêu nhân tài, vật lực của quốc gia đổ vào việc chuẩn bị chiến tranh, TQ gần như kiệt sức. Cuối thập kỷ bảy mươi, Đặng nhận định: Chiến tranh lớn không xẩy ra, đừng sợ. Tôi thấy chí ít mười năm nữa cũng không đánh nhau đâu. Chúng ta phải bình tĩnh đưa ra phán đoán mới, phán đoán này là vô cùng quan trọng để chúng ta có thể yên tâm chuyển trọng điểm sang xây dựng kinh tế. Không có phán đoán này, hàng ngày cứ lo sợ hốt hoảng, làm sao có thể yên tâm xây dựng được?

    Chiến lược “thu mình, dấu tài” của Đặng ra đời – tất nhiên chúng ta thừa hiểu, chiến lược ấy ra đời trong điều kiện TQ còn yếu về mọi mặt. TQ lớn tiếng tuyên bố với thế giới: TQ vĩnh viễn không xưng bá, không đứng đầu, không cầm cờ, không đối kháng, không thách thức trật tự thế giới đang tồn tại. Đặng lại nói, mặc dù một số nước thế giới thứ ba mong muốn TQ đứng đầu, song TQ nhất thiết không nên đứng đầu, đứng đầu không có ích gì, mọi cái chủ động đều mất hết. Không đứng đầu không phải là lời nói khách sáo mà là một suy nghĩ chính trị, một suy xét chiến lược của TQ.

    Ý nghĩa của “thu mình, dấu tài” của TQ là gì? Giấu tài là che giấu tài năng, không bộc lộ ra ngoài. Nó xuất phát từ tình hình thực tiễn TQ và so sánh lực lượng quốc tế, trước hết TQ chỉ có thể làm tốt công việc của mình trong nước. TQ cố hết sức tránh huênh hoang, tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi để tập trung sức xây dựng kinh tế. Mục tiêu là tranh thủ thời cơ, thực hiện bốn hiện đại hóa, tạo ra một sự phát triển vượt bậc cho TQ.

    Chiến lược ấy đã tỏ ra có hiệu quả. Năm 2010, tổng GDP của TQ đã vượt Nhật Bản, đạt 5,88 nghìn tỷ USD, chỉ đứng sau Hoa Kỳ với 14,66 nghìn tỷ USD.

    Đến đây, chúng ta hãy nhìn tổng quát một chút “mối đe dọa” của TQ. Theo một số nguồn tin phương Tây, tổng quân số thường trực hiện nay của 4 quân chủng Quân đội TQ vào khoảng 2,3 triệu người; trong đó Lục quân có 1.560.000 quân, Không quân có 385.000 quân và Hải quân có 255.000 quân, lực lượng tên lửa chiến lược có 100.000 quân. Ngoài ra, Trung Quốc còn duy trì một lực lượng cảnh sát vũ trang với 660.000 người để bảo đảm an ninh nội địa.

    TQ có 9.480 chiếc xe tăng các loại, trong đó 8.180 xe tăng hạng nhẹ, 5.000 xe thiết giáp, 58.450 khẩu pháo, cối và rốc két các loại. Vũ khí phòng không của Lục quân gồm 10.300 pháo phòng không và 1.600 tên lửa. Lục quân cũng được trang bị 384 máy bay trực thăng các loại.

    Không quân có 4.486 máy bay các loại, gồm máy bay ném bom, máy bay tiêm kích bom, cường kích, tiêm kích và nhiều loại khác. Lực lượng phòng không có 1.578 tên lửa phòng không, 16.000 pháo cao xạ các loại.

    Hải quân TQ có tổng số 1.503 tàu, xuồng các loại, trong đó có tàu ngầm, tàu khu trục, tàu hộ vệ, tàu phóng lôi, tàu tên lửa, tàu tuần tiễu trang bị pháo, tàu xuồng đổ bộ và tàu phục vụ. Lực lượng không quân của hải quân có 956 máy bay các loại gồm: máy bay ném bom, rải lôi, máy bay cường kích, tiêm kích, máy bay trinh sát chống ngầm, máy bay vận tải và máy bay trực thăng.

    TQ có 609 tên lửa chiến lược trên đất liền với các loại tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, tên lửa đạn đạo tầm trung, tên lửa đạn đạo tầm ngắn. Ngoài ra, lực lượng này còn có 13 tên lửa trang bị trên tàu ngầm và 326 bom và đầu đạn hạt nhân trên máy bay.

    Thống kê nêu trên khó mà đầy đủ và chính xác, song cũng cho chúng ta thấy sức mạnh quân sự của “chiến lược trỗi dậy hòa bình” của TQ. TQ thường nhấn mạnh, chính sách quốc phòng “phòng ngự” và chiến lược quân sự “phòng ngự tích cực” của mình. Rằng số vũ khí hạt nhân “ít ỏi” mà TQ có chỉ là để tự vệ. TQ không khiêu khích quân sự với bất cứ nước nào. Tuy nhiên, nếu ai cố tình gây chiến tranh với TQ, TQ sẽ tiến hành phản kích để tự vệ.

    Với việc triển khai các chính sách đối nội và đối ngoại, sự phát triển “mối đe dọa” của TQ, thế giới ngày càng e ngại TQ. Thứ nhất, TQ phát triển nhanh chóng tất nhiên sẽ dẫn đến việc bành trướng ra bên ngoài bằng vũ lực và xâm lược. Điều này lịch sử đã chứng minh. Thứ hai, TQ với dân số 1,3 tỷ người, trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý lạc hậu sẽ tiêu hao quá mức tài nguyên nhân loại, làm rối loạn thị trường thế giới, phá hoại cân bằng sinh thái toàn cầu, tạo thành mối đe dọa cho thế giới. Thứ ba, sự phát triển của TQ sẽ gặp nhiều mâu thuẫn do chế độ chính trị, khó khăn sẽ ngày càng gay gắt, tất yếu dẫn đến rối loạn chính trị, gây mất ổn định cho khu vực cũng như thế giới. Thứ tư, mô hình TQ phát triển thành công sẽ có ảnh hưởng chính trị to lớn, tạo nên mối đe dọa vai trò chủ đạo thế giới của các nước phương Tây và Hoa Kỳ.

    Chiến lược trỗi dậy hòa bình của TQ ra đời là để đối phó và hóa giải sự lo ngại đó của thế giới. Chiến lược này có thể xóa hết mối nghi ngại đó của thế giới hay không, điều này phụ thuộc vào TQ. Đó là trong hành xử, TQ phải tỏ ra là một nước lớn có trách nhiệm, nói đi đôi với làm.

    Với các nước láng giềng, TQ thường nói, “làm bạn với láng giềng, thân thiện với láng giềng, yên ổn với láng giềng, trợ giúp láng giềng, hỗ trợ láng giềng, làm giàu láng giềng”. Thế ư? Cứ xem những hành động của TQ – nhất là thời gian gần đây về tranh chấp chủ quyền trên biển Đông, sẽ hiểu lời nói của TQ có giá trị đến đâu. Chiến lược trỗi dậy hòa bình của TQ liệu có thuyết phục được thế giới hay không?

    Và như thế, TQ trỗi dậy hòa bình hay trỗi dậy chiến tranh – câu trả lời thật quá dễ dàng.

  3. TOÀN VĂN KIẾN NGHỊ KHẨN CẤP VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
    ngày 14.7.2011 đăng trên blog Nguyễn Xuân Diện
    http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/07/toan-van-kien-nghi-khan-cap-ve-bao-ve.html

    KIẾN NGHỊ
    VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
    TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

    Kính gửi: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
    và Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

    Chúng tôi, ký tên dưới đây, xin trân trọng gửi đến quý vị bản kiến nghị của chúng tôi trước tình hình hiện nay của Tổ quốc.

    I- Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đang bị uy hiếp, xâm phạm nghiêm trọng
    1. Từ khát vọng trở thành siêu cường, với vai trò là “công xưởng thế giới” và chủ nợ lớn nhất của thế giới, dưới chiêu bài “trỗi dậy hòa bình”, Trung Quốc đang ra sức phát huy quyền lực dưới mọi hình thức, nhằm thâm nhập và lũng đoạn nhiều quốc gia trên khắp các châu lục. Một số nhà nghiên cứu trên thế giới cho rằng đến nay Trung Quốc đã vượt tất cả những gì chủ nghĩa thực dân mới làm được sau Chiến tranh thế giới II.
    Thời gian gần đây, Trung Quốc đã có những bước leo thang nghiêm trọng trong việc thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông với nhiều hành động bất chấp luật pháp quốc tế, ngang nhiên xâm phạm chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của các quốc gia giáp Biển Đông. Trung Quốc tự ý vạch ra cái gọi là “đường chữ U 9 đoạn”, thường được gọi là “đường lưỡi bò”, chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông, nhiều lần tuyên bố trước thế giới toàn bộ vùng “lưỡi bò” này thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc và đã liên tục tiến hành nhiều hoạt động bất hợp pháp trên Biển Đông để khẳng định yêu sách trái luật quốc tế này.
    Hiện nay Trung Quốc đang ráo riết tăng cường lực lượng hải quân, chuẩn bị giàn khoan lớn, tiến hành nhiều hoạt động quân sự hoặc phi quân sự ngày càng sâu vào vùng biển các quốc gia trong vùng này, gắn liền với những hoạt động chia rẽ các nước ASEAN trong quan hệ với Trung Quốc.
    2. Trên vùng Biển Đông thuộc lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, năm 1974 Trung Quốc đã tấn công chiếm nốt các đảo ở Hoàng Sa, năm 1988 đánh chiếm thêm 7 đảo và bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của ta; từ đó đến nay thường xuyên tiến hành các hoạt động uy hiếp và xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền của nước ta, như tự ý ra lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, xua đuổi, bắt giữ, cướp tài sản của các tàu đánh cá trên vùng này, gây sức ép để ngăn chặn hoặc đòi hủy bỏ các hợp đồng mà các tập đoàn kinh doanh dầu khí của nước ngoài đang hợp tác với Việt Nam, liên tục cho các tàu chiến hải giám đi tuần tra như đi trên biển riêng của nước mình. Gần đây nhất, tàu Trung Quốc cắt cáp quang và thực hiện nhiều hành động phá hoại khác đối với tàu Bình Minh 02 và tàu Viking II của ta đang hoạt động trong vùng thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam; đó là những bước leo thang nghiêm trọng trong các chuỗi hoạt động uy hiếp, lấn chiếm vùng biển của nước ta.
    Vị trí địa lý tự nhiên, vị thế địa chính trị và địa kinh tế trong bối cảnh quốc tế hiện nay khiến cho Việt Nam bị Trung Quốc coi là chướng ngại vật trên con đường tiến ra biển phía Nam để vươn lên thành siêu cường. Bằng mọi phương tiện và nhiều thủ đoạn từ tinh vi đến trắng trợn, Trung Quốc tìm mọi cách dụ dỗ, thâm nhập, lũng đoạn, uy hiếp, can thiệp nội bộ, lấn chiếm, và đã từng dùng hành động quân sự – tất cả đều trong mưu đồ lâu dài nhằm khiến cho Việt Nam suy yếu, chịu khuất phục hay lệ thuộc vào Trung Quốc.
    Về phía ta, mặc dù đã có nhiều cố gắng và nhân nhượng để bình thường hóa và phát triển quan hệ hợp tác giữa hai nước, song cho đến nay cục diện cơ bản diễn ra trong quan hệ hai nước là: Việt Nam càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới.
    3. Xem xét cục diện quan hệ hai nước, phải nhìn nhận thẳng thắn rằng Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong việc thực hiện ý đồ chiến lược của họ.
    Dưới đây xin điểm những nét chính:
    Về kinh tế, nhập siêu của ta từ Trung Quốc mấy năm qua tăng rất nhanh (năm 2010 gấp 2,8 lần năm 2006) và từ năm 2009 xấp xỉ bằng kim ngạch nhập siêu của nước ta với toàn thế giới. Hiện nay, nước ta phải nhập khẩu từ Trung Quốc khoảng 80-90% nguyên vật liệu cho công nghiệp gia công của ta, một khối lượng khá lớn xăng dầu, điện, nguyên liệu và thiết bị cho những ngành kinh tế khác; khoảng 1/5 kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc là hàng tiêu dùng, chưa kể một khối lượng tương đương như thế vào nước ta theo đường nhập lậu. Đặc biệt nghiêm trọng là trong những năm gần đây, 90% các công trình kinh tế quan trọng như các nhà máy điện, luyện kim, hóa chất, khai thác bô-xít, khai thác ti-tan… được xây dựng theo kiểu chìa khóa trao tay (EPC) rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc với nhiều hệ quả khôn lường. Trong khi đó Trung Quốc nhập khẩu từ nước ta chủ yếu dưới dạng vơ vét nguyên liệu, nông sản và khoáng sản, với nhiều hệ quả tàn phá môi trường. Ngoài ra còn nạn cho Trung Quốc thuê đất, thuê rừng ở vùng giáp biên giới, nạn tiền giả từ Trung Quốc tung vào. Sự yếu kém của nền kinh tế trong nước chính là mảnh đất màu mỡ cho sự xâm nhập, thậm chí có mặt chi phối, lũng đoạn về kinh tế của Trung Quốc. Chưa nói tới hệ quả khôn lường của việc Trung Quốc xây nhiều đập trên thượng nguồn hai con sông lớn chảy qua nước ta. Cũng không thể xem thường sự xâm nhập của Trung Quốc vào các nước xung quanh ta. Nếu Trung Quốc thực hiện được mưu đồ độc chiếm Biển Đông, Việt Nam coi như bị bịt đường đi ra thế giới bên ngoài.
    Về chính trị, những hiện tượng thâm nhập của Trung Quốc về kinh tế kéo dài nhiều năm, có nhiều sự việc nghiêm trọng và còn đang tiếp diễn, đặt ra câu hỏi: Phía Trung Quốc đã làm gì, bàn tay của quyền lực mềm của họ đã thọc sâu đến đâu? Nạn tham nhũng tràn lan và nhiều tha hóa khác ở nước ta hiện nay có sự tham gia như thế nào của bàn tay Trung Quốc?
    Lãnh đạo nước ta đã quá dè dặt, không công khai minh bạch thực trạng nghiêm trọng trong quan hệ Việt – Trung để nhân dân ta biết và có thái độ ứng phó cần thiết. Thực trạng hiện nay làm cho dân bất bình, khó hiểu lãnh đạo nước mình trong quan hệ với Trung Quốc; về phía Đảng và Nhà nước thì lúng túng, không dựa vào sức mạnh của dân; còn bè bạn quốc tế thì lo lắng, thậm chí ngại ngùng ủng hộ chính nghĩa của Việt Nam.
    Về quan hệ đối ngoại Việt – Trung, cách ứng xử của phía ta gần đây nhất được thể hiện trong Thông tin báo chí chung (TTBCC) Việt Nam và Trung Quốc về cuộc gặp giữa hai thứ trưởng ngoại giao Việt Nam và Trung Quốc do Bộ Ngoại giao ta công bố ngày 26-06-2011. Thông tin này có những nội dung mập mờ, khó hiểu, gây ra nhiều điều băn khoăn, lo lắng cho dư luận trong nước và thế giới; ví dụ:
    – TTBCC hoàn toàn bỏ qua không nói gì tới những hành động gây hấn của Trung Quốc, xâm phạm chủ quyền của nước ta trên Biển Đông, lại nêu “Hai bên cho rằng, quan hệ Việt – Trung phát triển lành mạnh, ổn định, đáp ứng nguyện vọng chung và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước Việt – Trung, có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực”. Nếu câu này là nhận định thực trạng quan hệ hai nước hiện nay thì nguy hiểm và không đúng với sự thực đang diễn ra ngược lại. Phương châm “16 chữ” và tinh thần “bốn tốt” do chính lãnh đạo Trung Quốc đề ra; vì vậy ta đòi lãnh đạo Trung Quốc thực hiện đúng, chứ không thể xuê xoa bằng câu “hai bên nhấn mạnh cần kiên trì đưa quan hệ đối tác theo đúng phương châm 16 chữ và tinh thần bốn tốt”
    – TTBCC viết: “Hai bên khẳng định, cần tích cực thực hiện nhận thức chung của Lãnh đạo hai nước, giải quyết hòa bình các bất đồng trên biển giữa hai nước thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị”. Nội dung của “nhận thức chung” này giữa lãnh đạo hai nước là gì, phía ta chưa nói rõ mà chỉ có những giải thích một chiều của phía Trung Quốc theo cách có lợi cho Trung Quốc, như người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 29-06-2011 nhấn mạnh “phía Việt Nam cần thực hiện thỏa thuận chung của lãnh đạo hai nước về giải quyết những vấn đề Biển Đông” và nói rằng “Cả hai nước chống lại sự can thiệp của các lực lượng bên ngoài vào các vấn đề Biển Đông”. Trung Quốc liên tục có những phát ngôn từ chính khách và báo chí, coi nguyên nhân những căng thẳng mới trên Biển Đông hiện nay là do ta và các nước trong khu vực khiêu khích. Trong những phát ngôn đó, không ít ý kiến cho rằng về cơ bản đã chuẩn bị xong dư luận trong nhân dân Trung Quốc cho việc đánh Việt Nam và giành lại chuỗi ngọc “liên châu” (chỉ quần đảo Trường Sa)… Cách viết mập mờ, khó hiểu của TTBCC rất bất lợi và nguy hiểm cho nước ta, kể cả trên phương diện quan hệ quốc tế có liên quan đến những nước thứ ba.
    – TTBCC nêu “(Hai bên…) tăng cường định hướng đúng đắn dư luận, tránh lời nói và hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân hai nước…”. Phía Trung Quốc dựa vào điều này để gây thêm sức ép kiềm chế dư luận nước ta trong khi báo chí Trung Quốc vẫn tiếp tục đăng những bài vu cáo, miệt thị nhân dân ta. Trước các hành vi trái luật pháp quốc tế do phía Trung Quốc gây ra trên Biển Đông, cần khẳng định việc dư luận nhân dân ta vạch ra và có những hoạt động biểu thị thái độ lên án các hành động đó, làm hậu thuẫn cho các hoạt động chính trị, ngoại giao của Nhà nước ta, không thể coi là những “lời nói và hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân hai nước…” Nhân dân ta có truyền thống lịch sử và bản lĩnh kiên cường, thời nào cũng không tiếc sức mình chủ động tìm mọi cách xây dựng, gìn giữ, bảo vệ mối quan hệ hữu nghị với nước láng giềng này; cho đến nay không bao giờ tự mình gây hấn với Trung Quốc, mà chỉ có đứng lên chống Trung Quốc khi Tổ quốc bị xâm lược.
    II- Trong khi đó tình hình đất nước lại có nhiều khó khăn và mối nguy lớn
    1. Nền kinh tế nước ta đang ở trong tình trạng phát triển kém chất lượng, kém hiệu quả, và lâm vào khủng hoảng kéo dài.
    Tất cả những cố gắng từ vài năm nay là tập trung “chữa cháy”, cố cứu vãn nền kinh tế ra khỏi khó khăn trước mắt, trước hết là chống lạm phát. Từ 2007 đến nay (trừ năm 2009) lạm phát liên tục ở mức 2 con số; dự báo năm 2011 vẫn là hai con số ở mức cao. Nguồn lực huy động được trong nước và từ bên ngoài cho nền kinh tế nước ta trong mấy năm qua cao chưa từng có, song hiệu quả kinh tế lại thấp kém với chỉ số ICOR (tỷ lệ nghịch với hiệu quả đầu tư) tăng nhanh, lên mức cao nhất từ trước đến nay và cũng là cao nhất trong khu vực. Nhập siêu đang ở mức cao. Thâm hụt ngân sách vượt quá ngưỡng báo động (5% GDP theo kinh nghiệm thế giới). Nền kinh tế vẫn trong tình trạng cơ cấu lạc hậu, hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh đều thấp, tăng trưởng chủ yếu nhờ vào vốn đầu tư, lao động trình độ thấp và khai thác đất đai, tài nguyên đến cạn kiệt. Môi trường tự nhiên bị tàn phá nghiêm trọng. Khoảng cách giàu nghèo bị nới rộng, phân phối thu nhập ngày càng trở nên bất công. Các vấn đề kinh tế lớn như: sự tích tụ / phân bổ của cải; tình hình chiếm hữu và sử dụng đất đai; trạng thái thực thi pháp luật; sự hình thành các nhóm đặc quyền, đặc lợi và các nhóm quyền lực mới, sự xuất hiện các giai tầng mới đi liền với những bất công mới…, đang diễn biến ngược lại với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Kết quả cuối cùng là thu nhập danh nghĩa bình quân đầu người có tăng lên nhưng chất lượng cuộc sống xuống cấp trên nhiều mặt; sự bất an của người dân tăng lên; mức sống thực tế của phần lớn nông dân, của số đông công nhân và những người làm công ăn lương hiện nay giảm sút nhiều so với mấy năm trước.
    2. Thực trạng văn hóa – xã hội của đất nước có quá nhiều mặt xuống cấp, cái mới và tiến bộ không đi kịp yêu cầu phát triển của đất nước và không đủ sức lấn át những cái hủ bại và tiêu cực; công bằng xã hội bị vi phạm nghiêm trọng, nguồn lực quý báu nhất của đất nước là con người chưa thực sự được giải phóng.
    Trong nhiều vấn đề bức xúc, phải nói tới vấn đề hàng đầu là nền giáo dục của nước ta cho đến nay có nhiều mặt lạc hậu so với phần đông các nước trong khu vực, mặc dù nước ta thuộc số nước có tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục so với thu nhập (của cả nhà nước và nhân dân) ở mức cao nhất khu vực. Nội dung, cách dạy và học, cách quản lý trong nền giáo dục của nước ta quá lạc hậu, thậm chí có nhiều sai trái. Nguồn nhân lực nước ta có trình độ giáo dục phổ cập ở mức khá cao, tỷ lệ bằng cấp các loại trên số dân và số người lao động đều ở mức cao hay rất cao so với nhiều nước có mức thu nhập tương đương. Song trên thực tế chất lượng nguồn lực con người và năng suất lao động của nước ta vẫn thua kém nhiều nước, thấp xa so với yêu cầu đưa đất nước đi lên phát triển hiện đại. Nguyên nhân cơ bản là nền giáo dục trong môi trường chính trị – xã hội hiện nay của nước ta không nhằm đào tạo ra con người tự do và sáng tạo, con người làm chủ đất nước, mà là một nền giáo dục phát triển chạy theo thành tích và số lượng.
    Trong đời sống văn hóa – tinh thần của đất nước, nhân dân thấy rõ và lên án hiện tượng giả dối và tình trạng tha hóa trong lối sống và trong đạo đức xã hội. Những cái xấu này, cùng với nạn tham nhũng tạo ra những bất công mới, đồng thời làm băng hoại nhiều giá trị truyền thống của dân tộc ta. Tình trạng thiếu vắng sự công khai minh bạch trong mọi mặt của đời sống xã hội đang làm cho mảnh đất nuôi dưỡng tham nhũng và tiêu cực ngày càng màu mỡ. Thực tế này cản trở nghiêm trọng việc xây dựng một xã hội lành mạnh, văn minh, đồng thời tạo ra một môi trường xói mòn luật pháp, rất thuận lợi cho việc dung dưỡng những yếu kém của chế độ chính trị.
    3. Chế độ chính trị còn nhiều bất cập, cản trở sự phát triển của đất nước:
    Thực trạng kinh tế – văn hóa – xã hội hiện nay của đất nước phản ánh rõ nét sự bất cập và xuống cấp ngày càng gia tăng của hệ thống chính trị – xã hội và bộ máy nhà nước ta. Nền kinh tế nước ta đứng trước yêu cầu bức thiết phải chuyển đổi cơ cấu và mô hình phát triển (chuyển từ phát triển chủ yếu theo chiều rộng sang phát triển dựa nhiều vào các yếu tố chiều sâu) để đi vào thời kỳ phát triển bền vững với chất lượng cao hơn. Giai đoạn mới hiện nay đòi hỏi phải cải cách hệ thống chính trị để xóa bỏ mọi trở ngại, phát huy và sử dụng tốt mọi nguồn lực nhằm đổi mới và phát triển nền kinh tế. Nhiệm vụ đổi mới chính trị tuy đã được đặt ra nhưng chưa có mục tiêu, biện pháp và hành động thiết thực.
    Đặc biệt nghiêm trọng là tệ quan liêu tham nhũng, tình trạng tha hóa phẩm chất, đạo đức đang tiếp tục gia tăng trong bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức và viên chức của hệ thống chính trị và nhà nước. Bộ máy này ngày càng phình to, tình trạng bất cập và nạn tham nhũng nặng nề hơn, gây tổn thất ngày càng lớn hơn cho đất nước. Thực trạng này cùng với những sai lầm trong cơ cấu tổ chức và trong cơ cấu đội ngũ cán bộ khiến cho các nỗ lực đổi mới hệ thống chính trị không đem lại kết quả thực tế, mặc dù tốn kém nhiều tiền của, công sức. Trong những việc đã làm có quá nhiều cái phô diễn, mang tính hình thức, giả dối. Trong đời sống thực tế, nhiều quyền dân chủ của dân tiếp tục bị vi phạm nghiêm trọng. Việc ứng cử, bầu cử các cơ quan quyền lực chưa bảo đảm dân chủ thực chất. Nhiều quyền công dân đã được Hiến pháp quy định nhưng vẫn chưa trở thành hiện thực trong cuộc sống, đặc biệt là quyền tự do ngôn luận, quyền được thông tin, quyền lập hội, quyền biểu tình…
    Có thể đánh giá tổng quát rằng đất nước ta đang đứng trước mâu thuẫn giữa một bên là khát vọng của dân tộc ta muốn sống trong một quốc gia “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”, cùng đi với trào lưu tiến bộ của cả nhân loại, và một bên là sự tha hóa và bất cập ngày càng trầm trọng của hệ thống chính trị. Mâu thuẫn nguy hiểm này đang ngày càng trở nên gay gắt do sự uy hiếp của Trung Quốc đối với nước ta và kích thích thêm khát vọng bành trướng của Trung Quốc.
    Vị trí địa lý nước ta không thể chuyển dịch đi nơi khác, nên toàn bộ thực tế hiện nay buộc dân tộc ta phải tạo được bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh của đất nước: Là nước láng giềng bên cạnh Trung Quốc đầy tham vọng đang trên đường trở thành siêu cường, Việt Nam phải bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, trở thành một đối tác được Trung Quốc tôn trọng, tạo ra một mối quan hệ song phương thật sự vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
    Mặt trận gìn giữ lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, biển đảo, vùng trời của nước ta trong Biển Đông đang rất nóng do các bước leo thang lấn chiếm ngày càng nghiêm trọng của Trung Quốc, thậm chí những cuộc tấn công quân sự trực tiếp đang được để ngỏ. Tuy nhiên, mặt trận nguy hiểm nhất đối với nước ta mà Trung Quốc muốn dồn quyền lực và ảnh hưởng để thực hiện, đó là: thâm nhập, lũng đoạn mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của nước ta. Đó là mặt trận vừa uy hiếp vừa dụ dỗ nước ta nhân danh cùng nhau gìn giữ ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, gây chia rẽ giữa nhân dân ta và chế độ chính trị của đất nước, vừa lũng đoạn nội bộ lãnh đạo nước ta, làm suy yếu khối đoàn kết thống nhất của dân tộc ta, làm giảm sút khả năng gìn giữ an ninh và quốc phòng của nước ta. Đánh thắng nước ta trên mặt trận nguy hiểm nhất này, Trung Quốc sẽ đánh thắng tất cả!

    Sự xuất hiện một Trung Quốc đang cố trở thành siêu cường với nhiều mưu đồ và hành động trái luật pháp quốc tế, bất chấp đạo lý, gây nhiều tác động xáo trộn thế giới, tạo ra một cục diện mới đối với nước ta trong quan hệ quốc tế: Hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, có lẽ ngoại trừ Trung Quốc, đều mong muốn có một Việt Nam độc lập tự chủ, giàu mạnh, phát triển, có khả năng góp phần xứng đáng vào gìn giữ hòa bình và ổn định trong khu vực, thúc đẩy những mối quan hệ hữu nghị, hợp tác vì sự bình yên và phồn vinh của tất các các nước hữu quan trong khu vực và trên thế giới. Có thể nói cục diện thế giới mới này là cơ hội lớn, mở ra cho đất nước ta khả năng chưa từng có trong công cuộc phát triển và bảo vệ Tổ quốc, qua đó giành được cho nước ta vị thế quốc tế xứng đáng trong thế giới văn minh ngày nay. Để vươn lên giành thời cơ, thoát hiểm họa, cả dân tộc ta, từ người lãnh đạo, cầm quyền đến người dân thường phải dấn thân cùng với cả nhân loại tiến bộ đấu tranh cho những giá trị đang là nền tảng cho một thế giới tiến bộ, đó là hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường
    III- Kiến nghị của chúng tôi
    Trước tình hình đó, chúng tôi khẩn thiết kiến nghị với Quốc hội và Bộ Chính trị:
    1. Công bố trước toàn thể nhân dân ta và nhân dân toàn thế giới thực trạng quan hệ Việt – Trung; nêu rõ những căn cứ phù hợp với luật pháp quốc tế, có sức thuyết phục về chủ quyền của Việt Nam đối với biển đảo ở vùng Biển Đông để làm sáng tỏ chính nghĩa của nước ta; khẳng định thiện chí trước sau như một của nước ta xây dựng, gìn giữ quan hệ hữu nghị, hợp tác láng giềng tốt với Trung Quốc, nhưng quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của mình. Nhân dịp này, Nhà nước ta cần chủ động giải thích trước toàn dân và dư luận thế giới bối cảnh ra đời, nội dung thực chất và giá trị pháp lý của công hàm mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1958 về Biển Đông, để bác bỏ dứt khoát mọi xuyên tạc từ phía Trung Quốc. Chúng ta luôn phân biệt những mưu đồ và hành động phi đạo lý và trái luật pháp quốc tế của một bộ phận giới lãnh đạo Trung quốc, khác với tình cảm và thái độ thân thiện của đông đảo nhân dân Trung quốc đối với nhân dân Việt Nam. Chúng ta sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước, đặc biệt coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước Đông Nam Á và các nước lớn, cùng với các nước có liên quan giải quyết hoà bình các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông.
    2. Trình bày rõ với toàn dân thực trạng đất nước hiện nay, thức tỉnh mọi người về những nguy cơ đang đe dọa vận mệnh của Tổ quốc, dấy lên sự đồng lòng và quyết tâm của toàn dân đem hết sức mạnh vật chất, tinh thần, trí tuệ để bảo vệ và phát triển đất nước. Cải cách sâu sắc, toàn diện về giáo dục và kinh tế ngày càng trở thành yêu cầu cấp thiết, là kế sâu rễ bền gốc để nâng cao dân trí, dân tâm, dân sinh làm cơ sở cho quá trình tự cường dân tộc và nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Muốn vậy, trước hết phải khắc phục tình trạng nền giáo dục và kinh tế của đất nước bị chi phối bởi ý thức hệ giáo điều. Cải cách chính trị, vì vậy, là tiền đề không thể thiếu cho những cải cách sâu rộng khác.
    3. Tìm mọi cách thực hiện đầy đủ các quyền tự do, dân chủ của nhân dân đã được Hiến pháp quy định, nhằm giải phóng và phát huy ý chí và năng lực của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tận dụng được cơ hội mới, đáp ứng được những đòi hỏi và thách thức mới của tình hình khu vực và thế giới hiện nay. Trong thực hiện những quyền tự do dân chủ của nhân dân đã ghi trong Hiến pháp, cần đặc biệt thực hiện nghiêm túc quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, quyền được tự do bày tỏ thái độ chính trị thông qua các cuộc biểu tình ôn hòa, quyền lập hội, quyền đòi hỏi công khai minh bạch trong mọi lĩnh vực của cuộc sống đất nước.
    4. Ra lời kêu gọi toàn thể quốc dân đồng bào, mọi người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, dân tộc, địa vị xã hội, hãy cùng nhau thực hiện hòa hợp, hòa giải, đoàn kết dân tộc với lòng yêu nước, tinh thần vị tha và khoan dung. Tất cả hãy cùng nhau khép lại quá khứ, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, để từ nay tất cả mọi người đều một lòng một dạ cùng nắm tay nhau đứng chung trên một trận tuyến vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cùng nhau dốc lòng đem hết trí tuệ, nghị lực sáng tạo và nhiệt tình yêu nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta.
    5. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam với tính cách là đảng cầm quyền duy nhất và cũng là người chịu trách nhiệm toàn diện về tình hình đất nước hiện nay, hãy đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, giương cao ngọn cờ dân tộc và dân chủ đẩy mạnh cuộc cải cách chính trị, giải phóng mọi tiềm năng của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy lùi mọi tệ nạn tham nhũng và tha hóa, đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng yếu kém và lệ thuộc hiện nay, chuyển sang thời kỳ phát triển bền vững, đưa dân tộc ta đồng hành với cả nhân loại tiến bộ vì hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường.
    Cuối cùng, chúng tôi thiết tha mong đồng bào sống trong nước và ở nước ngoài hưởng ứng và ký tên vào bản kiến nghị này. Bằng việc đó và bằng những hành động thiết thực, mọi người Việt Nam biểu thị ý chí sắt đá của dân tộc ta, quyết ngăn chặn, đẩy lùi mọi âm mưu và hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nước ta, xóa bỏ bất công, nghèo nàn, lạc hậu trong nước mình, xây dựng và gìn giữ non sông đất nước xứng đáng với truyền thống vẻ vang của dân tộc, không hổ thẹn với các thế hệ mai sau và với các dân tộc khác trên thế giới.
    Giành thời cơ, đưa Tổ quốc chúng ta thoát khỏi hiểm họa, phát triển bền vững trong hòa bình là trách nhiệm thiêng liêng của mọi người Việt Nam ta.
    Làm tại Hà Nội, ngày 10 tháng 7 năm 2011
    (Đã ký)
    Hồ Uy Liêm, Nguyễn Trọng Vĩnh, Trần Việt Phương, Hoàng Tụy, Trần Đức Nguyên, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Trung, Phạm Chi Lan, Chu Hão, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Đình Đầu, Linh mục Huỳnh Công Minh, Lê Hiểu Đằng, Tương Lai, Luật sư Trần Quốc Thuận, Vũ Thành Tữ Anh, Lê Mạnh Thát, Nguyên Ngọc, Nguyễn Hữu Châu Phan, Nguyễn Đính An và những người khác . Địa chỉ hộp thư tiếp nhận chữ ký của đồng bào cả nước và kiều bào ở nước ngoài:
    Email: kiennghi1007@gmail.com

  4. [“Chào buổi sáng Việt Nam” – nhan đề bài viết đăng trên tờ “The Asian Age” ngày 7/7 của GS Bharat Karnad – Trung tâm nghiên cứu chính sách (CPR) Ấn Độ. Ảnh: Bình minh trên đảo Lý Sơn] http://huyminh.wordpress.com/2011/07/12/chao-buoi-sang-viet-nam/

    Uy lực tinh thần của các quốc gia này đối với các quốc gia khác chỉ bằng chiến thắng trong chiến tranh. Coi thường khả năng Mỹ sử dụng đòn tấn công hạt nhân, Trung Quốc đã cho quân đội vượt sông Áp Lục trong tháng 10/1950 và hầu như đã đánh quỵ các lực lượng do Mỹ chỉ huy tại Triều Tiên, cho Ấn Độ “lấm mũi” trong chiến tranh năm 1972 và trong năm 1969 xung đột quân sự với Liên Xô tại khu vực sông Ussuri.
    Ở châu Á còn có Việt Nam, bé nhỏ hơn nhiều, song thực sự có sức mạnh quân sự với các kỷ lục không thể so sánh về các cuộc kháng chiến đánh bại những lực lượng xâm lược và can thiệp. Việt Nam đã khiến Trung Quốc phải chảy máu mỗi lần Trung Quốc phát động chiến tranh xâm lược xuống phía Nam trong 2.000 năm lịch sử. Trong lịch sử hiện đại, Việt Nam đã kết liễu tham vọng đế quốc của thực dân Pháp tại cuộc chiến Điện Biên Phủ, đánh đuổi Mỹ khỏi nước này, và năm 1979 thậm chí khi các sư đoàn chủ lực của Việt Nam còn chưa được sử dụng lực lượng dân quân, bộ đội địa phương và dân chúng các làng được vũ trang ở các tỉnh biên giới đã đương đầu hiệu quả với lực lượng xâm lược của Trung Quốc gồm hơn 100.000 người mà Đặng Tiểu Bình đã ra lệnh cho họ phải “dạy cho Việt Nam một bài học”, rất giống như Mao Trạch Đông đã phát động “ Cuộc phản công tự vệ” chống Ấn Độ năm 1962.
    Thế nhưng, chính Trung Quốc đã nhận được bài học khắc nghiệt về một cuộc kháng chiến du kích tự vệ và nếm mùi thất bại mà họ không thể nào quên. Đòn giáng trả mà Trung Quốc nhận được từ Việt Nam cách đây 32 năm Ấn Độ chỉ có thể thấy trong giấc mơ. Tương tự vậy, trong cuộc va chạm tháng trước ở Biển Đông về quần đảo Trường Sa có tranh chấp, sau khi tầu hải giám Trung Quốc cát cáp của một tầu thăm dò Việt Nam, Việt Nam đã phản ứng bằng những lời lẽ mạnh mẽ được hỗ trợ bằng một cuộc tập trận bắn đạn thật. Lo ngại tình hình có thể dẫn tới tình trạng bị mất mặt, Trung Quốc đã nhanh chóng yêu cầu đối thoại.
    Tuy nhiên, Việt Nam không phải là kẻ tham chiến hung hăng sẵn sàng thách đấu với kẻ hay bắt nạt một cách ngu ngốc. Trong khi chuẩn bị chiến đấu để bảo vệ lãnh thổ và lợi ích của mình, Việt Nam lưu tâm tới yếu điểm quân sự của nước này, một trong số đó là vùng sườn duyên hải đối diện với đảo Hải Nam, nơi Trung Quốc đã hoàn thiện việc xây dựng căn cứ tầu ngầm hạt nhân Tam Á cho hạm đội Nam Hải, hạm đội đa năng nhất trong 3 hạm đội của hải quân Trung Quốc. Trong cuộc xung đột năm 1979, Việt Nam phải đương đầu với cuộc tấn công có thể xảy ra từ phía hải quân Trung quốc, song Bắc Kinh bi răn đe bởi Liên Xô khi đó đang đối đầu với Trung Quốc đã phái 4 tầu chiến tới Biển Đông. Kể từ thời điểm đó, Việt Nam đã coi sự có mặt có ý nghĩa của một cường quốc hải quân thân thiện ở ngoài khơi như một sự bảo đảm ngăn chặn mối đe doạ từ hải quân Trung Quốc. Nước Nga ngày nay đã bị suy yếu nhiều nên không đủ khả năng đóng một vai trò như vậy và nước Mỹ thì không đáng tin cậy. Các hy vọng của Hà Nội, bởi vậy được đặt lên Chính phủ Ấn Độ đang tập trung ý chí chiến lược để lấp khoảng trống đó. Một đoàn đại biểu Hải quân Việt Nam do Phó Đô đốc Nguyễn Văn Hiến thăm Ấn Độ cách đây hai tuần thăm dò các biện pháp phát triển sự tin cậy và tin tưởng lẫn nhau giữa hai bên. Khởi đầu, họ tìm kiếm khả năng Ấn Độ huấn luyện cho các thuỷ thủ đoàn đã được Nga huấn luyện trước đây, ( song rõ ràng đã không làm hải quân Việt Nam hài lòng) trong việc vận hành tầu ngầm lớp Kilo Việt Nam mua từ Nga. Trung Quốc chắc chắn sẽ tăng cường phản ứng, lực lượng tầu ngầm mạnh của Việt Nam sẽ là đối trọng có ý nghĩa đối với các tầu chiến Trung Quốc đang biểu dương lực lượng một cách gai mắt ở xung quanh quần đảo Trường Sa.
    Điều có ý nghĩa hơn là Phó Đô đốc Nguyễn Văn Hiến đã đề xuất cho hải quân Ấn Độ sử dụng cảng Nha Trang. Nha Trang ở cùng kinh tuyến với căn cứ Tam Á ở đảo Hải Nam, song ở vĩ tuyến khác, cách vài vĩ độ về phía Nam. Một hải đội Ấn Độ hoạt động thường xuyên giữa quần đảo Adaman và Nha Trang, và có được căn cứ và các thoả thuận hậu cần ở vùng duyên hải miền Trung Việt Nam, sẽ làm tăng sự có mặt gần như liên tục của Ấn Độ tại Biển Đông, báo hiệu ý định và vị thế tương lại của Niu Đêli, điều có thể gây bối rối cho hải quân và các tính toán chiến lược của Trung Quốc và đẩy các nhà hoạch định chính sách ở Bắc Kinh nhất thời phải lùi bước. Ít nhất, nó cũng sẽ có tác động tương tương như sự có mặt với quy mô đáng kể của cảnh sát vũ trang Trung Quốc tại khu vực Gilgit và Baltistan thuộc vùng Kashmir do Pakixtan chiếm đóng. Và nó sẽ trầm trọng thêm tình hình ở Biển Đông vốn đang bị khuấy động bởi hạm đội Mỹ lảng vảng ở khu vực có tranh chấp chủ quyền liên quan Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Malaixia và Brunây.
    Tuy nhiên, thói thường vẫn có sự lệch hướng. Ngay cả khi Thủ tướng Manmohan Singh và cố vấn an ninh quốc gia Shiv Shankar Menon được cho là ủng hộ sự có mặt của Ấn Độ tại vùng biển Việt Nam và muốn Ấn Độ trở thành một đối tác chiến lược tin cậy của Việt Nam, cho đến nay Bí thư (Thứ trưởng) Quốc phòng Pradeep Kumar vẫn “hãm phanh” tiến trình này. Kích động tính qúa thận trọng bẩm sinh của Bộ trưởng Quốc phòng A.K Antony, ông Kumar cho rằng lập trường như vậy sẽ “chọc giận” Trung Quốc một cách không cần thiết và nên tránh điều đó. Đặc điểm khác thường trong chính quyền Ấn Độ là bất chấp ý kiến của Thủ tướng và Cố vấn an ninh quốc gia, giới công chức trong Bộ Quốc phòng vẫn có thể dễ dàng ngăn cản kế hoạch hành động như vậy. Hy vọng rằng, ông Kumar sẽ được thay thế bởi nhân vật nào đó để thúc “quả bóng chuyển động ”.
    Ăn miếng trả miếng là thứ Bắc Kinh đánh giá cao hơn là cách nói ân hận không làm gì cả trong các tuyên bố thường có từ Bộ Ngoại giao và các quan chức dân sự trong Bộ Quốc phòng Ấn Độ về Trung Quốc. Lẽ ra Chính phủ Ấn Độ phải phản ứng trước việc Trung Quốc trang bị tên lửa hạt nhân cho Pakixtan băng cách cung cấp cho Việt Nam tên lửa mang đầu đạn hạt nhân và tên lửa hành trình siêu thanh BrahMos như tôi từng đề xuất cách đây 15 năm. Việc Chính phủ Ấn Độ đã không làm như vậy, và trên thực tế không dành ưu tiên cao để tăng cường sức mạnh quân sự của Việt Nam bằng mọi cách có thể, là dấu hiệu về sự nhu nhược trong tư duy chiến lược của Ấn Độ. Trong khi đó, Trung Quốc đã sử dụng Pakixtan để kiềm chế và ngăn chặn Ấn Độ ở tiểu lục địa này. Đã tới lúc Ấn Độ cần đáp lại và hợp tác với Việt Nam, nước không lùi bước trước mỗi cuộc chiến, để kiềm chế Bắc Kinh ở các vùng biển gần Trung Quốc. Cùng với các biện pháp khác, hành động trên cơ sở coi Việt Nam là một bộ phận cấu thành tuyến phòng thủ đầu tiên của Ấn Độ sẽ khiến lực lượng chủ yếu của hải quân Trung Quốc bị giam chân tại khu vực phía Đông eo biển Malắcca.

  5. Có sự ám muội nào không?

    Nguyễn Quang Lập
    http://quechoa.info/2011/07/18/co-s%E1%BB%B1-am-mu%E1%BB%99i-nao-khong/

    Đọc xong bài Chúng tôi lại đi biểu tình của bác Nguyễn Huệ Chi, từ sáng đến giờ không viết được chữ nào. Nghĩ ngợi rất lung nhưng không viết được chữ nào. Cứ nghĩ đến câu chuyện biểu tỉnh ngày hôm qua là một nỗi đắng cay ê chề lại tràn ngập, và xấu hổ, quá xấu hổ. Mình ngồi trước máy tính, đọc đi đọc lại hàng trăm lần bài viết của bác Nguyên Ngọc, đọc đến thuộc lòng. Đọc xong lại ngồi im, lại đọc, lại ngồi im như chết.

    Bác Nguyên Ngọc viết nguyên văn như thế này: “Tôi đang ở xa, rất tiếc không thể có mặt hôm nay ở Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh để tham gia biểu tình chống Trung Quốc cùng các bạn tôi và đồng bào. Nhưng tôi vẫn theo rõi sát tình hình và biết cuộc biểu tình sáng nay ở cả hai nơi đều bị đàn áp nặng nề. Tôi xin đặt câu hỏi: Giữa việc Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn đi gặp phía Trung Quốc, thỏa thuận bí mật những gì để đi đến chỗ phía Trung Quốc đưa ra bản “Thông tin báo chí chung” rất xấu và Bộ Ngoại giao Việt Nam sau đó hoàn toàn im hơi lặng tiếng cho đến nay; việc Bộ Ngoại giao tìm mọi các tránh gặp và trả lời 18 nhân sĩ, trí thức kiến nghị yêu cầu Bộ cung cấp thông tin minh bạch về cuộc gặp Việt Nam-Trung Quốc và Thông tin báo chí chung nói trên; với hành động đàn áp, bắt bớ, giải tán những người biểu tình yêu nước chống Trung Quốc hôm nay có phải là một chuỗi tất yếu không? Có phải thỏa thuận bí mật của ông Hồ Xuân Sơn trong chuyến đi Trung Quốc vừa rồi (bí mật vì đến nay vẫn không hề được công khai giải thích mặc dầu được ráo riết yêu cầu) là nguyên nhân trực tiếp đưa đến đàn áp biểu tình yêu nước của nhân dân hôm nay không? Có sự ám muội được che dấu nào ở đây?

    Tôi nghĩ mọi người dân Việt Nam đều có quyền nghi ngờ chính đáng và đặt những câu hỏi đó, vì đây là chuyện liên quan đến vận mệnh đất nước.”

    Bác Nguyên Ngọc ạ,

    Có thể không có sự ám muội nào cả nhưng cách họ làm khiến dân thêm tin rằng chắc chắn có sự ám muội.

    Có thể họ thừa hiểu muốn bảo vệ chủ quyền cần phải nuôi dưỡng lòng yêu nước nhưng cách họ làm đã đang và sẽ dập tắt lòng yêu nước.

    Có thể vì lo lắng những cuộc biểu tình bị lợi dụng sẽ làm hỏng chế độ nhưng chính cách họ làm lại làm hỏng chế độ nhanh hơn.

    Không biết nói gì hơn.

  6. The Diplomat July 18, 2011
    Why China Wants South China Sea
    Vì sao Trung Quốc muốn Biển Đông

    Tetsuo Kotani

    Với biển Đông, Bắc Kinh không chỉ quan tâm đến nguồn năng lượng và nguồn lợi thủy sản, khu vực này còn là bộ phận không thể tách rời khỏi chiến lược tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc.

    Trong nỗ lực nhấn mạnh tầm quan trọng của biển Đông đối với châu Á, nhà địa-chiến lược Nicholas Spykman đã có lần mô tả vùng biển này như là “Địa Trung Hải của Châu Á”. Thời gian gần đây, biển Đông còn được gán cái tên “biển Caribe Trung Hoa”. Và như Ý và Mỹ tranh nhau quyền kiểm soát biển Địa Trung Hải và Caribe, Trung Quốc hiện đang theo đuổi quyền thống trị biển Đông.

    Rõ ràng, các yêu sách và khẳng định chủ quyền gần đây của Trung Quốc đã làm gia tăng căng thẳng trên vùng biển trọng yếu này. Cho đến nay, khi hầu hết dư luận tập trung vào sự thèm khát của Bắc Kinh đối với nguồn năng lượng và thủy sản dồi dào tại biển Đông, thì từ góc nhìn của một thủy thủ tàu ngầm, với tính chất là vùng biển tương đối kín, biển Đông là bộ phận cấu thành không thể thiếu đối với chiến lược hạt nhân của Trung Quốc. Nếu không hiểu rõ khía cạnh hạt nhân trong tranh chấp biển Đông, thì vấn đề mở rộng hàng hải của Trung Quốc có ý nghĩa không đáng kể.

    Sở hữu vũ khí hạt nhân đánh chặn đáng tin cậy trên biển là một ưu tiên trong chiến lược quân sự Trung Quốc. Tàu ngầm loại 092 lớp Hạ, là tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo, được trang bị tên lửa đạn đạo tầm ngắn JL-1 phóng từ tàu ngầm (SLBM), chưa bao giờ tiến hành một cuộc tuần tra ngăn chặn nào từ biển Bột Hải kể từ khi loại tàu ngầm này ra mắt vào những năm 80. Tuy nhiên, Trung Quốc bước đầu trang bị được khả năng phản công hạt nhân đáng tin cậy với việc trình làng tên lửa đạn đạo JL-2 (có tầm bắn dự kiến lên đến 8.000 km ), phối hợp với các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa DF-31 và DF-31A bắn từ hệ thống phóng di động mặt đất. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng có kế hoạch xuất xưởng đến 5 chiếc tàu ngầm loại 094 lớp Tấn, là loại tàu ngầm hạt nhân trang bị tên lửa đạn đạo JL-2, trong lúc đang tiến hành xây dựng căn cứ tàu ngầm bí mật tại đảo Hải Nam trên biển Đông.

    Có thể thấy rõ, Trung Quốc đang dồn mọi nỗ lực không để biển Đông ảnh hưởng đến các đường biên giới của họ, như Liên Xô đã từng làm trên biển Okhotsk trong Chiến tranh lạnh. Khi đó, Liên Xô sử dụng các tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo nhằm đảm bảo ngăn chặn khả năng Mỹ có thể tiêu diệt các tên lửa liên lục địa bố trí trên mặt đất. Với nhu cầu cần đảm bảo lực lượng phòng thủ trước các cuộc tấn công, nhu cầu chỉ huy và kiểm soát hiệu quả, các tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo của Liên Xô phải được triển khai gần lãnh thổ quốc gia, với các tên lửa tầm xa để tấn công các mục tiêu trên phần lục địa của Mỹ. Ngoài biển Barents, Moscow ưu tiên làm cho biển Okhotsk thành nơi ẩn náu an toàn cho các tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo, bằng cách nâng cấp hệ thống phòng thủ trên quần đảo Kuril, tăng cường quân số Hạm đội Thái Bình Dương trú đóng tại Vladivostok. Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô từng triển khai 100 tàu ngầm, kết hợp với 140 tàu chiến mặt nước, gồm một tàu sân bay hạng nhẹ lớp Kiev để yểm trợ lực lượng phòng thủ tại biển Okhotsk.

    Tương tự, Trung Quốc cũng muốn đảm bảo các lực lượng của họ hiện hiện trên biển Đông cũng như điều chỉnh học thuyết và chiến lược biển cho phù hợp. Hiện nay, sứ mệnh tác chiến hàng đầu của lực lượng Hải quân thuộc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc là: 1) Đảm bảo các tuyến đường biển tiếp cận Đài Loan; 2) tiến hành các hoạt động trên vùng biển Tây Thái Bình Dương nhằm ngăn chặn không cho các lực lượng đối phương có thể tự do hành động; 3) bảo vệ các tuyến liên lạc viễn thông của Trung Quốc trên biển; và 4) ngăn chặn, phá hoại các tuyến thông tin liên lạc của đối phương. Với việc ra đời tàu ngầm loại 094, hải quân Trung Quốc phải gánh thêm nhiệm vụ hàng đầu nữa là bảo vệ các tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo của họ, nhiệm vụ này đòi hỏi Trung Quốc phải tiêu diệt lực lượng chống tàu ngầm chiến lược của đối phương, chấm dứt sự kháng cự của các quốc gia có đòi hỏi chủ quyền trong khu vực biển Đông. Năng lực chống tiếp cận/ngăn chặn xâm nhập của Trung Quốc, đặc biệt các tàu ngầm hạt nhân tấn công ít tiếng ồn hơn, có thể được sử dụng để đối phó với các hoạt động tác chiến chống tàu ngầm của đối phương. Các tàu sân bay của Trung Quốc, một khi đi vào hoạt động, sẽ được triển khai trên biển Đông nhằm dập tắt tiếng nói của các nước láng giềng có yêu sách chủ quyền lãnh hải.

    Chiến lược này có cách đây gần hai thập niên, khi Trung Quốc bắt đầu bao vây biển Đông để lấp đầy khoảng trống quyền lực tạo ra bởi sự kiện các lực lượng Mỹ rút khỏi Philippines vào năm 1991. Trung Quốc tái khẳng định đòi hỏi chủ quyền “mang tính lịch sử” đối với toàn bộ các đảo, bao gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chiếm 80% của 3,5 triệu km2 diện tích biển Đông theo đường chữ U chín đoạn, cho dù Trung Quốc không có cơ sở pháp lý quốc tế để yêu sách như vậy. Những hòn đảo nói trên có thể dùng làm các căn cứ kiểm soát hải phận và không phận, phục vụ các hoạt động giám sát, do thám, tình báo, và là các cứ điểm để đòi hỏi chủ quyền sâu rộng hơn trên biển Đông, tạo điều kiện mở rộng tầm hoạt động của các tàu chiến, tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo của hải quân Trung Quốc. Phía Trung Quốc cũng diễn giải Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) một cách tùy tiện, và không chấp nhận các hoạt động quân sự của các tàu nước ngoài, các chuyến bay trên vùng biển Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền.

    Tuy nhiên, cố gắng của Trung Quốc nhằm thống trị biển Đông gặp phải các thách thức đáng kể. Đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc không chỉ làm bùng lên làn sóng phản đối từ các nước có yêu sách chủ quyền biển Đông, mà còn làm dấy lên mối quan ngại từ các quốc gia biển như Mỹ, Nhật, Úc và Ấn Độ. Sau hết, biển Đông được xem là tuyến hàng hải quốc tế, không giống biển Okhotsk. Thêm vào đó, vì tầm bắn của tên lửa JL-2 từ biển Đông không thể chạm đến Los Angeles, nên các tàu ngầm loại 094 cần tiến vào biển Philippine, nơi Hải quân Mỹ và Lực lượng phòng vệ biển Nhật bản tiến hành nhiều hoạt động tác chiến chống tàu ngầm.

    Để giảm căng thẳng với các nước láng giềng có yêu sách chủ quyền ở biển Đông, Trung Quốc đã tiến hành các cuộc đối thoại và tham vấn với các quốc gia này từ những năm 90. Kết quả là Tuyên bố ứng xử các bên ở biển Đông năm 2002 ra đời, kêu gọi các giải pháp hòa bình thông qua đối thoại. Nhưng Trung Quốc tỏ thái độ miễn cưỡng trong việc ký kết Quy tắc ứng xử biển Đông mang tính ràng buộc. Phản ứng với các đòi hỏi gần đây của Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đã tiến hành các cuộc tập trận bắn đạn thật trong vùng biển tranh chấp, tăng cường quan hệ với Mỹ, cả hai đều xem sự hiện diện của Mỹ ở biển Đông như là lực lượng ngăn chặn đáng chú ý nhất.

    Về phần mình, Mỹ đã có sự chống đối rõ ràng với với yêu sách của Trung Quốc tại các diễn đàn khác nhau trong khu vực, qua sự nhấn mạnh lợi ích của Mỹ trong vấn đề tự do hàng hải. Gần đây, Mỹ tuyên bố triển khai các tàu chiến ven biển ở Singapore, với hy vọng sự hiện diện của Mỹ sẽ gia tăng hiệu quả ngăn chặn đối với yêu sách của Trung Quốc – như Anh quốc từng điều động thiết giáp hạm HMS Prince of Wales và tuần dương hạm HMS Repulse tại vùng biển mệnh danh “Gibraltar phía Đông” để đánh chặn hải quân Đế quốc Nhật bản. Mặt khác, các đòi hỏi chủ quyền quá đáng của Trung Quốc đã dẫn đến các sự cố va chạm với Mỹ, như vụ va chạm máy bay do thám EP-3 năm 2001 và vụ va chạm tàu thăm dò USS Impeccable năm 2009, Mỹ đang theo đuổi một hiệp định giải quyết các sự cố trên biển với Trung Quốc. Tuy vậy, Trung Quốc không hề quan tâm, bởi một hiệp định như vậy sẽ bào chữa cho việc Mỹ tiếp tục hiện diện ở biển Đông.

    Ấn Độ là một tay chơi quan trọng nữa trong khu vực biển Đông. Theo mong đợi, Delhi sẽ sớm ra mắt tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo đầu tiên của mình mang tên Arihant, và có kế hoạch đóng thêm hai tàu ngầm nữa được trang bị tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm K-4 có tầm bắn xa hơn. Nhưng cho đến khi Ấn Độ thành công trong việc triển khai những tên lửa SLBM tầm xa, tàu ngầm Ấn Độ vẫn cần hoạt động ở biển Đông để đối phó với Bắc Kinh.

    Úc cũng quan ngại những căng thẳng gia tăng trong khu vực. Sự ổn định ở Đông Nam Á trong chính sách “tiếp cận về phía Bắc” của Úc được các nhà làm chính sách xem là đặc biệt quan trọng, khi một quốc gia thù địch có khả năng thể hiện sức mạnh với Úc, hoặc đe dọa các tuyến hàng hải thương mại và cung cấp năng lượng của Úc. Vì vậy, Úc được kỳ vọng sẽ tăng cường hiện diện quân sự ở vùng phía Bắc trong khi cho phép quân đội Mỹ được quyền tiếp cận các căn cứ Úc nhiều hơn.

    Trong lúc đó, về phía Nhật cũng có lợi ích chiến lược ở biển Đông, là tuyến đường biển then chốt khi 90% lượng dầu nhập khẩu của Nhật phải đi qua đây. Cán cân sức mạnh ở biển Đông tác động rất lớn đến vấn đề an ninh ở các vùng biển xung quanh Nhật, có tên gọi là biển Hoa Đông và biển Philippine. Ngoài ra, nếu Trung Quốc thành công trong việc giành được khả năng giáng trả trên biển bằng cách khống chế biển Đông, thì điều này sẽ làm xói mòn niềm tin vào sự ngăn chặn mở rộng của Mỹ.

    Nhật đã công bố Đường lối Chương trình Quốc phòng mới vào tháng 12/2010, kêu gọi nâng cao hoạt động của hệ thống vũ khí thu thập tin tức, giám sát và trinh sát (ISR) dọc theo chuỗi đảo Lưu Cầu và tăng cường hạm đội tàu ngầm. Trong cuộc họp Nhật-Mỹ 2+2 gần đây, Tokyo và Washington đã bàn về việc duy trì an ninh biển, củng cố quan hệ với ASEAN, Úc và Ấn Độ trong các mục tiêu chiến lược chung.

    Tất cả điều này cho thấy Trung Quốc gặp phải tình thế tiến thoái lưỡng nan trong vùng biển “Okhotsk Trung Hoa”. Càng mong muốn thống trị biển Đông, Trung Quốc càng vấp phải nhiều chống đối. Để tránh tình trạng trở nên xấu hơn, Trung Quốc nên điều chỉnh lại đường yêu sách 9 đoạn cho phù hợp với UNCLOS (và Mỹ nên tham gia UNCLOS ngay lập tức). Chừng nào Trung Quốc vẫn còn tiếp tục thái độ đòi hỏi chủ quyền vô lý, các quốc gia láng giềng ven biển sẽ tăng cường hợp tác chiến lược với Mỹ, Ấn Độ, Úc và Nhật nhằm thiết lập mạng lưới tác chiến chống tàu ngầm trong khu vực.

    Nhưng trách nhiệm không chỉ về phía Trung Quốc – các nước khác trong khu vực nên hợp tác với nhau. Ở những nơi có thể, việc hợp tác cùng phát triển tại các vùng biển tranh chấp nên được theo đuổi. Một lĩnh vực khác mà các quốc gia có thể cùng làm việc với nhau, đó là hợp tác đối phó mối đe dọa đang tăng lên của nạn cướp biển trên biển Đông. Trong khi ấy, các nước trong khu vực nên tiếp tục cuộc đối thoại với Trung Quốc về chủ đề an ninh biển ở những nơi như Diễn đàn Khu vực ASEAN và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.

    Điều này sẽ không dễ dàng, nhưng thảo luận thấu đáo để đạt được một bộ quy tắc ứng xử biển Đông sẽ tạo cơ hội tuyệt vời nhằm tránh xung đột vũ trang.

    Tetsui Kotani là Cộng Tác Viên Nghiên Cứu Đặc Biệt của Viện Okazaki, Tokyo

    Nguồn: http://the-diplomat.com/2011/07/18/why-china-wants-the-south-china-sea/
    http://www.viet-studies.info/kinhte/ViSaoTQMuonBienDong_Diplomat.htm

  7. Trung Quốc muốn gì?
    (phỏng dịch bài “What does China Want?”
    Wilson Quarterly, Mùa thu 2005)
    http://www.viet-studies.info/kinhte/TrungQuocMuonGi_RossTerrill.htm

    Ross Terrill
    Đại học Harvard, Mỹ

    Khi Trung Quốc lần đầu tiên làm Mỹ tò mò vào cuối thế kỷ 18, chúng ta muốn trà và lụa của họ. Các nhà truyền giáo Mỹ và các thương nhân đến Quảng Châu và các cảng khác chẳng bận tâm nghĩ xem Trung Quốc có thể muốn gì ở chúng ta – chỉ là phúc âm Kitô giáo, đồ tiêu dùng lặt vặt và thuốc lá, dường như họ cho là như vậy. Trong nhiều năm kể từ khi ấy đến nay, người Mỹ ít có dịp để cân nhắc lại câu hỏi này. Khuôn mẫu lịch sử là nước Mỹ ảnh hưởng đến Trung Quốc, và động lực không ngang bằng đó đạt đến cao điểm trong liên minh với chính phủ Quốc Dân Đảng khập khễnh của Tưởng Giới Thạch chống các cường quốc phát xít trong Thế Chiến thứ II. Trong những năm 1940, người ta nghĩ rằng ước vọng Trung Quốc chỉ đơn giản là hồi phục từ ách chiếm đóng của Nhật, nghèo đói, mất đoàn kết, và tham nhũng.

    Khi “Trung Quốc của chúng ta” (chính quyền Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch) bị tan thành khói vào cuối thập niên 1940, và những người Cộng Sản chiếm lấy Bắc Kinh, thì Trung Quốc trở thành một Kẻ Khác. Trong những năm gay gắt sau chiến thắng của Mao Trạch Đông vào năm 1949, Trung Quốc đã vượt ra ngoài vùng ảnh hưởng của chúng ta. Nhưng chúng ta vẫn biết Trung Quốc muốn gì: Mao đã cảnh báo rằng ông sẽ “nghiêng về một phía,” và ngay sau đó ông ta tuyên bố, “Liên Xô hôm nay là ngày mai của Trung Quốc.” Chúng ta là “bọn đế quốc”, và Mao chống lại chúng ta.

    Sau khi Moscow và Bắc Kinh xích mích vào đầu những năm 1960 và chiến tranh Việt Nam leo thang sau đó trong cùng thập kỷ, thì những mong muốn của Trung Quốc trở nên phức tạp hơn. Trong cái gọi là Cách mạng Văn hóa của những năm 1960, những lĩnh vực Mao Trạch Đông quan tâm có vẻ phi lý đối với Mỹ, cũng như đối với Moscow và hầu hết các nước trên thế giới. Tuy nhiên, vào năm 1971 Bắc Kinh cho Tổng thống Richard Nixon thấy là họ muốn nghiêng về phía Mỹ để giúp một nước Mỹ mà họ cho là yếu đi đối trọng với sự nổi lên của Liên Xô.

    Ngày nay, một lần nữa, các mục tiêu của Trung Quốc trở nên khó nhận ra, nhưng sự hiểu biết các mục tiêu này lại bức xúc hơn bao giờ hết. Sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991 và sự lan tràn của dân chủ trên khắp thế giới, Trung Quốc là một hiện tượng khó hiểu: thành công kinh tế dưới một chế độ cộng sản. Thế giới biết rõ Hoa Kỳ bênh vực cái gì: đó là thị trường tự do và dân chủ ở bất cứ nơi nào có thể. Và cũng biết Osama bin Laden muốn cái gì: đó là sự khôi phục thần quyền của các giáo chủ đạo Hồi. Mục tiêu của Trung Quốc thì không rõ ràng như thế. Người Trung Quốc nghĩ đến tiền, trong thời hậu Mao, hậu Liên Xô, muốn gì? Câu hỏi này làm nhiều người Mỹ thắc mắc ̶ và âu lo.

    Mặc dù ảnh hưởng của Trung Quốc đã lên cao trong những năm qua, Bắc Kinh vẫn còn xu hướng cư xử theo kiểu phản ứng, thay vì theo đuổi những mục tiêu rõ rệt, ngoài biên giới của họ. (Nhấn mạnh của người dịch: Bài này được xuất nản năm 2005.) Điều này làm một số người an lòng, họ cho rằng Trung Quốc là một cường quốc thận trọng, thậm chí bảo thủ. Và, trong mức độ nào đó, quốc gia ấy quả là vậy. Song đấy không phải là trọn câu chuyện. Thật ra, Bắc Kinh chỉ cư xử kiểu phòng thủ trong ba khía cạnh cơ bản: Một là, họ tự thấy mình như đang hồi phục từ tình trạng lạc hậu kinh tế; hai là, họ đối phó, trong sự nản lòng thầm lặng, với sự yếu đuối của họ so với sức mạnh của Mỹ, và ba là, họ tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế chỉ với mục đích hạn hẹp là để ngăn ngừa chương trình nghị sự của các tổ chức này gây phiền toái cho Trung Quốc. Cách hành xử phòng thủ này có thể cho ấn tượng rằng Bắc Kinh có sự lưỡng lự: liệu nên tìm cách trở về vị trí đứng đầu châu Á như thời đế quốc trước đây, thuở “Vương quốc Trung tâm”, hoặc nên tham gia cái mà những người không phải Trung Quốc gọi là “cộng đồng quốc tế.” Tất nhiên, có thể chỉ đơn giản là Trung Quốc đang chơi trò chờ thời, che giấu những ý đồ mà hiện nay dường như quá khó thực hiện.

    Không giống như Mỹ hay tuyên bố ầm ĩ các mục tiêu của họ, Trung Quốc có vẻ muốn giữ các ý định của họ trong bọc kín. Nếu bạn đọc các bài phát biểu của chủ tịch Hồ Cẩm Đào, cũng là lãnh đạo Đảng Cộng sản và là người đứng đầu quân đội, hoặc những phát biểu của người tiền nhiệm của ông là Giang Trạch Dân, thì “hòa bình và phát triển” dường như là mục tiêu của chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Cụm từ này đưa thông tin nhưng cũng đánh lạc hướng. Hòa bình và phát triển là phương tiện chứ không phải là cứu cánh cho chính sách đối ngoại của Bắc Kinh. Nói rằng chúng là mục tiêu của Trung Quốc thì cũng như nói rằng mục tiêu ngày mai của Hồ Cẩm Đào là sẽ mặc quần và đánh răng.

    Trong thế giới ngày nay, Trung Quốc là khác thường vì họ vừa một phần là đế chế và một phần là quốc gia hiện đại. Một nhà nước đảng trị theo chủ nghĩa Mác-Lênin hiện đại hóa đã được thiết lập trên một truyền thống cai trị thành công rất lâu đời và tinh thần đế quốc nằm trong truyền thống ấy. Đặc tính này kéo dài đế chế chuyên quyền vào một kỷ nguyên mà các đế chế thường là đa quốc gia. Đáng kinh ngạc là Cộng sản Trung Quốc thừa kế biên giới của đế chế nhà Thanh vào thời điểm cực đại, bao gồm Tây Tạng, nam Mông Cổ, và tây Hồi có thời từng là Đông Turkestan. Song, một Trung Quốc hiện đại hóa đang bị giằng co: Nên tiếp tục đế chế vì vinh quang của Trung Quốc? Hay là theo một nền chính trị hậu đế quốc tự nhiên nảy sinh từ xã hội và nền kinh tế mới như hình ảnh của Thượng Hải, Quảng Châu, và Bắc Kinh hiện nay?

    Lực thúc đẩy chuyển hóa Vương quốc Trung tâm ngày xưa thành một bá quyền không dựa trên đạo lý Nho giáo nhưng trên quyền lực kinh tế, là vẫn còn, nhưng gặp hai lực phản. Một là, đến một lúc nào đó, sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước về kinh tế và văn hóa trên thế giới sẽ đụng đến tác phong gia trưởng chính trị. Hai là, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, và các cường quốc khác có thể sẽ không cho phép có một tân-Vương quốc Trung tâm như thế.

    Vì Trung Quốc là một nhà nước độc tài, ta không thể biết người dân Trung Quốc muốn gì. Ta lại càng khó định hướng tương lai nền văn minh Trung Quốc, chẳng hạn khó thể nói rằng nó sẽ “đụng độ” với đạo Hồi hoặc với nền văn minh phương Tây hay không. Chúng ta có thể trả lời câu hỏi về các mục tiêu của Trung Quốc chỉ dựa theo các hành động của nhà nước độc đảng Bắc Kinh hiện nay. Chín ông “kỹ sư” làm nên Uỷ ban thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đang tìm kiếm điều gì cho Trung Quốc? Chúng ta có thể nhận ra sáu mục tiêu trong hành động của họ.

    Trung Quốc theo đuổi một chính sách đối ngoại nhằm tối đa hóa sự ổn định trong nước. Điều này cũng đúng với nhiều quốc gia khác, nhưng với Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc (CHNDTQ) thì sâu đậm hơn. Bắc Kinh hậu-1949 ít khi xem việc kiểm soát nhân dân của họ là việc dễ dàng, cũng như việc này đã không đuợc coi là dễ dàng bởi các nhà cầm quyền Trung Quốc qua 150 năm bị nước ngoài chèn ép và những khó khăn trong nước đánh dấu sự suy tàn của triều đại nhà Thanh. Từ buổi đầu của CHNDTQ cho đến nay, Bắc Kinh luôn cảnh giác việc bị mất khả năng kiểm soát các vùng xa xôi.

    Ba tỉnh lớn nhất của Trung Quốc, Tân Cương, Tây Tạng và Nội Mông về mặt lịch sử không phải lãnh thổ Trung Quốc, và người dân địa phương ở đó khác biệt về tôn giáo, ngôn ngữ, văn hóa, và cách sống điển hình so với người Hán. Đối phó với các nhóm dân thiểu số có thể thích độc lập hơn là thích bị Trung Quốc thống trị đã khiến Bắc Kinh phải dùng đến các biện pháp nửa thực dân. Ở Tây Tạng, giáo dục đại học chỉ dành cho các những ai nói tiếng Hoa, cả vùng phía tây rộng lớn của Trung Quốc đều theo giờ Bắc Kinh, và dân số Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ (Uyghur) ở Tân Cương đã được cố ý làm loãng ra bằng biện pháp nhập cư nội bộ của Trung Quốc, đó chỉ là vài ví dụ. Ngoài ra, luận điệu của ĐCSTQ như là nguồn mạch của sự thật cũng như của quyền lực tạo ra nhiều khu vực cấm tinh thần phải được theo dõi sát. Bất kỳ khác biệt nào về triết lý cũng bị xem, có hoặc không có biện minh, như là một mối đe dọa chính trị đối với ĐCSTQ. Chế độ này tin bạn với tiền của bạn chứ không tin bạn với đầu óc của bạn.

    Năm 1998, trong một chuyến thăm Nhật Bản, Giang Trạch Dân đã đọc 20 bài diễn văn gây sửng sốt về Thế Chiến thứ II. Trưởng thư ký nội các Nhật Bản cuối cùng đã nản lòng mà nói rằng “chẳng phải những lỗi lầm ấy đều đã ở sau lưng chúng ta rồi sao?”. Nhưng tội lỗi của Nhật Bản trong quá khứ sẽ không bao giờ “ở đàng sau chúng ta” cả, khi nào mà nhà nước đế quốc ở Bắc Kinh còn cảm thấy nhu cầu chứng tỏ sự chính đáng của họ với người dân Trung Quốc bằng cách hét to “bọn quân phiệt Nhật!”. Những bất an kiểu này định hình chính sách ngọai giao của Trung Quốc. Vì vậy, những giao dịch với Nam Á là nhằm mục đích làm suy yếu mối liên kết giữa Tây Tạng và chính phủ Tây Tạng lưu vong ở Ấn Độ — tương tự, nhiều giao dịch với Trung Á là nhằm làm giảm hy vọng ly khai của người Duy Ngô Nhĩ (Uyghur) ở Tân Cương. Cũng chính mục tiêu kiểm sóat trong nước đã chi phối chính sách của Trung Quốc đối với Mông Cổ, Hàn Quốc, Thái Lan và các nước láng giềng khác. Tóm lại, CHNDTQ là một bán đế chế đa dạng, với nhiều cư dân có các liên hệ chủng tộc, tôn giáo, hoặc lịch sử với các dân tộc nằm ngay bên kia biên giới của Trung Quốc. Và CHNDTQ là một chế độ chuyên chế mà, dường như để đối phó với những ác mộng mà họ gây cho họ, cư xử giống như những người cai trị sợ hãi người dân của chính họ.

    Như thế, mục tiêu đầu tiên của Trung Quốc là sự ổn định nội bộ.

    Mục tiêu thứ hai của chính sách ngọai giao của Bắc Kinh là duy trì tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc. Khi chủ nghĩa Mác phai nhạt dần và không có triết lý công cộng chính thức nào thay thế nó thì một mức sống được nâng cao và niềm tự hào quốc gia đã chính đáng hóa một chế độ không bao giờ phải đối mặt với bầu cử. Những thành tựu kinh tế trong phần tư thế kỷ kể từ khi Đặng Tiểu Bình cầm quyền lãnh đạo trong thời kỳ hậu-Mao chắc chắn là đáng được giữ gìn. Nền kinh tế đã tăng gấp bốn lần về kích cỡ, và tốc độ tăng trưởng hàng năm của nó vẫn tiếp tục ở mức 8-9% (theo số liệu của chính phủ). Ngọai thương nói chung đã tăng gấp 10; gần đây, khối lượng giao thương với nước ngoài đã tăng lên 25% mỗi năm. Sự tăng trưởng kinh tế hậu-Mao được đẩy mạnh bởi vốn nước ngoài, và các khu vực đô thị ven biển được hưởng lợi nhiều nhất từ thương mại, công nghệ và kỹ năng quản lý mà đầu tư này gây ra. Nông dân đã khá hơn trong những đợt cải cách đầu tiên, nhưng sau đó thì đã bị tụt lại phía sau cư dân thành phố một cách thê thảm, chỉ vào khoảng 15% trong số họ hưởng được những thứ thường có trong cuộc sống tầng lớp trung lưu hiện đại: điện thoại di động, truy cập internet, xe hơi, sở hữu nhà, và các du lịch ở nước ngòai.

    Bắc Kinh đang cẩn thận họach định một chính sách đối ngọai để duy trì tăng trưởng kinh tế, nhằm bảo tòan tính chính đáng của chế độ. Do đó, Trung Quốc đã phải chấp nhận các đòi hỏi khắt khe của Mỹ và những nước khác khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2001, cũng do đó mà Trung Quốc có những hành động tung hứng tương đối minh bạch về tỉ giá giữa nhân dân tệ và đô la, và cũng do đó có sự kềm chế của Trung Quốc trong tháng sáu vừa qua khi Úc cho phép một nhà ngoại giao đào thoát của Trung Quốc được quy chế thường trú tại Úc. (Trung Quốc ngày càng phụ thuộc vào khí thiên nhiên hóa lỏng, than đá, và quặng sắt của Úc.) Chắc chắn một phần để tránh thiệt hại cho các khối lượng xuất khẩu khổng lồ của Trung Quốc sang thị trường Mỹ mà Bắc Kinh đã đình chỉ các vụ thử tên lửa khiêu khích tổ chức ngoài bờ biển của Đài Loan nhằm biểu lộ sự không hài lòng của mình với một ứng cử viên ủng hộ độc lập trong cuộc bầu cử tổng thống của hòn đảo này năm1996. (Tổng thống Bill Clinton đã phái hai tàu sân bay đến vùng lân cận.) Và vào năm 2001, sau một vụ va chạm giữa các máy bay quân sự của Mỹ và của Trung Quốc gần đảo Hải Nam, Bắc Kinh đột ngột ngưng những lời to tiếng “chống bá quyền” ban đầu của họ và trao trả toàn bộ nhân viên phi hành Mỹ – một lần nữa để bảo vệ mối quan hệ song phương cốt lõi cần cho việc đẩy mạnh hiện đại hóa kinh tế của Trung Quốc.

    Mục tiêu thứ ba của chính sách đối ngoại của Bắc Kinh là duy trì một môi trường hòa bình trong vị trí địa lý phức tạp của Trung Quốc. CHNDTQ là nước duy nhất trên thế giới phải đối phó với 14 nước láng giềng tiếp giáp, bảy trong số đó chia sẻ đường biên giới dài hơn 600 dặm, và bốn nước khác gần bên bờ biển quá dài của Trung Quốc. Trong 30 năm đầu của chế độ, CHNDTQ đã tiến hành chiến tranh với tất cả năm nước cạnh bên sườn của họ. Trong chiến tranh Triều Tiên, họ phải chịu thiệt hại với hơn một triệu thương vong. Trung Quốc đã đánh nhau với Ấn Độ vào năm 1959 và 1962. Họ đã gửi 320.000 cán bộ kỹ thuật và bộ đội phòng không giúp Hồ Chí Minh giành chiến thắng trong chiến tranh Việt Nam. Năm 1969, hai nước xem là xã hội chủ nghĩa anh em là Moscow và Bắc Kinh đã vung kiếm đánh nhau ở sông Amur và Ussuri phía đông bắc. Trong năm 1979, Trung Quốc của Đặng Tiểu Bình tấn công Việt Nam để “dạy cho Hà Nội một bài học.”

    Đáng khen cho Trung Quốc và đáng làm cho các nước châu Á nhẹ nhỏm, vào những năm 1980 Bắc Kinh đã theo đuổi một chính sách đối ngoại mới của “những nụ cười về mọi phía”, đuợc gọi là một “chính sách hòa bình và độc lập.” Không tiến hành thêm chiến tranh sau năm 1979, Bắc Kinh nhanh chóng làm dịu các mối quan hệ với Liên Xô, hàn gắn hàng rào bị vỡ với Indonesia, bất ngờ công nhận Hàn Quốc và nhét khăn vào cổ họng giận dữ của Bắc Triều Tiên, thiết lập và chia sẻ nhiệm vụ người canh cổng với Moscow ở Trung Á, tham gia sinh hoạt các tổ chức quốc tế hàng tháng, và cuối cùng trở nên dính chặt với Hoa Kỳ (ngoại trừ trong mối quan hệ quân sự) hơn bất cứ lúc nào trong lịch sử Trung Quốc. Trong một sự thay đổi rất nổi bật từ những cái đã là đúng đối với hầu hết lịch sử của CHNDTQ, Bắc Kinh ngày nay không có kẻ thù.

    Sự thận trọng chờ thời vẫn đang tiếp tục. Trong các cuộc đàm phán sáu bên đang diễn ra hiện nay (Bài này đăng năm 2005 — Người dịch) về bán đảo Triều Tiên, Bắc Kinh với kiểu cách mập mờ, đang theo đuổi một chính sách (không nằm trong lợi ích của Mỹ) gìn giữ hòa bình bằng cách bám vào tình trạng hiện hữu. Một đất nước Triều Tiên bị chia cắt, dù vẫn tiếp tục với những quay cuồng sởn tóc gáy trong chính sách của Bình Nhưỡng, sẽ tốt cho Trung Quốc hơn là một Triều Tiên thống nhất với định hướng khó biết trước. Ở Trung Á cũng vậy, Bắc Kinh chỉ chọn “các cuộc đàm phán” về phân định cắm mốc biên giới và về các vấn đề “ly khai” đùng đẩy các vấn đề xuống dưới thảm và duy trì nguyên trạng.

    Khi bước sang thế kỷ 21 thì rõ ràng là Bắc Kinh đã không còn theo chính sách “những nụ cười về mọi phía”, họ đổi sang đặt định nền móng cho một phiên bản Trung Quốc của Học thuyết Monroe ở Đông Á. Mục tiêu thứ tư này của Trung Quốc tất nhiên là không được nói ra. Trung Quốc cố thay thế Mỹ trong vai trò gây ảnh hưởng chính yếu ở Đông Á. Thật không may, các dự án do Washington cầm đầu ở Afghanistan và Iraq có thể đã làm cho chính quyền của Tổng thống Bush và công chúng Mỹ quên để ý sự chuẩn bị mà Bắc Kinh đang tiến hành cho sự thống trị trong tương lai. Đáng lẽ Mỹ phải chú tâm sát sao tới những động thái này.

    Mục tiêu thứ tư dựa vào uy tín lên cao của Trung Quốc do không bị xáo trộn bởi hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998, và vào sự thành công kinh tế trong hai thập kỷ của nước này. Cụ thể hơn, dù vẫn là tiêu cực, chủ đích của Trung Quốc trở nên khá rõ ràng. Trên một ít vấn đề toàn cầu mà các lợi ích Trung Quốc và Mỹ trùng hợp, hoặc Bắc Kinh không thể chống lại một cách có hiệu quả chính sách của Mỹ, thì hoặc họ sẽ đi theo Mỹ, hoặc “bỏ phiếu vắng mặt”, hoặc phản đối Washington một cách yếu ớt. Nhưng ở châu Á, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang làm nhiều thứ để làm nãn lòng và loại Mỹ ra ngòai. Họ tìm cách chèn một cây nêm giữa Nhật Bản và Mỹ trong mọi cơ hội. Họ thì thầm trong tai Australia rằng sẽ tốt cho Canberra hơn nếu chỉ nhìn Châu Á chứ không nhìn qua bên kia Thái Bình Dương. Trong tháng mười hai (năm 2005, chú thích của người dịch), một cột mốc quan trọng là ở hội nghị thượng đỉnh Đông Á họp tại Malaysia mà không có đại diện của Mỹ, một phần vì áp lực của Trung Quốc. Bắc Kinh coi hội nghị thượng đỉnh này như một bước tiến tới hình thành một tổ chức khu vực Đông Á không bao gồm Mỹ.

    Trên diễn trường Đông Nam Á, có thể nghe không nhầm lẫn khúc dạo đầu một Học thuyết Monroe Trung Quốc ở Myanmar và ở nhiều nước khác. Myanmar nhận được viện trợ đáng kể của Trung Quốc, bao gồm cả kinh phí cho các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng. Các nhà lãnh đạo Myanmar lo ngại việc Hán hóa ở miền bắc Myanmar, nơi mà người gốc Hán sống và buôn bán. Nhưng cũng giống như nước Myanmar chư hầu ngày xưa phải triều cống cho thiên triều Trung Quốc trong nhiều thế kỷ, những nụ cười với Bắc Kinh là một chính sách bảo hiểm cho Myanmar. Kết quả là Myanmar đã bước vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc như Lào hiện nay. Thái Lan và thậm chí Malaysia có thể là các ứng viên trong tương lai.

    Trong khi ấy, Bắc Kinh vung quén một nhận thức về Trung Quốc như một nước ngang bằng với Mỹ – mục tiêu quý giá thứ năm. Hãy xem chuyến viếng thăm Mỹ của Giang Trạch Dân năm 1997. Tờ New York Times tường thuật “Các nhà đàm phán Mỹ chuẩn bị cho chuyến thăm nói rằng họ bối rối về cách mà các đối tác Trung Quốc của họ dường như tỏ ra coi trọng quá mức các chi tiết về nghi thức và biểu tượng.” Những thứ này bao gồm kích thước và màu sắc của thảm, vị trí trong các bức ảnh sẽ chụp của ông Giang, của biểu tượng Veritas của Đại học Harvard và chuông Tự Do của Philadelphia, và kiểu dáng và mẫu mã các cà vạt của Giang Trạch Dân và Tổng thống Clinton sẽ mang. Tất cả các chi tiết đó đã được dàn dựng để làm nổi thêm hình ảnh Trung Quốc là ngang hàng với Mỹ. Sau chuyến viếng thăm, một xã luận của tờ (New York) Times chắc đã làm phấn khởi Bắc Kinh: “[Ông Giang] đã dùng sự xuất hiện của ông với ông Clinton để tự thể hiện mình như một chính khách có thể gặp gỡ một cách ngang hàng với nhà lãnh đạo của đất nước giàu nhất và mạnh nhất thế giới.”

    Năm sau đó, Clinton đi Trung Quốc, và Bắc Kinh cũng lặp lại bài bản tương tự cố đánh ra cú đấm vượt quá hạng cân của mình. Đàm phán quyết liệt để cho Clinton không ghé qua Nhật trên đường đi — một cách để cho thấy đó chính là chuyến thăm Trung Quốc chứ không phải nước nào khác — và kéo dài chuyến thăm này thành tám ngày để nó có thể hơn bảy ngày lịch sử ma Nixon đã dành ở Trung Quốc vào năm 1972. Trong một bài phát biểu mật sau chuyến thăm này, Thủ tướng Trung Quốc bày tỏ sự hài lòng rằng Clinton “không dừng chân tại Nhật Bản trên đường đến Trung Quốc… với kết quả là Nhật Bản đã bị mất mặt.” Báo chí chính thức Trung Quốc chộp ngay lấy bất kỳ mảnh bình luận từ bên ngoài Trung Quốc cho rằng Clinton và Giang Trạch Dân đã gặp nhau như hai lãnh đạo ngang bằng. Họ tuyên bố rằng “hai nhà lãnh đạo cùng với nhau” (quên đi châu Âu, Nhật Bản, và Ấn Độ) đã làm Châu Á “ổn định hơn” và “thế giới hòa bình hơn.”

    Mục tiêu thứ sáu của chính sách ngọai giao Trung Quốc là “lấy lại” những vùng lãnh thổ mà Bắc Kinh cho là theo đúng lẽ thì thuộc về CHNDTQ. Danh sách các vùng lãnh thổ mà họ cho là như vậy gồm từ những khu vực mà họ công khai tuyên bố là của họ cho đến những khu vực mà họ bí mật hi vọng sẽ có ngày chiếm đọat. Danh sách ấy gồm Đài Loan và một số lớn các đảo trong vùng biển Hoàng Hải, biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), và Biển Đông Trung Hoa. Trong trường hợp Đài Loan, Bắc Kinh đang chờ đợi một thời cơ kết hợp diễn biến thuận lợi (theo Bắc Kinh) trong chính trị nội bộ Đài Loan, sự mệt mỏi của Mỹ do căng thẳng hỗ trợ Đài Loan, khả năng lớn hơn của Trung Quốc vận chuyển binh lính và trang thiết bị nhanh chóng vượt qua eo biển Đài Loan rộng 100 dặm, và một Nhật Bản dễ uốn theo mong muốn của Trung Quốc hơn hiện nay. Trong trường hợp quần đảoTrường Sa, trải dài qua các tuyến đường biển rất quan trọng ở Đông Nam Á và có yêu sách chủ quyền từng phần của sáu quốc gia, Bắc Kinh đang chờ đợi đủ năng lực hải quân để “khôi phục lại” quyền kiểm soát các đảo về cơ bản là không có người ở nhưng giàu dầu mỏ và các nguồn tài nguyên khác này. Không ít người Việt Nam, Hàn Quốc, Thái Lan, và Ấn Độ cũng dự kiến rằng Trung Quốc, khi có thể, sẽ đưa ra đòi hỏi chủ quyền đối với một số phần của lãnh thổ của họ có lần thuộc Trung Quốc khi xưa.

    Về khát vọng của Trung Quốc đối với vùng lãnh thổ trên sườn phía bắc của họ, Mao đã nói điều này vào năm 1964: “Khu vực phía đông của hồ Baikal là của chúng ta đã trở thành lãnh thổ của Nga khoảng 100 năm trước đây và kể từ đó Vladivostok, Khabarovsk, Kamchatka, và các khu vực khác cũng là lãnh thổ của Liên Xô. Chúng ta chưa đưa ra chứng cứ của chúng ta về danh sách này. Chúng ta có thể đưa ra chứng cứ khi đúng lúc.” Đến năm 1973, Mao kéo dài thêm danh sách các vùng lãnh thổ ông cảm thấy đã bị Moscow đánh cắp. Trong một cuộc trò chuyện về các chủ đề khác với Ngoại trưởng Henry Kissinger, đột nhiên ông than phiền “Liên bang Xô viết đã xẻo bớt của Trung Quốc một triệu rưởi kilomét vuông.” Trong những năm 1960 và 1970, cũng đảng Cộng sản hiện cầm quyền ở Bắc Kinh đã tuyên bố nhiều phần của Kazakhstan, Tajikistan và Kyrgyzstan ngày nay là các bộ phận của lãnh thổ Trung Quốc. Nếu sự nắm giữ của Nga đối với vùng Viễn Đông yếu đi, và sự qua lại của người Trung Quốc sống và buôn bán trong các khu vực biên giới tiếp tục, Trung Quốc có thể “đưa ra chứng cứ chủ quyền” đối với một phần của Siberia.

    Chẳng phải lúc nào một cường quốc đang lên cũng đạt được mục tiêu của mình. Đối với các quốc gia chuyên chế hiện đại, những thành công của họ hầu hết đều ngắn ngủi. Như các mục tiêu của cả ba cường quốc phát xít gây ra Chiến tranh thế giới II, đã đột ngột bị hủy bỏ năm 1945, và các mục tiêu đối ngoại của khối Xô Viết cũng đã biến mất không còn dấu vết vào năm 1991. Tôi tin rằng Trung Quốc có sẽ đạt được sáu mục tiêu của chính sách đối ngoại của họ hay không là tùy thuộc vào hệ thống chính trị của họ và vào việc các cường quốc khác sẽ phản ứng thế nào đối với những tham vọng của nước ấy.

    Màn kịch trong tương lai cận kề của Trung Quốc có thể sẽ mở ra không phải trong quan hệ đối ngoại nhưng ở trong nước: Đòi hỏi của của tầng lớp trung lưu đối với quyền sở hữu, sự bất mãn của nông thôn, Internet, 150 triệu người thất nghiệp lang thang giữa làng mạc và thành phố, và một dân số lão hóa đột ngột đang đem đến những căng thẳng tài chính và xã hội sẽ kịch tính hoá một số những mâu thuẫn của “chủ nghĩa Lenin thị trường.” Đi một đường trong kinh tế và một đường khác trong chính trị gây ra khó khăn trong việc đi tới một điểm đích quy định. Cách thức mà Trung Quốc giải quyết các mâu thuẫn giữa chính trị và kinh tế của họ sẽ xác định mức độ mạnh mẽ như thế nào vai trò nó sẽ giữ trên thế giới.

    Sự trỗi dậy hiện nay của Trung Quốc, giống như sự nổi lên của Đức và Nhật cuối thế kỷ 19, thể hiện cao vọng, một cảm giác bất bình, và chủ nghĩa dân tộc cao độ. Tuy nhiên, sự trỗi dậy của các quốc gia có nhiều hậu quả khác nhau. Chẳng hạn Vương quốc Anh cuối cùng chấp nhận một cách bình thản sự trỗi dậy của Mỹ ở Tây bán cầu. Ngược lại, sự trỗi dậy của Đức và Nhật Bản kết thúc bằng hai cuộc chiến tranh thế giới và sự hủy diệt hệ thống chính trị ở hai nước này – thay thế bằng các chính thể hoàn toàn mới và cách hành xử quốc tế hoàn toàn mới. Dân chủ, chứ không phải những đặc điểm văn minh hoặc bất kỳ sự khác biệt to lớn về tầm mức kinh tế quốc gia hiện nay so với những năm 1930, là lý do Đức và Nhật Bản đã trở thành cường quốc hành xử đàng hoàng trong thời đại chúng ta. Dù có ảnh hưởng to lớn, cả hai đều không là mối đe dọa cho các nước khác như trước đây. Vai trò tương lai của Trung Quốc trên thế giới sẽ được định đọat phần lớn bởi những gì xảy ra với hệ thống chính trị lỗi thời của nước này trong hai thập kỷ sắp đến

    Đôi khi ta quên rằng bất cứ ở đâu, khi nào, việc thăng được lên vị trí bá chủ mới luôn luôn cần ba yếu tố: Một là ý muốn trở thành số một của cường quốc đang lên, hai là khả năng đạt được mục tiêu đó, và ba là sự chấp nhận cường quốc ấy về phía những nước chịu ảnh hưởng. Bắc Kinh có ý muốn. Khả năng thì chưa rõ là có vượt ngoài tầm của họ hay không. Nhưng liệu những nước ngòai Trung Quốc có chấp nhận họ chăng?

    Đông Á vẫn còn giữ ký ức về Vương triều Trung tâm (Trung Quốc). Mỗi người Việt Nam và Hàn Quốc đều biết thái độ ngạo mạn lâu đời của triều đình Trung Quốc đối với các nước láng giềng. Tốt hoặc xấu, khoảng 60 triệu người Hoa đang cư trú ở Đông Á bên ngoài CHNDTQ, nhắc nhở Indonesia, Philippines, Malaysia, và các nước chủ nhà khác về sự ưu việt của văn minh Trung Quốc trong khu vực; trong một số trường hợp, tình trạng sống chung vẫn còn căng thẳng. Một nửa dân số Đài Loan chống đối thẳng thừng ý định của Bắc Kinh “tái lập” sự cai trị hòn đảo của họ, theo các cuộc thăm dò; trong một cuộc khảo sát năm 2002, 38% coi mình như là người Đài Loan, 8% như người Hoa, 50% như là cả hai.

    Trung Quốc đã qua nhiều thập kỷ tự xưng là nạn nhân: “bị cạo khóet giống như một quả dưa” sau chiến tranh Nha phiến, bị bắt nạt bởi các “đế quốc” phương Tây, vân vân…. Thành công ban đầu của họ như một nước bá quyền sẽ nhanh chóng đặt ra những vấn đề về diện mạo của họ cũng như nhiều hậu quả thực tế. Trung Quốc sẽ phát giác, như Mỹ đã đau đớn phát giác, rằng một chúa tể mới lên của rừng xanh sẽ bị các vết cắn của những con thú khác vừa bị đẩy ra ngòai. Một nước Nhật nhìn thấy Trung Quốc áng Mỹ — một đồng minh chính của Nhật, một nước mà ưu thế hàng đầu trong khu vực Đông Á đã khiến Nhật kềm chế trong sáu thế kỷ — chắc chắn sẽ thách thức Trung Quốc. Một lần nữa, như trong năm thập kỷ sau năm 1894, Trung Quốc và Nhật Bản sẽ giành giật nhau – và có thể đánh nhau – để kiểm soát khu vực này.

    Một Trung Quốc chuyên chế — lo lắng về khả năng kiểm soát chính người Trung Quốc và không nắm giữ một cách thoải mái bán đế quốc “phi Hán” bên trong – sẽ có thể thiếu sự hấp dẫn đạo đức để lãnh đạo châu Á. Có thể lý luận rằng đế quốc Trung Quốc xưa, trong nhiều thế kỷ đã qua, là một thế lực ổn định, nhưng trong thế kỷ 21, bất kỳ một động thái nào của Trung Quốc nhằm mở rộng đế quốc của họ, hoặc chỉ để tiếp tục dài lâu các lĩnh vực đa quốc gia hiện tại của họ, có lắm khả năng gây bất ổn.

    Ở Liên Xô, đã có một liên hệ chặt chẽ giữa “đế quốc” và “chuyên chính cộng sản”. Ở Trung Quốc cũng có một gắn kết tương tự. Cũng như Nga, Trung Quốc là một mãnh đất rộng không có một đế quốc nhưng là một đế quốc. Sự tan rã của Liên Xô kết thúc Chiến tranh Lạnh cũng như làm nứt vở sự độc quyền chính trị của Đảng Cộng sản ở Moscow. Điều Zbigniew Brzezinski nói về Moscow cũng đúng cho cả Bắc Kinh: “Nga có thể là một đế quốc hay một nền dân chủ, nhưng không thể là cả hai.”

    Moscow, dưới áp lực, đang xác định lại những lợi ích quốc gia của ho, khi họ để lại sau lưng nhiều thập kỷ là đế quốc cộng sản. Trung Quốc hầu như mới chập chững bắt đầu tiến trình này. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải tự hỏi xem họ có thể cai trị suông sẻ một xã hội khác biệt với Trung Quốc như Đài Loan ngày nay hay không. Họ có thể nên cân nhắc liệu để cho Tây Tạng như là một nhà nước liên kết với Trung Quốc – chắc chắn là dưới cái bóng của Trung Quốc, nhưng có chủ quyền – có thể là tốt hơn so với sự căng thẳng dai dẳng giữa Lhasa và Bắc Kinh như nay hay không. Những câu hỏi này chưa được nêu ra bởi vì Trung Quốc vẫn còn trong quá trình chuyển đổi từ đế quốc cộng sản sang quốc gia hiện đại, và còn bị giằng co giữa những gì họ muốn và những gì họ thực sự cần. Các huyền thoại quốc gia (một “Trung Quốc nạn nhân”) đúng là lý thú; nhưng sự mời gọi của lợi ích quốc gia (một “Trung Quốc thịnh vượng”) có vẻ hấp dẫn hơn.

    Còn nhiều vấn đề nữa về khả năng của Trung Quốc trở thành một bá quyền toàn cầu. Bắc Kinh hiện nay không thể phóng sức mạnh của họ ra xa; trong thảm họa sóng thần tháng 12 năm 2004 họ đã không thể làm như vậy, ngay cả tới Nam và Đông Nam Á. Nhiều vấn đề chắc chắn sẽ phát sinh ở châu Phi và châu Mỹ La tinh, bắt đầu với ngôn ngữ và bao gồm cả chủng tộc và tôn giáo rồi văn hóa, nếu Trung Quốc tìm cách để có tác động ở những khu vực mà châu Âu và Mỹ đã có ảnh hưởng. Ngoài ra còn nhiều nghi ngờ rằng liệu Trung Quốc có đủ trang bị về mặt triết lý cho sự thống trị thế giới theo cách mà nước Anh đã từng hưởng qua sức mạnh trên biển, hoặc theo cách Mỹ hiện đang hưởng dựa trên các giao dịch kinh doanh, sức mạnh quân sự, văn hóa đại chúng, và những ý niệm về thị trường tự do và dân chủ. Ý thức về sức mạnh của chủ nghĩa Mao chắc chắn là mạnh mẽ, giống như ý thức về “sứ mệnh” của người Anh-Mỹ phát xuất từ đạo Tin Lành. Nhưng, nếu không có sự bén nhọn của chủ nghĩa cộng sản thì chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc thiếu một thông điệp cho thế giới. Nước Mỹ dưới thời Tổng thống George W. Bush rõ ràng là có một thông điệp, ngay khi nó hầu như không thuyết phục đuợc ai không phải là Mỹ. CHNDTQ hiện nay chẳng có thông điệp nào, nhưng rất chuyên tâm trong việc kiểm soát trong nước và tham vọng có một bầu ảnh hưởng.

    Tôi nói về Trung Quốc như một nước có tham vọng. Nhưng có sẽ tốt hơn cho Trung Quốc nếu họ là một cường quốc bảo thủ? Mỗi mệnh đề đều có những người nhiệt tình ủng hộ, nhưng cả hai có một mối quan hệ âm dương. Các yêu sách bành trướng của Bắc Kinh thì ai cũng thấy rõ ràng và là độc nhất trong các cường quốc ngày nay. Tuy nhiên, chế độ Bắc Kinh, tuy là chế độ độc tài, là một chế độ độc tài có lý trí. Họ biết đếm các con số. Họ thường kiên nhẫn trong việc thực hiện các mục tiêu của mình. Được trang bị với một lực lượng nòng cốt ngày càng nhiều quan chức trẻ, được đào tạo bài bản, Bắc Kinh ngày nay không như các triều đình nhà Minh và nhà Thanh xưa, lừa mị chính mình bằng những hư cấu đẹp đẽ để che giấu sự cách biệt giữa thực tế và thế giới quan ưa thích của Trung Quốc. Tóm lại, Trung Quốc là một cường quốc đầy tham vọng, nếu phải chạm mặt với sức mạnh đối kháng, sẽ hành động thận trọng trong chiến lược dài hạn của họ. Họ biết chắc có một danh sách đáng nễ gồm các cường quốc như Mỹ, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ … có nhiều lý do để từ chối cho Trung Quốc cơ hội làm Vương quốc Trung tâm của thế kỷ 21. Trung Quốc không phải là yếu như họ dường như thế khi còn là “một con bệnh của Châu Á.” Quốc gia này có thể cũng không mạnh mẽ một cách bền vững như họ có vẻ hiện nay đối với những người sợ hãi hay chiêm ngưỡng họ.

    Ross Terrill, chuyên gia nghiên cứu ở Trung tâm Nghiên cứu Đông Á Fairbank thuộc Đại học Harvard , là tác giả cuốn Mao (1999), Trung Quốc trong Thời đại của chúng ta (1992), và Bà Mao (2000). Cuốn sách gần đây nhất của ông, Đế chế Trung Hoa mới, được giải của Los Angeles Times Book năm 2004.

    22-7-11
    Nguồn: Viet Studies

  8. Một cái nhìn ‘trần trụi’ về quan hệ Việt – Trung
    http://baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Mot-cai-nhin-tran-trui-ve-quan-he-Viet–Trung/20117/157163.datviet Cập nhật lúc :6:00 AM, 23/07/2011

    Tình hình “biển Đông dậy sóng” thời gian qua không nằm ngoài bối cảnh tham vọng lãnh thổ lâu đời của Trung Quốc cũng như mối quan hệ lịch sử phức tạp giữa hai nước Việt – Trung. Phóng viên Đất Việt online đã có cuộc phỏng vấn PGS.TS Trần Ngọc Vương, ĐH Quốc gia Hà Nội, người đã nhiều năm nghiên cứu Trung Quốc, về điều này.

    PV: Ông đánh giá thế nào về mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, không chỉ là mối quan hệ ngoại giao hiện tại, mà là dưới góc độ lịch sử, văn hóa?

    PGS.TS. Trần Ngọc Vương: Thực tế thì từ trước đến nay, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc là một quan hệ rất phức tạp. Dù công khai hay không công khai thừa nhận thì đó là một thực tế không ai có thể che giấu được.

    Mối quan hệ phức tạp đó được thể hiện trên nhiều phương diện: chính trị, văn hóa, chủ nghĩa dân tộc, chân chính hay không chân chính, lành mạnh hay không lành mạnh, trong đó có cả tâm lý đám đông.

    Trước hết, cần phải khẳng định quan hệ Việt – Trung từ quá khứ lịch sử đến tận ngày nay là một quan hệ nhiều chiều phong phú, đa dạng, phức tạp và đầy nghịch lý, mâu thuẫn.

    Năm 1998, tại Đại học Bắc Kinh, tại cuộc gặp mặt và trao đổi trực tiếp giữa học giả 2 nước Việt Nam, Trung Quốc, các học giả Trung Quốc đã hỏi tôi: Ông nghĩ như thế nào về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Tôi muốn nhắc lại một ý mà tôi đã trả lời lúc đó, như là một nhận thức đã trở thành công thức cố định: Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc ít nhất phải nhìn trong 3 góc độ, 3 tư cách của Trung Quốc.

    Trong lịch sử, Việt Nam tiếp thu nhiều từ Trung Quốc, cho nên tư cách đầu tiên của Trung Quốc đối với Việt Nam là tư cách ông thầy. Đây là điều không chối cãi được do Việt Nam chịu ảnh hưởng của Trung Quốc cả một thiên niên kỷ. Trong suốt thời gian dài đó, người Việt đã học tập rất nhiều điều từ người Trung Quốc. Chúng ta không thể nào không kính trọng một dân tộc có nền văn minh, văn hóa thuộc loại hàng đầu thế giới.

    Tư cách 2: Trung Quốc với Việt Nam là bạn: Bạn ở đây được hiểu theo nhiều nghĩa và được quy định bởi nhiều điều kiện.

    Thứ nhất, là 2 nước láng giềng có chung đường biên giới rất dài cả trên đất liền và trên biển. Do có chung đường biên giới quá dài nên để có thể sống với nhau ổn định, cần có sự hữu nghị cả về phương diện cộng đồng, xã hội lẫn phương diện quốc gia. Bản thân tôi cũng có những người bạn Trung Quốc.

    Thứ hai, chữ “bạn” ở đây được hiểu vừa là đối tác, vừa là đối thủ. Ngay trong một cộng đồng nhỏ cũng tồn tại những đối thủ, huống hồ là giữa 2 đất nước. Nếu bỏ qua tư cách đối thủ, tự anh sẽ làm hại anh do sẽ dẫn đến mất cảnh giác. Điều này được thể hiện trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị. Nhưng không vì vậy mà yếu tố đối thủ làm triệt tiêu yếu tố đối tác, bằng hữu.

    Nhưng theo tôi, nếu xét trên tư cách bằng hữu, sự hợp tác giữa 2 nước chưa cao. Bởi muốn hợp tác có hiệu quả thì 2 nước phải có những mục tiêu và lợi ích chung. Phải có định hướng về tầm nhìn là cùng nhìn về 1 hướng thì sự hợp tác mới lâu bền và toàn diện. Nếu quay lưng lại với nhau hay người này tìm cách tranh thắng hơn so với người kia thì không thể hợp tác được. Trong hợp tác, nguyên tắc “Cả 2 cùng thắng” mới là nguyên tắc quan trọng nhất, chứ không phải kẻ thắng người thua.

    Tư cách bằng hữu này về lâu về dài vẫn cần phải duy trì để cùng tồn tại.

    Tư cách 3: Việt Nam thường xuyên là nạn nhân của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, sự bành trướng đế chế của Trung Quốc: Trong thực tế, do nhiều lý do lịch sử, Việt Nam không phải là nước lớn để đặt đồng đẳng trên bàn cân so với Trung Quốc. Cho nên, tồn tại bên cạnh một đế chế khổng lổ có dân số chiếm 1/5 nhân loại không phải là điều đơn giản. Rõ ràng, so về tiềm lực, quốc lực, Việt Nam không phải là đối thủ cạnh tranh bình đẳng của Trung Quốc. Không nhận thức được điều này thì sẽ mất nước. Tôi cũng muốn sử dụng khái niệm “sự bành trướng đế chế” như là một thuật ngữ của khoa học lịch sử.

    Chính vì điều này, ngay từ quá khứ lịch sử đã luôn đặt ra 1 tình huống, đó là: mất cân bằng.

    Đối với nước nhỏ bé hơn, đây bao giờ cũng là hiểm họa. Điều này không có gì lạ, khắp nơi trên thế giới đều như vậy. Nói một cách lạnh lùng hơn, đây là một quy luật, có thể gọi là “chủ nghĩa Darwin xã hội”, đó là quy luật sinh tồn cạnh tranh về mặt xã hội.

    Quy luật này chính các nhà kinh điển Mác – Lênin đã nhận thức và coi là quy luật bất di bất dịch: Quốc gia nào mạnh sẽ đi xâm lược, quốc gia nào yếu sẽ bị xâm lược. Không có một quốc gia đạo đức thuần túy nào từng xuất hiện trên trái đất. Chủ nghĩa bành trướng như là một lẽ đương nhiên của các nước lớn. Trung Quốc từ xưa đến nay, trừ những giai đoạn tự mâu thuẫn, tự đấu tranh nội bộ, khi họ đạt được sự thống nhất nhất định thì họ đều có tư thế nước lớn. Và khi có tư thế nước lớn, họ tự có thuộc tính bành trướng.

    Khi bàn về đế chế Sa Hoàng, Lênin đã phải thừa nhận một thực tế khách quan, tất yếu: Khi nó đã là đế chế, là một quốc gia có quy mô lớn như đế chế Nga thì nó hút theo nó rất nhiều sự phụ thuộc, ép các cộng đồng dân tộc xung quanh nó trở thành vệ tinh.

    Tôi xin nhắc lại, đế chế nào, quốc gia lớn nào cũng vậy. Sức ảnh hưởng, bành trướng của các đế chế này là sức hút nam châm, có xu hướng hút và cuốn các nước xung quanh vào bên trong nó. Nếu chống lại được lực hút đó thì được độc lập, còn nếu không li tâm được thì tất yếu sẽ bị phụ thuộc.

    Tôi cho rằng, xu thế chung của nhân loại và nói riêng các quan hệ khu vực trong khoảng một thiên niên kỷ trở lại đây là những quốc gia như Việt Nam ngày càng thể hiện tư thế độc lập hơn, tự quyết, tự chủ hơn so với các đế chế kiểu như Trung Quốc. Mặc dù có những thời điểm trong lịch sử, xu thế đó không phải là dạng đồ thị tiến thẳng, có những lúc người cầm quyền Việt Nam tỏ ra bạc nhược, yếu hèn, nhưng nhìn tổng thể thì Việt Nam ngày càng độc lập hơn.
    Việt Nam hoàn toàn đủ nội lực để tự mình trở thành một quốc gia độc lập hơn nữa, bình đẳng hơn nữa với các thế lực bên ngoài. Điều kiện của quốc tế hiện đại cho phép thực hiện được, hiện thực hóa được xu hướng đó.

    ‘Lo ngại Trung Quốc theo lối mòn lịch sử’

    http://baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Lo-ngai-Trung-Quoc-theo-loi-mon-lich-su/20117/157273.datviet Cập nhật lúc :6:00 AM, 24/07/2011

    ‘Báo chí và các trang mạng Trung Quốc, kể cả các tờ được coi là chính thống và quan trọng hàng đầu, kể cả Đài Truyền hình Trung ương, hiện nay đang liên tục xuyên tạc về Việt Nam, tôi xin gọi là nói rất láo về Việt Nam’, PGS.TS Trần Ngọc Vương tiếp tục cuộc trò chuyện với phóng viên Đất Việt online.

    PV: Tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề cần giải quyết trong quan hệ giữa hai nước. Một bước tiến có thể nói khá quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp này là các bên đồng thuận không sử dụng vũ lực. Vậy vì sao gần đây tình hình lại đột ngột “nóng” lên, cùng với đó là sự đe dọa sử dụng vũ lực từ phía Trung Quốc?

    PGS Trần Ngọc Vương: Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua, chúng ta có cái nhìn toàn cảnh và rõ ràng hơn về cái gọi là việc sắp xếp lại trật tự thế giới, cấu trúc lại những vùng ảnh hưởng trên thế giới. Nhìn theo nhiều lĩnh vực, có thể xuất hiện những cường quốc khác nhau, thậm chí có thể gọi là những siêu cường khu vực. Nhìn một cách tổng thể, rõ ràng Trung Quốc đang có khát vọng trở thành một siêu cường, ít nhất là siêu cường khu vực.

    Từ năm 1978, khi khởi xướng lên việc định hướng lại và cải cách kinh tế để tạo vị thế của Trung Quốc, cho đến gần đây, Trung Quốc nêu lên một số mệnh đề mà tôi cho rằng đặc biệt cần chú ý.

    Thứ nhất là mệnh đề: “Một hữu đới đầu” – Nhất quyết không đi đầu. Họ chấp nhận không làm người dẫn đầu, không gánh vác trách nhiệm trước thế giới. Điều này có thể dễ dàng hiểu được, cũng là do họ chưa đủ điều kiện để làm vậy dù họ muốn. Tôi cho rằng, về tầm nhìn, đó là một tầm nhìn dài hạn và khôn ngoan của họ.

    Mệnh đề thứ hai là “thao quang dưỡng hối”, tức là che bớt ánh sáng, nuôi dưỡng cái tù mù. Trung Quốc muốn giữ cho riêng mình một vùng bí mật rộng lớn trong các quốc sách cũng như trong việc đo đếm, tính toán quốc lực của họ. Đây là một cách giữ gìn bí mật quốc gia để quốc tế không thể biết được tiềm lực thực sự của Trung Quốc. Dù bên ngoài có nói xấu hay nói tốt, nói hay hay nói dở, Trung Quốc cũng không phản đối hay khẳng định quyết liệt.

    Mệnh đề thứ ba là “nhất quốc lưỡng chế”, tức là một nước hai chế độ. Chính mệnh đề này đã gây ra tranh luận giữa tôi với các học giả Trung Quốc năm 1998, thời điểm khi họ đang tiếp nhận Hồng Kông.

    Khẩu hiệu “Nhất quốc lưỡng chế” mà Đặng Tiểu Bình đưa ra là một tôn chỉ mà họ đang thực hiện và sẽ còn lâu mới thực hiện xong. Đây chính là câu khẩu hiệu gây nhiều suy nghĩ cho tôi.

    Tôi đã hỏi các giáo sư, học giả Trung Quốc ở Đại học Bắc Kinh rằng: Một nước 2 chế độ, nghĩa là một bên anh duy trì XHCN, một bên anh duy trì TBCN? Vậy thì CNXH có phải mục đích tối hậu của Trung Quốc không? Đó của phải là hệ tư tưởng của Trung Quốc không?

    Họ nói theo họ là như vậy. Tôi nói: Vậy thì theo logic, anh phải tồn tại 2 chế độ, dù cho tầm nhìn xa đến đâu, khoảng thời gian dài đến đâu, nhưng nếu đến “một lúc nào đó”, tình trạng đó sẽ được / bị xóa bỏ, thì đó vẫn cứ là một công thức mang tính chiến thuật, dù nó không ngắn hạn về mặt thời gian. Cuối cùng anh phải giải quyết vấn đề 2 chế độ ra sao chứ? Phải nhất thể hóa thành một chế độ chứ? Nếu khẳng định như thế, tôi không tin là trên bốn chục triệu người ở mấy vùng lãnh thổ kia để yên cho anh “sáp nhập” dễ dàng.

    Trong trường hợp ngược lại, nếu anh nói rằng đó là một tôn chỉ lâu dài, không xác định về mặt thời gian thì tức là anh từ bỏ về mặt nguyên tắc đối với chủ nghĩa cộng sản. Vì trong một nhà nước phải có, và chỉ có một hệ tư tưởng. Giả sử các vùng lãnh thổ như Đài Loan sáp nhập với Trung Quốc thì hệ tư tưởng lúc đó chắc chắn phải khác hệ tư tưởng bây giờ. Vậy hệ tư tưởng đó là gì? Các học giả Trung Quốc không trả lời được. Họ hỏi ý kiến của tôi thế nào. Tôi nói: đó chính là chủ nghĩa tư bản, hoặc một dạng khác, xác thực hơn nữa: chủ nghĩa dân tộc. Họ im lặng nhưng sa xẩm mặt mày.

    “Thao quang dưỡng hối” và “không đi đầu” thì hiện nay Trung Quốc đang dần dần từ bỏ. Tức là họ công khai bộc lộ và thị uy sức mạnh, đồng thời một bộ phận kích động chủ nghĩa dân tộc.

    Nguy cơ về sự bùng lên và khó lòng kiểm soát của chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc là điều có thật. Cái tâm lý này nằm cả ở những người ở cấp cao, tuy tôi chưa dám nói những nhà lãnh đạo tối cao của Trung Quốc thì ở mức độ như thế nào.

    Vì thế, tôi cho rằng chủ nghĩa dân tộc cực đoan của Trung Quốc bùng nên và khó kiểm soát đang thực sự là một nguy cơ đối với chúng ta. Tôi theo dõi báo chí và các trang mạng Trung Quốc, qua các thống kê của chính các trang đó, tôi thấy các con số về tỷ lệ người Trung Quốc đòi “dạy cho Việt Nam một bài học” là rất cao. Điều này phản ánh một tỉ lệ trung bình cộng mà chúng ta cần phải hết sức cảnh giác. Đương nhiên là các nhà chính trị không dễ dàng đưa ra các quyết định dựa trên những thống kê trên mạng như vậy, nhưng cũng chắc chắn họ sẽ bị chi phối bởi điều này.

    Để hiểu tận căn nguyên, tôi không chỉ theo dõi quan hệ Việt Nam – Trung Quốc mà tôi còn phải theo dõi cả thực thể Trung Hoa, tôi cho rằng hiện nay, những vấn đề mâu thuẫn nội tại của xã hội Trung Quốc là căng thẳng nhất thế giới. Có người đã nói ví von là: Giữa những tỷ phú giàu nhất thế giới đã có người Trung Quốc, nhưng những cộng đồng nghèo đói nhất thế giới cũng có người Trung Quốc. Điều đó dẫn đến những bất an về mặt xã hội.

    Những bất an xã hội đó khiến tôi rất lo lắng. Không phải chỉ lo và thương cho người Trung Quốc. Tôi không dám nói đó là tất yếu, nhưng theo những lối mòn của lịch sử, để trấn an nội bộ, trong mấy nghìn năm qua, Trung Quốc luôn dùng phương pháp chuyển mâu thuẫn ra ngoài. Tức là cứ mỗi lần nội bộ Trung Quốc có vấn đề lớn, các nhà cầm quyền Trung Quốc lại tiến hành xâm lược một vùng nào đó. Họ dùng “võ công” để răn đe và giải quyết mâu thuẫn bên trong. Tức là họ không đánh trực tiếp đối thủ trong nước mà tấn công bên ngoài để làm giảm áp lực và xả bớt lực căng xã hội. Xin nói thật, đây là điều tôi sợ nhất vì Việt Nam có nguy cơ cao trở thành nạn nhân, các tỷ lệ thống kê cao trên mạng phản ánh đúng điều này.

    Báo chí và các trang mạng Trung Quốc, kể cả các tờ được coi là chính thống và quan trọng hàng đầu, kể cả Đài Truyền hình Trung ương, hiện nay đang liên tục xuyên tạc về Việt Nam, tôi xin gọi là nói rất láo về Việt Nam.

    Tôi nghĩ là người Trung Quốc đâu thù Việt Nam đến thế. Những người làm chính trị, quan sát chính trị đều nhận thấy trong thời gian qua Việt Nam đã nhẫn nhịn rất nhiều. Thế giới không ngây thơ để tin vào những tuyên truyền xuyên tạc của Trung Quốc là Việt Nam luôn gây hấn và kích động. Rõ ràng là người Việt Nam luôn có tâm lý hòa hiếu, muốn yên ổn. Lịch sử đã chứng minh điều đó. Võ công thiên tài và chiến công hiển hách như Quang Trung mà trước khi đánh trận Đống Đa còn yêu cầu Ngô Thì Nhậm viết sẵn biểu tạ tội, rồi biểu cầu phong.

    Vì vậy, vấn đề ở đây là chúng ta phải tránh để bị Trung Quốc biến thành vật hi sinh. Nhưng đồng thời, ta không chỉ giữ thể diện với dân mà về lâu dài cần phải nuôi dưỡng và phát huy lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc của nhân dân ta. Như cụ Hồ đã nói một câu thể hiện tất cả: Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Chúng ta vừa phải mềm mỏng, nhẫn nhịn nhưng cũng luôn phải tự cường, rắn rỏi.

    PV: Hòa bình, đó là khát vọng ngàn đời của nhân dân Việt Nam. Song, cũng như ý chí nhân dân, các vị lãnh đạo của Việt Nam luôn khẳng định “chủ quyền là số một”. Từ cái nhìn lịch sử, theo Giáo sư, làm thế nào để giữ được cả hai điều này?

    PGS Trần Ngọc Vương: Mặc dù có những cái đầu ở Trung Quốc đang rất nóng, và cả nhiều cái đầu ở các nước láng giềng của Trung Quốc, đương nhiên cả ở ta, cũng đang nóng, nhưng theo tôi chúng ta nên coi đó là chuyện bình thường. Có những phản ứng cực đoan thái quá là bình thường. Cả ở đây nữa, “trái tim có những lý lẽ riêng mà cái đầu không thể hiểu”. Nhưng đó không phải là tất cả. Vấn đề là các nhà cầm quyền phải biết giữ tỉ lệ cực đoan đó ở mức có thể kiểm soát được và không gây ra tác hại. Các nhà lãnh đạo cần có cách hành xử và giải quyết vấn đề phù hợp.

    Tôi cho rằng với diễn biến của tình hình vừa rồi, sự bộc lộ thái độ và hành động của cộng đồng và người dân Việt Nam là hợp lý. Giữ mức độ như thế là hợp lý.

    Với tư cách là người cũng đã nhiều năm nghiên cứu về Trung Quốc, về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, tôi cho rằng điều quan trọng nhất hiện nay đối với chúng ta là làm thế nào để cân bằng được niềm tự hào dân tộc, khí phách dân tộc với hoạt động thực tiễn chính trị tỉnh táo để đạt được mục tiêu quan trọng hàng đầu là giữ gìn độc lập dân tộc. Đồng thời tránh cho dân tộc khỏi những tổn thất, va chạm không cân sức và không cần thiết.

    – Xin cảm ơn Giáo sư.
    Bá Mạnh thực hiện

  9. QUAN HỆ TRUNG VIỆT TÀI LIỆU NGOẠI GIAO TRUNG QUỐC Blog Huy Minh dẫn tài liệu của [TTXVN – Tạp chí “Tri thức thế giới” dưới quyền chủ quản của Bộ Ngoại giao Trung Quốc số 14 ra ngày 16/7/2011 có loạt bài viết trong một chủ đề lớn: “Việt Nam – Câu chuyện không thể không nói”, đề cập đến nhiều vấn đề lớn trong quan hệ giữa hai nước từ thời truyền thuyết, qua các thời kỳ lịch sử đầy biến số cho đến hiện trạng quan hệ như đang diễn ra ngày nay. Lịch sử và chân thực: Diễn biến quan hệ Trung-Việt trước năm 1949 (Tôn Hồng Niên, Nghiên cứu viên thuộc Trung tâm nghiên cứu sử địa biên giới, Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc) Việt Nam và Trung Quốc không chỉ có truyền thuyết giống nhau về “Hậu duệ của Rồng” và “con Rồng cháu Tiên”, mà lịch sử Việt Nam còn liên quan chặt chẽ với Trung Quốc, văn hóa và chế độ của Việt Nam cũng gần gũi và thông dòng chảy với Trung Quốc, đến hai chữ “Việt Nam” cũng do Hoàng đế Gia Khánh xác định, thời kỳ cận đại lại càng có quan hệ hữu nghị chiến đấu chống lại ách xâm lược của các cường quốc tư bản phương Tây… Nhưng, đến nay không ít người Việt Nam đã không biết rõ sự thực này, hơn nữa còn coi việc đề phòng “kẻ thù phương Bắc” như là nội dung giáo dục quốc dân. Gần đây có không ít người còn trương lên khẩu hiệu “Láng giềng Trung Quốc: Xác to, tâm địa độc ác”. Vậy thực chất quan hệ Trung-Việt là gì? Bài viết bắt đầu từ một truyền thuyết đẹp cho đến trước khi Nước CHND Trung Hoa thành lập năm 1949. Người Trung Quốc tự xưng là “Hậu duệ của Rồng”. Từ thời cổ đại Trung Quốc đã có truyền thuyết Thần Nông, kể rằng phạm vi thiên hạ mà Thần Nông cai quản phía Nam đến Giao Chỉ, các đời vua Nghiêu, Thuấn, Vũ đều đã tuần thú đến “Giao chỉ”. Đến thời nhà Chu chế định Lễ Nhạc, thiên hạ thái bình, cả bộ lạc “Việt Thường Thị” ở phía Nam “Giao Chỉ” cũng chịu ảnh hưởng, sai sứ giả đến đô thành nhà Chu cống chim trĩ trắng, còn nói do đường xa, ngôn ngữ bất đồng phải có phiên dịch nên vất vả lắm mới đến được tới nơi. Dưới con mắt của người Trung Quốc lúc đó và sau này, “Giao Chỉ” và “Việt Thường Thị” ở đây đều có ý chỉ phương Nam chứ không thể hiện riêng một khu vực nào. Các truyền thuyết này cũng cho thấy từ thời đại truyền thuyết đến thời Tây Chu, Trung Quốc đã có quan hệ hòa bình hữu hảo với bộ tộc ở phương Nam xa xôi. Người Việt Nam cũng tự xưng là “con Rồng cháu Tiên”, cũng có chuyện thần thoại giống như Trung Quốc, vấn đề chỉ là sau thế kỷ 13, 14 sau Công nguyên, người Việt Nam mới có sử sách ghi bằng chữ Hán, trong đó có ghi truyền thuyết cháu đời thứ ba của Thần Nông là Đế Minh tuần thú phương Nam, đến Ngũ Lĩnh gặp một tiên nữ, lấy nhau, sinh ra Lộc Tục, phong Lộc Tục làm vua cai trị đất phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương cai trị vùng đất rộng, “Bắc đến Động Đình, Tây đến Ba Thục”, Kinh Dương Vương lấy con gái của Long Quân ở Động Đình, sinh ra Sùng Lãm. Sau khi kế vị, Sùng Lãm xưng là Lạc Long Quân và lấy Âu Cơ, một lần sinh ra 100 người con trai, lại nói với Âu Cơ rằng ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên như nước với lửa nên đã dẫn 50 người con theo mình xuống Nam Hải, còn lại 50 người con theo mẹ lên núi. Lạc Long Quân còn phong con trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng là “Hùng Vương”. Thời đại Hùng Vương phân thành 15 bộ, bị “giặc Ân” xâm chiếm…. Đến đời Hùng Vương thứ 18, “vua Thục” đã thôn tính “nước Văn Lang” lập nên “nước Âu Việt”. Tần Thủy Hoàng lại sai quân diệt bộ tộc Bách Việt và “nước Âu Việt”, lập thành Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận. Thần thoại theo cách ghi của Việt Nam thế kỷ thứ 15 một mặt đã xác định người Việt Nam là hậu duệ của Thần Nông, là “con Rồng cháu Tiên”, đã tìm được điểm kết hợp đồng căn đồng chủng (cùng gốc cùng loài) với người Trung Quốc, mặt khác lại đưa thêm vào “nội dung mới” không hề nhẹ nhàng thoải mái, nhất là các nội dung như “nước Văn Lang” đánh đuổi “giặc Ân”, “Thục Vương” diệt “nước Văn Lang” lập nên “nước Âu Việt”, nhà Tần diệt “nước Âu Việt” thiết lập quận huyện. Những nội dung mới như vậy liệu có đáng tin cậy hay không? Thế kỷ thứ 19 có nhà sử học của Nhà nước Việt Nam đã chỉ rõ, cái gọi là “Tây đến Ba Thục, Bắc đến Động đình” ở thời đại “nước Văn Lang” là cách nói khoác lác, câu chuyện về Thục Vương cũng là hư cấu. Ở thế kỷ trước, các học giả về khảo cổ học, lịch sử học Trung Quốc và nước ngoài trong đó có cả học giả Việt Nam đã tiếp tục nêu thắc mắc về những truyền thuyết nói trên của Việt Nam. Mọi người còn chú ý thấy rằng lịch sử xác thực của Việt Nam có căn cứ để tra cứu không sớm hơn thời nhà Tần, “nước Văn Lang”, “nước Âu Việt” chỉ là sự phản ánh tình hình trong thời kỳ bộ lạc nguyên thủy của người Lạc Việt cổ đại, những “nội dung mới” này chỉ là những ghi chép lấy ra từ trong các tư liệu lịch sử của Trung Quốc và một số nội dung trong các truyền thuyết như “Liễu Nghị truyện thư” thời nhà Đường rồi thay đổi, biên soạn lại mà thành, từ sau thế kỷ thứ 13 các triều đại vua ở Việt Nam muốn đề cao tính tự tôn dân tộc nên đã không ngừng củng cố và làm phong phú thêm. Mọi người có thể lý giải được tầm quan trọng của lòng tự trọng đối với một dân tộc, nhưng đồng thời lại càng lo: Nếu coi những “nội dung mới” được hư cấu như vậy là sự thực lịch sử dùng để giáo dục quốc dân, sẽ chỉ có thể khiến cho họ (người VN) cho rằng từ hơn 4.000 năm trước đây Việt Nam đã bị “giặc Ân”, “vua Thục” và nhà Tần “xâm lược”, lúc nào cũng phải để phòng “kẻ thù phương Bắc”, nếu như vậy thì sẽ phải làm thế nào để cho Trung Quốc và Việt Nam đời đời chung sống hữu hảo, trở thành “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” của nhau được? Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, bình định vùng đất Lĩnh Nam thiết lập chế độ quận huyện ở đó cho đến thế kỷ thứ 10 sau CN, Việt Nam luôn là quận huyện của Trung Quốc, thời kỳ này được gọi là “thời kỳ Bắc thuộc” hay là “thời đại quận huyện”. Trong hơn 1.000 năm nói trên các triều đại Trung Quốc ở Trung Nguyên và chính quyền mang tính địa phương ở phía Nam (như Nam Việt) đều thiết lập chế độ quận huyện ở khu vực Bắc bộ và Trung bộ của Việt Nam hiện nay, đưa quan lại, quân đội đến đóng và thi hành giáo hóa, khiến cho kinh tế, văn hóa ở khu vực này liên tục phát triển, từ xã hội bộ lạc đi đến xã hội phong kiến. Thời kỳ Hoàng đế Triệu Đà của “nước Nam Việt” thời nhà Tần và đầu thời nhà Hán đã dạy nhân dân trồng cấy, mở rộng văn hóa giáo dục; Dưới thời nhà Hán, Thái thú Giao Chỉ là Tích Quang, Thái thú Cửu Chân là Nhiệm Diên đã xây dựng trường học, mở rộng kỹ thuật canh nông tiên tiến; Sĩ Nhiếp thời Tam Quốc đề xướng văn hóa Nho gia như Thi, Thư, Lễ, Nhạc; Những sự tích nói trên đều được sử sách của Trung Quốc và Việt Nam sau đó khẳng định. Sau mấy thế kỷ, kinh tế, văn hóa ở khu vực Bắc bộ, Trung bộ Việt Nam ngày nay, lúc đó tất cả đều thuộc quyền cai quản chung của An Nam Đô hộ phủ thời nhà Đường đã phát triển đến trình độ tương đối cao, châu Ái (tức vùng Thanh Hóa ngày nay) của An Nam lúc đó có người tên là Khương Công Phụ thi đỗ Tiến sĩ, được bổ nhiệm giữ chức “Đồng trung thư môn hạ bình chương sự” (Tể tướng). Hơn nữa, ở “thời kỳ Bắc thuộc” ảnh hưởng của kinh tế, văn hóa Trung Quốc đã không chỉ giới hạn ở tầng lớp sĩ đại phu mà đến nay vẫn còn ảnh hưởng đến ngôn ngữ, phong tục, lễ nghi ở Việt Nam, ví dụ như từ ngữ Hán Việt trong tiếng Việt hiện đại, tức từ ngữ mượn chữ Hán của Trung Quốc vẫn chiếm 80%, ít nhất cũng có 65%. Ảnh hưởng của thời kỳ Bắc thuộc đối với Bắc bộ, Trung Bộ Việt Nam lại cả trong nhiều phương diện, thứ nhất là một số quan lại cũng thi hành chính trị hà khắc giống như quan lại trong nội địa (Trung Quốc trung tâm), nhiều lần dẫn đến các cuộc đấu tranh chống phong kiến của nhân dân ở thực địa; Hai là một số tầng lớp chủ phong kiến ở đó chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Hán, thời kỳ sau nhà Đường và Ngũ đại thập quốc đứng trước tình thế loạn lạc do hoàng quyền yếu nhược, phiên trấn cát cứ, ý thức cát cứ xưng hùng, tự lập vua không ngừng mạnh lên. Sau khi nhà Đường diệt vong, khu vực này bắt đầu xuất hiện tình thế hào cường xưng hùng, năm 968 Đinh Bộ Lĩnh thành lập nước “Đại Cồ Việt”, Việt Nam thoát ra khỏi chế độ thống trị phong kiến, trở thành quốc gia phong kiến độc lập. Sau đó Việt Nam đã trải qua nhiều lần thay đổi vương triều, bao gồm triều Đinh (năm 968 – 980), triều Tiền Lê (năm 980 – 1009), triều Lý (năm 1010 – 1225), triều Trần (năm 1225 – 1400), triều Hồ (năm 1400 – 1407), triều Hậu Lê (năm 1428 – 1788), triều Tây Sơn (năm 1788 – 1802), triều Nguyễn (năm 1802 – 1885)…. Các vương triều nói trên của Việt Nam sau khi thành lập đều xác lập và duy trì quan hệ tông phiên (tức quan hệ tông chủ – thuộc quốc, hay còn gọi là nước trung tâm – nước phụ thuộc) cho đến năm 1885 Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp. Quan hệ tông – phiên giữa Việt Nam và Trung Quốc chủ yếu thể hiện qua một số phương diện sau: Thứ nhất, khi các vị vua già của vương triều qua đời, vị vua khác lên thay thường cho sứ sang Trung Quốc để “cầu phong”. Các nhà thống trị Trung Quốc thời đó nói chung không can thiệp, mà cơ bản là cử người đến sắc phong để thỏa mãn yêu cầu được sắc phong của các chủ phong kiến. Ví dụ thời nhà Tống, lần lượt trong các năm 973, 993 và 1010 đã sắc phong cho Đinh Bộ Lĩnh (triều Đinh), Lê Hoàn (triều Tiền Lê), Lý Công Uẩn (triều Lý) làm Quận Vương Giao Chỉ, năm 1164 lại sắc phong cho Lý Thiên Tộ (Lý Anh Tông) làm Quốc vương An Nam. Năm 1666 sắc phong cho Lê Duy Hi làm Quốc vương An Nam, năm 1789 sắc phong cho cho Nguyễn Quang Bình là người lật đổ triều Hậu Lê, sáng lập ra triều Tây Sơn làm Quốc vương An Nam, năm 1802 sắc phong cho Nguyễn Ánh làm Quốc vương An Nam. Thời kỳ đó, khi Nguyễn Ánh đến cầu phong, tỏ ý đã thống trị được các địa phương như “Việt Thường, Chân Lạp” nên muốn đổi quốc hiệu từ “An Nam” thành “Nam Việt”. Triều đình nhà Thanh mới bắt đầu cho rằng nước Nam Việt là chính quyền cát cứ thời kỳ giữa nhà Tần và nhà Hán, cai quản các khu vực Quảng Đông, Quảng Tây và Bắc bộ, Trung bộ của Việt Nam nên chưa phê chuẩn. Hoàng đế Gia Khánh sau đó nhấn mạnh, Nguyễn Ánh đã lần lượt thống trị được “đất cũ Việt Thường”, sau lại chiếm toàn bộ lãnh địa An Nam nên đã phê chuẩn tên nước là “Việt Nam ”. Nguyễn Ánh cũng tỏ ý tiếp nhận, từ đó nước này có tên là “Việt Nam ”. Thứ hai, khi đã xác định quan hệ tông phiên, vua Việt Nam định kỳ sai sứ giả sang Trung Quốc triều cống, Hoàng đế Trung Quốc lại cho những phẩm vật có giá trị lớn hơn gọi là “hồi tặng”. Ví dụ như trong các năm 1644 – 1885, các đời vua Việt Nam tổng cộng đã cử hơn 60 đoàn sứ giả sang Trung Quốc triều cống, phẩm vật triều cống chủ yếu là lư hương bằng vàng, lọ hoa vàng, hộp bạc, trầm hương…, nhà Thanh hồi tặng cũng tương đối cố định, tổng giá trị nói chung lớn hơn vật cống. Năm 1790 triều Tây Sơn cho đoàn sứ giả sang chúc thọ Hoàng đế Càn Long, phẩm vật ban tặng của Càn Long trước sau tổng cộng có hơn 10.000 lạng bạc, 11 vật báu Đại Nguyên cùng các đồ tơ lụa, đồ ngọc sức, đồ sứ, đồng hồ Tây… Thứ ba, dưới tiền đề quan hệ tông phiên, Trung Quốc là “Thiên triều thượng quốc”, Việt Nam là phiên thuộc, đó chỉ là phản ánh của “hệ thống lễ trị thiên triều” theo quan hệ đẳng cấp giữa quân chủ hai nước và trạng thái tâm lý về mặt văn hóa chứ hoàn toàn không làm thay đổi thực chất quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam với tư cách là hai quốc gia, Trung Quốc hoàn toàn không chủ động can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam về cả đối nội và đối ngoại. Dưới tiền đề quan hệ tông phiên, Trung Quốc và Việt Nam trên tổng thể giữ quan hệ hữu hảo, cũng có lúc xảy ra xung đột, chiến tranh, nhưng ngoài việc quân Nguyên xâm lược Việt Nam và triều đình nhà Minh thiết lập trở lại chế độ quận huyện ở Việt Nam vào các năm 1407 – 1427, các cuộc xung đột và chiến tranh còn lại phần lớn là do các chúa phong kiến Việt Nam xâm phạm quấy nhiễu khu vực biên giới của Trung Quốc. Việc triều đình nhà Thanh đưa quân sang Việt Nam vào các năm 1788 – 1789 và 1885 cũng là trong bối cảnh đặc biệt theo yêu cầu của các nhà thống trị Việt Nam, xuất quân sau khi đã thận trọng xem xét nhưng đã nhanh chóng rút quân về nước. Trong 60 năm từ sau năm 1885 Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, các sự kiện lớn trong quan hệ Trung-Việt chủ yếu có hai phương diện: Thứ nhất, hai nước Trung – Pháp đã thông qua đàm phán hoạch định biên giới Trung-Việt. Xét trên tổng thể, biên giới đường bộ theo cách phân định lần này về cơ bản là phù hợp với diễn biến trong lịch sử, lần đầu tiên đã xác định chủ quyền đối với phần lớn biên giới lãnh thổ bằng hình thức hiệp ước, từ đó đã phân định biên giới trên cơ sở pháp luật một cách khách quan, làm cho đường phân định này trở thành cơ sở để hai nước duy trì và ổn định đường biên giới trên bộ. Thứ hai, quan hệ giữa nhân dân hai nước chủ yếu được thể hiện bằng việc hai nước cùng chống lại xâm lược của nước ngoài. Sau năm 1885 dù là “Phong trào Cần vương” (đấu tranh vũ trang chống Pháp) do giới quý tộc ở Việt Nam phát động hay là khởi nghĩa của nông dân, cũng đều được quân Cờ đen là lực lượng vũ trang địa phương ở khu vùng Quảng Tây ủng hộ. Chính phủ nhà Thanh tuy không muốn tiếp tục vì Việt Nam mà xung đột với Pháp nhưng cũng ngầm bảo vệ một số ít nhân sĩ chống Pháp ở Việt Nam, ví dụ như Nhiếp chính vương Tôn Thất Thuyết dưới thời vua Hàm Nghi của Việt Nam (1839 – 1913) là người lãnh đạo quan trọng của phong trào Cần vương đánh Pháp, sau khi thất bại chạy sang Trung Quốc, đã được Chính phủ nhà Thanh sắp xếp cho chỗ ở và bảo vệ. Đầu thế kỷ 20 Việt Nam bước vào giai đoạn cách mạng dân chủ tư sản, hoạt động của các chí sĩ yêu nước Việt Nam như Phan Bội Châu… được Lương Khải Siêu và Tôn Trung Sơn ở Trung Quốc ủng hộ. Tháng 5/1925 Hồ Chí Minh lại thành lập Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí ở Quảng Châu, đó là tổ chức cách mạng đầu tiên của Việt Nam được chỉ đạo bằng Chủ nghĩa Mác – Lênin, cũng là tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ra sức ủng hộ Hồ Chí Minh. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc như Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân đã đến giảng bài tại “Lớp huấn luyện chính trị đặc biệt”, đào tạo một lớp cán bộ cách mạng, phần lớn trong số họ về nước tham gia đấu tranh cách mạng, cũng có một số ở lại cùng chiến đấu với các đồng chí Trung Quốc, đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Trung Quốc. Từ năm 1930 Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo quần chúng công nông đấu tranh chống Pháp chống Nhật, không ít cán bộ cao cấp của Việt Nam như Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Chu Văn Tấn, Nguyễn Văn Minh đều đã tiến hành đấu tranh cách mạng trong sự che chở, bảo vệ của nhân dân hai tỉnh Quảng Tây và Vân Nam. Hồ Chí Minh đã hoạt động lâu dài ở Trung Quốc, xây dựng mối quan hệ chiến đấu hữu nghị sâu nặng với Đảng Cộng sản Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc, đến năm 1944 mới trở về Việt Nam, năm 1945 lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc “Cách mạng tháng Tám”, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố thành lập. Quan hệ Trung-Việt từ năm 1949 đến nay (Vu Hướng Đông, GS Viện trưởng Viện nghiên cứu Việt Nam, Học viện Chủ nghĩa Mác, Đại học Trịnh Châu) Ngày 1 tháng 10 năm 1949, Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, nhân dân Việt Nam lúc đó đang tiến hành cuộc đấu tranh gian khổ chống lại kẻ thù xâm lược Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 18 tháng 1 năm 1950, Trung Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Trung Quốc trở thành nước đầu tiên trên thế giới công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Đã hơn 60 năm, quan hệ Trung – Việt lúc lên lúc xuống: Những năm 50 – 60 thế kỷ trước là thời kỳ thân thiết “vừa là đồng chí vừa là anh em”, sau những năm 70 là thời kỳ bước vào trạng thái không bình thường, cho đến khi xảy ra cuộc chiến ở khu vực biên giới năm 1979. Năm 1991 Trung Quốc và Việt Nam thực hiện bình thường hóa quan hệ, gần 20 năm trở lại đây quan hệ hai nước nói chung đã trải qua ba giai đoạn là khôi phục quan hệ năm 1991 – 1998, hợp tác toàn diện năm 1998 – 2007, quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện từ năm 2008 đến nay. Sự điều chỉnh lớn và lựa chọn chiến lược trong chính sách ngoại giao nói trên trước hết là dựa vào nhu cầu nội tại liên quan lợi ích quốc gia, bao gồm lợi ích chính trị, lợi ích kinh tế và lợi ích an ninh của mỗi nước làm chỗ dựa căn bản, thứ hai cũng do quan hệ địa chính trị trong bối cảnh chịu ảnh hưởng của những biến động trong tình hình thế giới đem lại. Từ những năm 50 thế kỷ trước đến nay lợi ích quốc gia của hai nước Trung-Việt được biểu hiện khác nhau trong những thời kỳ khác nhau và trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Trung Quốc trong những năm 50 đến những năm 70 chủ yếu biểu hiện ở việc mở rộng sự nghiệp cách mạng và xây dựng trong nước, xây dựng và củng cố cơ sở của chế độ xã hội chủ nghĩa, nỗ lực phá vỡ sự kiềm chế, phong tỏa của các thế lực thù địch phương Tây đứng đầu là Mỹ, từng bước loại bỏ áp lực quân sự rất lớn của tập đoàn Liên Xô, tranh thủ điều kiện và khả năng cải thiện môi trường xung quanh và môi trường quốc tế. Từ khi cải cách mở cửa đến nay Trung Quốc tập trung xây dựng kinh tế, ra sức thực hiện trỗi dậy hòa bình và hiện đại hóa. Đối với Việt Nam , trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, lợi ích căn bản của Việt Nam là tranh thủ độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Sau khi cuộc chiến tranh chống Mỹ thắng lợi, lợi ích này được biểu hiện chủ yếu ở việc khôi phục và xây dựng kinh tế, đồng thời thông qua kiểm soát Campuchia và Lào tranh thủ vị trí địa chính trị có lợi ở khu vực Đông Dương. Từ sau những năm 80 thế kỷ trước đến nay, chủ yếu biểu hiện trong cố gắng thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội, phát triển kinh tế, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới mở cửa, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Năm 1986, đứng trước cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội nghiêm trọng do chiến lược hỏng và môi trường quốc tế bị cô lập, Đại hội đảng toàn quốc lần thứ 6 Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định con đường và phương hướng chiến lược phát triển mới, từng bước cải cách và từ bỏ mô hình kinh tế kế hoạch tập trung cao độ theo kiểu Liên Xô, chuyển trọng tâm sang xây dựng kinh tế, đưa Việt Nam vào giai đoạn đổi mới mở cửa phát triển toàn diện. Nhu cầu thúc đẩy sự nghiệp đổi mới mở cửa và xây dựng kinh tế trở thành động lực nội tại khiến Việt Nam điều chỉnh quan hệ với Trung Quốc và giữ quan hệ láng giềng hữu nghị với Trung Quốc sau khi bình thường hóa quan hệ. Đại hội lần thứ sáu Đảng Cộng sản Việt Nam còn đề ra phương châm ngoại giao “thêm bạn bớt thù”, thay đổi tư duy ngoại giao “nghiêng hẳn về một phía”, liên minh với Liên Xô trước đây, thực hiện đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa một cách toàn diện. Việc Việt Nam điều chỉnh chiến lược đối ngoại liên quan rất nhiều đến sự thay đổi về môi trường địa chính trị. Đặc biệt sau khi Liên Xô sụp đổ, chiến lược ngoại giao trước đây của Việt Nam đã mất đi cơ sở tồn tại. Việt Nam đưa quân sang Campuchia không chỉ mang thêm gánh nặng kinh tế mà còn lún sâu thêm vào tình trạng hết sức bị cô lập trên trường quốc tế. Cộng đồng quốc tế, nhất là các nước ASEAN yêu cầu mạnh mẽ Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia, giải quyết vấn đề Campuchia một cách công bằng, hợp lý, một số nước từ đó đã đề xuất chủ trương biến chiến trường thành thị trường ở khu vực Đông Dương. Từ khi cải cách mở cửa đến nay, điểm cơ bản trong chiến lược ngoại giao hội nhập quốc tế của Việt Nam là bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, tiến đến bình thường hóa quan hệ với các nước ASEAN và Mỹ. Trên cơ sở đó Việt Nam thực hiện “ba bước đi” là gia nhập ASEAN, gia nhập Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) và gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO). Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã coi việc bình thường hóa quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam là “điều kiện hết sức cần thiết để ổn định tình hình khu vực”. Năm 1991, Đại hội lần thứ bẩy Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ chính sách đối ngoại của Việt Nam là “thúc đẩy tiến trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, từng bước mở rộng hợp tác Việt –Trung”. Cố gắng tìm kiếm biện pháp bình thường hóa quan hệ với Việt Nam của Trung Quốc đã được đáp ứng một cách đúng mức. Tháng 10/1989 trong khi tiếp Quốc vương Sihanouk của Campuchia và nhà lãnh đạo Kayson Phomvihane của Lào, Đặng Tiểu Bình đều cho biết Việt Nam đề xuất muốn bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, chúng tôi hoan nghênh nhưng Việt Nam phải rút toàn bộ quân ra khỏi Campuchia. Chỉ có như vậy mới kết thúc được quá khứ, quan hệ Trung-Việt mới có thể khôi phục. Đối với chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Đặng Tiểu Bình nói hy vọng ông Nguyễn Văn Linh “thừa cơ quyết đoán ngay, kết thúc gọn ghẽ vấn đề Campuchia”, đồng thời tỏ ý hy vọng có thể mắt thấy vấn đề Campuchia được giải quyết, quan hệ Trung-Việt khôi phục bình thường vào trước hoặc sau khi Đặng Tiểu Bình nghỉ hưu, kết thúc “một bầu tâm sự”. Cải cách mở cửa ở Trung Quốc và đổi mới mở cửa ở Việt Nam có một số bối cảnh và cơ sở giống nhau, đều lựa chọn con đường đi từng bước, dần dần xây dựng thể chế kinh tế thị trường mang đặc sắc của mỗi nước. Cải cách ở Trung Quốc đi trước Việt Nam một bước, đến đầu những năm 90, sức sản xuất xã hội, sức mạnh tổng hợp quốc gia và mức sống của nhân dân Trung Quốc đều đã được nâng cao mạnh mẽ, xu hướng trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc ngày càng thể hiện rõ. Việt Nam cũng ở vào thời kỳ phát triển nhanh, dần dần trỗi dậy ở khu vực Đông Nam Á. Đối với Việt Nam, hữu nghị với Trung Quốc cũng được, đối kháng cũng không sao nhưng dù thế nào, đối với Trung Quốc là một nước láng giềng lớn như vậy sẽ không thể bỏ được. Ở Việt Nam có câu thành ngữ “bán anh em xa mua láng giềng gần”. Phương thức tư duy xử thế như vậy đã có ảnh hưởng nhất định đối với cách xác định quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc sau khi đã bình thường hóa quan hệ. Xét từ nhân tố Trung Quốc, cách xem xét cơ bản trong việc điều chỉnh quan hệ với Trung Quốc của Việt Nam còn có hai phương diện rất đáng chú ý: Một là đổi mới mở cửa đòi hỏi phải vận dụng kinh nghiệm của Trung Quốc; Hai là đi theo con đường xã hội chủ nghĩa yêu cầu phải có sự ủng hộ của Trung Quốc. Trước và sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, ảnh hưởng của ý thức hệ trong quan hệ quốc tế tuy có phần giảm đi nhưng sự đồng thuận về chính trị và xu hướng giá trị giữa Việt Nam và Trung Quốc, vai trò của những yếu tố này đã từng được phát huy trong việc thúc đẩy bình thường hóa quan hệ và phát triển quan hệ sau đó. Quan chức Việt Nam cho rằng Việt Nam thiếu công nghệ và các thiết bị tiên tiến, nếu có tiền cũng có thể mua được từ phương Tây, nhưng phương thức phát triển của Trung Quốc và kinh nghiệm thành công của Trung Quốc dù có tiền cũng khó mua được từ các nước khác. Trong quá trình phát triển quan hệ Trung – Việt, tranh chấp Nam Hải bắt đầu từ những năm 70 thế kỷ trước đã trở thành nhân tố tiêu cực lớn. Trong bối cảnh biến động ghê gớm về địa chính trị trên thế giới và khu vực, phương thức của Việt Nam thông qua dư luận để tuyên truyền và chiếm đóng về mặt quân sự, không ngừng khuấy lên tranh chấp với Trung Quốc ở Nam Hải đã trở thành một trong những nhân tố làm cho quan hệ Trung-Việt hiện nay xấu đi, cũng khiến cho quan hệ hai nước trong thế kỷ 21 đứng trước thử thách nghiêm trọng. Mọi người đều biết, năm 1958 trong một bức thư ngoại giao do Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng gửi cho Thủ tướng Chu Ân Lai đã công nhận chủ quyền đối với Tây Sa và Nam Sa (Hoàng Sa và Trường Sa) là thuộc về Trung Quốc, năm 1974 lại công khai ủng hộ cuộc chiến phản kích tự vệ của Trung Quốc ở quần đảo Tây Sa. Năm 1975, sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam đã hoàn toàn thay đổi lập trường trong vấn đề Nam Hải. Mùa Xuân năm đó hải quân ViệtNam đã căn cứ theo chỉ thị của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam bí mật xuất quân, chiếm lĩnh trái phép các đảo thuộc quần đảo Nam Sa như đảo Nam Tử (Việt Nam gọi là Song Tử Tây), đảo Cát (hay còn gọi là bãi cát Đôn Khiêm), (Việt Nam gọi là đảo Sơn Ca), đảo Hồng Hưu (Việt Nam gọi là đảo Nam Yết), đảo Cảnh Hồng (Việt Nam gọi là đảo Sinh Tồn). Nửa cuối những năm 70 đầu những năm 80 Việt Nam lần lượt công bố 4 sách trắng và một số bài nghiên cứu, tuyên bố các quần đảo Tây Sa và Nam Sa là các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, đánh lừa cộng đồng quốc tế. Trước việc làm nói trên Trung Quốc đã kiên quyết đáp trả và tỏ rõ lập trường nghiêm chỉnh của mình. Sau đó Việt Nam lại tiếp tục gặm nhấm thêm một bước các đảo của Trung Quốc, tăng cường xâm chiếm trái phép, không ngừng nâng cao quy cách hoạch định khu vực quản lý hành chính đối với cái gọi là “quần đảo Hoàng Sa” và “quần đảo Trường Sa”, đồng thời mở rộng mức độ hợp tác với các công ty nước ngoài, tiến hành thăm dò khai thác dầu khí, ngang nhiên cướp đoạt tài nguyên biển của Trung Quốc. Mặc dù quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước được khôi phục và không ngừng phát triển, việc hoạch định biên giới trên đất liền và biên giới Vịnh Bắc Bộ đã có thành công, nhưng đến nay vấn đề tranh chấp Nam Hải giữa Trung Quốc và Việt Nam vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng. Những năm gần đây, Việt Nam có ý đồ thúc đẩy “quốc tế hóa” vấn đề nói trên. Một là tuyên bố Nam Hải (Biển Đông) là khu vực biển chung của các nước Đông Nam Á, lôi kéo một số nước như Philíppin, Malaixia cùng đối đầu với Trung Quốc; Thứ hai là lợi dụng nhân tố nước lớn ngoài khu vực can thiệp khiến tình hình Nam Hải càng trở nên phức tạp. Việt Nam đã thông qua vận động khiến cho Hội địa lý quốc gia Hoa Kỳ sửa đổi lại cách chú thích các tên đất liên quan đến một số bãi đảo của Trung Quốc theo hướng có lợi cho họ. Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton đã công khai tỏ thái độ về vấn đề Nam Hải hòng đục nước béo cò. Hải quân Mỹ và hải quân Việt Nam từ hình thức giao lưu trên tầu năm ngoái cho đến diễn tập quân sự hỗn hợp diễn ra như hiện nay, quan hệ giữa hai bên không ngừng được nâng cấp. Đầu năm 2007, Hội nghị toàn thể trung ương lần thứ 4 khóa 10 Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiên cứu thông qua “Chiến lược biển đến năm 2020”, nâng cấp chiến lược kinh tế biển mà Việt Nam vẫn nhấn mạnh trước đây thành chiến lược biển toàn diện lâu dài trong đó lấy “biển làm cho đất nước giàu mạnh” là mục tiêu, “dựa vào biển để làm giàu” là hướng đi, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển với bảo vệ “chủ quyền và lợi ích biển”. Cùng với việc thực thi chiến lược biển nói trên, Việt Nam tiếp tục áp dụng phương châm đối đầu trực diện với Trung Quốc, một bước không lùi để xử lý vấn đề tranh chấp Nam Hải, mở rộng mức độ xâm phạm lợi ích biển của Trung Quốc, đẩy mạnh chiếm đoạt nguồn dầu khí ngoài khơi của Trung Quốc, khiến cho Trung Quốc và Việt Nam những năm gần đây luôn luôn bất đồng trong vấn đề Nam Hải, va chạm cũng liên tục xảy ra. Vấn đề tranh chấp Nam Hải liên quan mật thiết đến lợi ích quốc gia của mỗi nước Trung Quốc và Việt Nam , nhưng không phải là toàn bộ nội dung trong quan hệ Trung-Việt. Hiện nay, Trung Quốc cần bảo vệ cơ hội chiến lược để phát triển, Việt Nam cũng cần bảo vệ “cơ hội vàng” để phát triển. Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ hai bên trước tiên cần có thiện ý thiết thực và cơ sở tin cậy lẫn nhau vững chắc, sau đó là tìm kiếm phương thức và biện pháp thích hợp để hiệp thương giải quyết vấn đề. Trung Quốc viện trợ Việt Nam trong đấu tranh chống Pháp và chống Mỹ (Lộc Đức An, PGS thuộc Viện trưởng Viện nghiên cứu Việt Nam, Học viện Chủ nghĩa Mác, Đại học Trịnh Châu) Từ thời kỳ cận đại Trung Quốc và Việt Nam đã từng chung vai sát cánh chống xâm lược của nước ngoài, đặc biệt sau khi thành lập năm 1949, nước Trung Quốc mới đã viện trợ cho Việt Nam khối lượng lớn. Hiện nay, nhiều người dân ở hai nước đều nhớ rõ những năm tháng “vừa là đồng chí vừa là anh em”, trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ “sau 50” và “sau 60” ở Việt Nam cũng không quên được chuyện cũ về việc Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam. Tuy nhiên, vào tháng 6 năm 2011 trong những ngày nắng nóng của mùa Hạ, một số thanh niên Việt Nam dường như đã xác định người “láng giềng Trung Quốc thân xác to, bụng dạ xấu”. Đây có thể là biểu hiện xốc nổi nhất thời của những người trẻ tuổi, nhưng cũng đồng thời nói lên rằng họ không hiểu một sự thực là Việt Nam đã chống lại các cường quốc xâm lược “thân xác to bụng dạ xấu” dưới sự viện trợ của Trung Quốc, cũng không hiểu người “láng giềng Trung Quốc” đã phát huy vai trò to lớn trong cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam như thế nào. Sự khiếm khuyết trong giáo dục lịch sử đã khiến những người này thiếu sự hiểu biết. Chúng ta có thể cùng nhớ lại những năm tháng khói lửa chiến tranh này. Sau khi Nhật Bản đầu hàng, Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, lập nên Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc. Ở miền Nam, quân đội Pháp trở lại với sự trợ giúp của Anh, xây dựng chính quyền bù nhìn, một năm sau tiến công miền Bắc, nổ ra “cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất”. Chính trong thời kỳ này, nước Trung Quốc mới đã được thành lập, và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 18 tháng 1 năm 1950, trở thành nước đầu tiên trên thế giới công nhận Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự kiện này đã tác động đến Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác ở Đông Âu sau đó công nhận Việt Nam, từ đó Việt Nam có được sự ủng hộ và cổ vũ rất lớn về chính trị. Theo thỉnh cầu của phía Việt Nam , Trung Quốc đã ra sức ủng hộ cuộc chiến tranh chống Pháp. Tháng 8 năm 1950, được sự giúp đỡ của phái đoàn cố vấn Trung Quốc đứng đầu là tướng Trần Canh, quân đội Việt Nam đã mở “Chiến dịch Biên giới”, thông biên giới Trung-Việt, Trung Quốc trở thành hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ có ý nghĩa quyết định năm 1954, đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc đã tham gia vạch kế hoạch và quyết sách trong tác chiến, góp phần rất lớn trong chiến dịch này cũng như thắng lợi cuối cùng của cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam. Trong thời gian từ năm 1950 – 1954, Trung Quốc tuy gặp rất nhiều khó khăn nhưng vẫn cố gắng hết sức viện trợ kinh tế và quân sự cho Việt Nam . Tại Hội nghị Giơnevơ năm 1954, đoàn đại biểu Chính phủ Trung Quốc do Thủ tướng Chu Ân Lai dẫn đầu đã ra sức dàn xếp, thúc đẩy đi đến Hiệp định đình chiến, hòa bình ở bán đảo Đông Dương được thực hiện. Sau Hội nghị Giơnevơ, Chính phủ Eisenhower của Mỹ viện trợ kinh tế và quân sự cho miền Nam Việt Nam hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng ở miền Nam , tiến thêm một bước trong ý đồ “ăn thịt” Bắc Việt Nam . Trung Quốc đã ủng hộ miền Bắc Việt Nam chống Mỹ can thiệp. Tháng 12 năm 1954 Chính phủ hai nước Trung-Việt ký Nghị định thư về việc Trung Quốc viện trợ Việt Nam sửa chữa đường sắt, khôi phục ngành bưu chính viễn thông, sửa chữa khôi phục vận tải đường bộ và đường thủy, thủy lợi…. Năm 1955 Hồ Chí Minh sang thăm Trung Quốc, thỉnh cầu Trung Quốc viện trợ xây dựng các công trình về khai thác than, xây dựng nhà máy xi măng, nhà máy dệt, nhà máy điện, Chính phủ Trung Quốc lập tức cử người đến Việt Nam, đồng thời viện trợ cho Việt Nam 800 triệu nhân dân tệ. Trong văn kiện kèm theo của “Nghị định thư giữa Trung Quốc và Việt Nam về việc Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam năm 1955”, Trung Quốc đã cung cấp khối lượng lớn vật dụng trong đời sống và sản xuất như lương thực cho Việt Nam. Tháng 2/1959 tại Bắc Kinh Trung Quốc và Việt Nam ký 7 hiệp định, trong đó có “Hiệp định về việc Chính phủ Trung Quốc viện trợ kinh tế kỹ thuật cho Chính phủ Việt Nam”, theo đó Trung Quốc đã cung cấp các khoản viện trợ kinh tế, kỹ thuật cho Việt Nam, đồng thời viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam 100 triệu nhân dân tệ. Năm 1961, Kennedy mở rộng “chiến tranh đặc biệt” tại Việt Nam, cách mạng Việt Nam đứng trước khó khăn to lớn, Trung Quốc triển khai viện trợ toàn diện cho Việt Nam. Từ năm 1961 – 1963, Chính phủ và các giới trong xã hội Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố, lên án Mỹ can thiệp Việt Nam và chế độ thống trị đen tối của Ngô Đình Diệm tại Việt Nam . Ngày 29 tháng 8 năm 1963, Chủ tịch Mao Trạch Đông đã ra “Tuyên bố phản đối tập đoàn Mỹ-Diệm xâm lược miền Nam Việt Nam và thảm sát nhân dân miền Nam Việt Nam”, lên tiếng viện trợ cho nhân dân Việt Nam. Tháng 3 năm 1963, La Thụy Khanh dẫn đầu đoàn đại biểu quân sự Trung Quốc đi thăm Việt Nam, cùng với nhà lãnh đạo Việt Nam nghiên cứu kế hoạch hợp tác hai nước Trung-Việt khi kẻ thù tiến công miền Bắc Việt Nam. Tháng 5, Lưu Thiếu Kỳ đi thăm Việt Nam, bày tỏ với Hồ Chí Minh nếu xảy ra chiến tranh, họ có thể coi Trung Quốc là hậu phương. Tháng 1 năm 1961 Trung Quốc và Việt Nam ký Hiệp định về việc Trung Quốc cho Việt Nam vay vốn lâu dài và cung cấp thiết bị đồng bộ cho Việt Nam, đồng thời ký các văn kiện như Nghị định thư về việc hai nước Trung-Việt cung cấp hàng hóa cho nhau năm 1961…, Trung Quốc còn cho Việt Nam vay lâu dài khoảng 150 triệu rúp. Mùa Hè năm 1962, Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh xin viện trợ, Trung Quốc lập tức quyết định cung cấp cho Việt Nam số lượng súng có thể trang bị cho 230 tiểu đoàn bộ binh. Cùng với sự phát triển của cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dân miền Nam , số lượng viện trợ của Trung Quốc đối với Việt Nam cũng mỗi ngày một nhiều. Sau khi Johnson lên nắm quyền, ý đồ can thiệp Việt Nam leo thang lên đến “chiến tranh cục bộ”, nghĩa là đưa lực lượng tác chiến mặt đất đến miền Nam Việt Nam . Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng dân tộc nghiêm trọng nhất, Trung Quốc đã làm tốt công tác chuẩn bị đối đầu quyết chiến toàn diện với Mỹ. Nhà lãnh đạo Mao Trạch Đông đề xuất: Nếu người Mỹ đến đánh, khi cần thiết Trung Quốc có thể gửi chí nguyện quân. Chính phủ Trung Quốc trịnh trọng tuyên bố: “Mỹ xâm phạm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là xâm phạm Trung Quốc, người Trung Quốc quyết không ngồi nhìn”. Ngày 29/3/1965, Chu Ân Lai tuyên bố tại Anbani: “Nhân dân Trung Quốc kiên quyết chi viện tất cả vật chất cần thiết cho nhân dân Việt Nam , bao gồm vũ khí và mọi công cụ tác chiến. Chúng tôi còn chuẩn bị cử người của mình sang cùng chiến đấu với nhân dân Việt Nam khi nào nhân dân Việt Nam yêu cầu”. Ngày 2/4, Thủ tướng Chu Ân Lai thông qua Pakixtan chuyển đến nước Mỹ lập truờng của Chính phủ Trung Quốc trong vấn đề Việt Nam , cảnh báo Mỹ: Nếu Mỹ xâm phạm Trung Quốc, Trung Quốc sẽ không hề do dự đứng lên chiến đấu đến cùng. Mỹ có tiến vào cũng không thể rút ra được. Ngày 20/5/1970, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam ở vào thời kỳ gian khổ nhất, Mao Trạch Đông ra “Tuyên bố 20/5” với nội dung “Nhân dân toàn thế giới đoàn kết lại, đánh bại quân xâm lược Mỹ và tất cả tay sai của chúng”, tuyên bố nghiêm khắc “nhân dân Trung Quốc kiên quyết ủng hộ cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ba nước Đông Dương và nhân dân các nước trên thế giới chống Đế quốc Mỹ và tay sai của chúng”. Từ tháng 10/1965 đến tháng 3/1968, Trung Quốc đã cử sang Việt Nam tổng cộng hơn 320 nghìn người gồm bộ đội phòng không, đường sắt, và đảm bảo hậu cần, năm nhiều nhất lên đến hơn 170 nghìn người. Trong khi đưa bộ đội chi viện Việt Nam vào tác chiến ở miền Bắc Việt Nam, Trung Quốc cũng đồng thời tiếp tục viện trợ vật chất với khối lượng lớn cho Việt Nam. Trung Quốc còn đảm đương nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa vật chất do Liên Xô và các nước Đông Âu viện trợ đến Việt Nam, dù trong điều kiện quan hệ Trung – Xô đổ vỡ, vẫn vận chuyển kịp thời và an toàn hàng hóa vật chất do Liên Xô và các nước viện trợ đến Việt Nam theo yêu cầu của cuộc chiến tranh cứu nước của Việt Nam mà không thu bất cứ khoản chi phí nào. Việt Nam là một trong các nước mà Trung Quốc viện trợ trong thời gian dài nhất và số lượng lớn nhất. Từ năm 1950 đến giữa những năm 1970 thế kỷ 20 khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc, Trung Quốc đã liên tục viện trợ và ủng hộ Việt Nam, tổng giá trị viện trợ vượt quá 20 tỉ USD, tuyệt đại đa số là viện trợ không hoàn lại. Viện trợ của Trung Quốc đã làm tăng sức mạnh quân sự và khả năng tác chiến của Việt Nam, tạo khả năng răn đe đối với Pháp và Mỹ, đóng vai trò then chốt trong cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước của Việt Nam. Đối với viện trợ của Trung Quốc, các nhà lãnh đạo cấp cao của Việt Nam đã nhiều lần đánh giá cao. Viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam đã cải thiện điều kiện tác chiến của quân đội Việt Nam , nâng cao sức mạnh quân sự của Việt Nam . Pháp và Mỹ là các nước tư bản phát triển, Việt Nam là nước thuộc địa cũ yếu nhược, lại bị Nhật Bản chiếm đóng nhiều năm, chênh lệch về trang bị quân sự giữa hai bên như thế cũng đủ biết. Ở thời kỳ đầu trong các cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, viện trợ của Liên Xô đối với Việt Nam không thật tích cực, Trung Quốc vừa mới thành lập nước tuy không giàu có nhưng đã ủng hộ Việt Nam với mức độ lớn nhất. Viện trợ quân sự của Trung Quốc đối với Việt Nam không chỉ nhiều về số lượng mà chất luợng cũng tốt, một số loại trang bị vũ khí do Trung Quốc nghiên cứu chế tạo tự Trung Quốc còn chưa trang bị nhưng đã ưu tiên phần lớn cung cấp cho Việt Nam để đảm bảo theo yêu cầu cấp thiết của Việt Nam. Trung Quốc thậm chí còn cắt bớt bộ đội tại ngũ của mình gửi sang Việt Nam . Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Trung Quốc đều cử nhân viên quân sự trực tiếp tham gia chiến đấu. Từ phái đoàn cố vấn quân sự trong chiến tranh chống Pháp cho đến 320 nghìn bộ đội công binh, cao xạ pháo…, quân nhân Trung Quốc đã vào trận cùng với Việt Nam đối đầu trực diện với Mỹ, có hơn 4.000 sĩ quan chiến sĩ đã hiến dâng sinh mệnh của mình, trong đó có hơn 1.000 liệt sĩ hiện vẫn nằm lại ở 57 nghĩa trang của Việt Nam. Họ đã dùng máu và mồ hôi của mình đúc nên những tấm bia bất hủ cho công cuộc giải phóng, giành độc lập của dân tộc Việt Nam bằng khí phách gan dạ. Về vấn đề viện trợ của Trung Quốc cho Việt nam tạo tác dụng răn đe đối với Pháp và Mỹ, trong khi tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp tại Việt Nam, cuộc chiến tranh ở bán đảo Triều Tiên cũng đồng thời diễn ra quyết liệt, chí nguyện quân nhân dân Trung Quốc chiến đấu anh dũng ở Triều Tiên cũng kiềm chế quân Mỹ, làm cho chúng không thể viện trợ cho hành động quân sự của Pháp tại Việt Nam. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, quân Pháp bị quân đội Việt Nam bao vây, phải cầu cứu quân Anh, Quốc hội Mỹ thông qua nghị quyết, cho phép Chính phủ Mỹ can thiệp trong điều kiện có thêm nước Anh và nhiều nước khác cùng tham gia, Anh quốc lo ngại can thiệp quá nhiều sẽ khiến Trung Quốc tham chiến, gây tổn hại đến lợi ích của họ tại Hồng Công và Đông Nam Á nên đã từ chối đưa quân, khiến cho hành động chung bị hủy bỏ. Nếu không có ảnh hưởng tâm lý của Trung Quốc đối với các nước lớn như Anh và Mỹ thì hai nước Anh-Mỹ có khả năng sẽ viện trợ cho Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ, nếu vậy thì kết quả chiến dịch có thể sẽ thay đổi. Ngoài ra, chính biểu hiện của Trung Quốc tại chiến trường Triều Tiên và những cố gắng viện trợ, ủng hộ toàn diện của Trung Quốc đối với Việt Nam trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế và quân sự, phủ bóng đen trong tâm lý của các nhà quyết sách Mỹ nên nước Mỹ đã không dám dễ dàng chuyển lửa ra miền Bắc Việt Nam, cũng như không dám vượt qua vĩ tuyến 17 để đi vào vùng biển dày đặc thủy lôi, dù chỉ là một bước. Biến đổi trăm năm trong chiến lược ngoại giao nước lớn của Việt Nam (Tô Hồng Niên-Vương Sâm: GS, Viện nghiên cứu Việt Nam, Học viện Chủ nghĩa Mác, Đại học Trịnh Châu) Năm 1802 triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam – Triều Nguyễn thành lập, giữa triều đại này với Trung Quốc là quan hệ tông-phiên truyền thống, xác định “Việt Nam” là tên nước. Khi đó Việt Nam đã bắt đầu tiếp xúc với cường quốc châu Âu là nước Pháp, sau đó cùng với ván cờ lớn quốc tế biến động, Việt Nam đã có lịch sử đau thương cả trăm năm dưới sự thống trị thực dân của các cường quốc, phải vùng lên đấu tranh, cũng trải qua những năm tháng gian khổ chống lại Pháp và chống Mỹ dựa vào viện trợ của Trung Quốc và Liên Xô, còn có cả bước ngoặt lịch sử ngoại giao từ chỗ “nghiêng về một phía” đến “toàn diện”… Quan hệ giữa Việt Nam với nước lớn trong hơn 200 năm đã ảnh hưởng đến chiến lược ngoại giao của họ trong các thời kỳ, để lại những chuyện đáng phải xem xét. Tháng 11 năm 1787, tại Cung điện Versailles ở Pari, thủ đô nước Pháp, Giáo sĩ truyền giáo Bá Đa Lộc (Pedro) đang thay mặt cho kẻ thống trị Việt Nam trong tương lai là Nguyễn Ánh ký với Pháp một bản Hiệp ước. Hiệp ước này quy định, chính quyền họ Nguyễn phải cắt nhượng đảo Côn Lôn (Côn đảo) và cảng biển Hội An cho Pháp, và phải đảm bảo cho Pháp được độc quyền về thương mại ở nước này v.v.. Lúc đó Nguyễn Ánh đang tìm kiếm viện trợ để tiêu diệt nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã quen biết Giáo sư Pedro từ Pháp sang, Pedro kiến nghị Nguyễn Ánh cầu xin viện trợ của Đại Pháp, vậy là có được màn diễn như vừa nói trên. Nguyễn Ánh hiển nhiên muốn dựa vào sự ủng hộ của Pháp để nhanh chóng xây dựng vương triều của mình nhưng hy vọng này đã thành ảo tưởng, vì Chính phủ Pháp không thể thực hiện hiệp ước đưa “quân viễn chinh” sang Việt Nam . Sau năm 1789 ở nước Pháp nổ ra cuộc Đại cách mạng, đến năm 1802 thống nhất Việt Nam, triều Nguyễn vẫn chưa được Chính phủ Pháp viện trợ quân sự, lẽ tự nhiên cũng không cần phải thực cam kết cắt đất, thông thương. Điều mà vua tôi Việt Nam không nghĩ đến là sau hơn 50 năm “quân viễn chinh” Pháp đã không mời mà đến. Năm 1858, hạm đội liên hợp của Pháp và Tây Ban Nha đã nổ súng vào Đà Nẵng, trong hơn 10 năm sau đó đã thôn tính 6 tỉnh ở Nam bộ Việt Nam như Biên Hòa, Định Tường…, lại còn bức nhà Nguyễn phải ký hiệp ước cắt nhượng, bồi thường và thông thương. Sau năm 1873, thực dân Pháp tấn công miền Bắc Việt Nam, năm 1874 ký hiệp ước bất bình đẳng với Việt Nam, ngoài cưỡng bức mở bến thông thương đến Hà Nội, còn cho biết nước Pháp “thừa nhận chủ quyền và độc lập hoàn toàn của vua An Nam”. Trong vua quan nhà Nguyễn có người mang ảo tưởng đối với “chủ quyền và độc lập hoàn toàn”, quân và dân yêu nước lại lo lắng đến âm mưu ở phía sau, tự phát cùng với quân cờ đen do Lưu Vĩnh Phúc lãnh đạo chống lại quân Pháp, đồng thời kêu gọi vua Tự Đức sớm sang cầu viện Trung Quốc kịp thời. Sau năm 1880, quân Pháp ráo riết tấn công Việt Nam , vua Tự Đức mới ý thức được tính chất nghiêm trọng của vấn đề, nhiều lần cử người sang Trung Quốc cầu viện. Chính phủ Trung Quốc vì thế đã nhiều lần giao thiệp với Pháp, lại trên cơ sở quan hệ tông-phiên làm cơ sở, đưa quân tiến đến đóng ở Bắc bộ Việt Nam, tiếp theo chiến tranh Trung-Pháp nổ ra, lửa chiến lan đến ven biển Trung Quốc, cho đến năm 1885, Trung Quốc mới không thể không thừa nhận Việt Nam do Pháp “bảo hộ”. Sau năm 1885, Việt Nam lúc đầu do thực dân Pháp thống trị, sau lại bị Nhật Bản xâm lược. Năm 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng, Hồ Chí Minh lãnh đạo nhân dân Việt Nam thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng thực dân Pháp lại quay trở lại. Trong 60 năm đó, nhân dân Trung Quốc luôn sát cánh chiến đấu với nhân dân Việt Nam, lực lượng cách mạng do Hồ Chí Minh lãnh đạo còn được đảng và nhân dân hai nước Trung – Xô ủng hộ. Nước Trung Quốc tuy mới buổi đầu thành lập bản thân cũng chưa hoàn toàn thống nhất, tình hình xây dựng trong nước cũng đang rất nặng nề nhưng đã đáp ứng tích cực trước sự cầu viện của Việt Nam và đã viện trợ cho Việt Nam với khối lượng lớn. Năm 1954, với sự ủng hộ của quân và dân Trung Quốc, quân và dân Việt Nam thu được thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ; Trong Hội nghị Giơnevơ, đoàn đại biểu ba nước Trung Quốc, Liên Xô và Việt Nam phối hợp, cùng đấu tranh, buộc Pháp ký vào bản Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở bán đảo Đông Dương, thu được thắng lợi lớn trên mặt trận ngoại giao. Năm 1955 “quân viễn chinh Pháp” rút khỏi miền Bắc Việt Nam , thời đại “Đông Dương thuộc Pháp” kết thúc. Năm 1973 Việt Nam và Pháp thiết lập quan hệ ngoại giao, năm 1993 Tổng thống Pháp Francois Mitterrand đi thăm Việt Nam, là vị nguyên thủ quốc gia đầu tiên của một nước châu Âu đi thăm Việt Nam, quan hệ song phương có được tiến triển mới. Tại Hội nghị Giơnevơ năm 1954, Mỹ từ chối ký bản Hiệp định, nhưng sau đó Mỹ đã nuôi dưỡng chính quyền bù nhìn của “Nước Việt Nam Cộng hòa”, thay thế Pháp trở thành nước chủ yếu xâm lược Việt Nam. Từ năm 1961, Chính phủ Mỹ đã đạo diễn một cuộc “chiến tranh đặc biệt”: Mỹ bỏ tiền, cung cấp vũ khí và cố vấn, chính quyền Việt Nam cung cấp người, để người Việt Nam đánh người Việt Nam . Năm 1964, Mỹ lại bày ra cái gọi là “sự kiện Vịnh Bắc bộ” theo đó hai chiếc tầu chiến của Mỹ bị tấn công trên Vịnh Bắc bộ, trực tiếp đưa máy bay oanh tạc và tập kích miền Bắc Việt Nam, năm thứ hai đội thủy quân lục chiến của hải quân lại đổ bộ lên Đà Nẵng, phát động “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam, đồng thời mở rộng tập kích miền Bắc bằng hải quân và không quân. Đứng trước sự xâm lược của Mỹ, được sự ủng hộ của Trung Quốc và Liên Xô, Đảng Lao động Việt Nam do Hồ Chí Minh đứng đầu không ngừng thu được thắng lợi, buộc Mỹ cuối cùng phải rút khỏi Việt Nam, đến năm 1975 nhân dân Việt Nam đã đập tan chính quyền Ngụy ở miền Nam, thực hiện thống nhất tổ quốc. Nhưng cho đến thập niên 80 thế kỷ trước, quan hệ Việt-Mỹ vẫn trong trạng thái đối địch. Sau thập niên 80, chính sách ngoại giao của Việt Nam không ngừng điều chỉnh theo hướng thay đổi của tình hình quốc tế. Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1991 đề xuất chủ trương “hợp tác bình đẳng cùng có lợi với tất cả các nước có chế độ chính trị xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc chung sống hòa bình”, tuyên bố “Việt Nam mong muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”. Sau đó Mỹ vốn là kẻ thù cũ được đưa vào phạm vi quan tâm trong chính sách ngoại giao của Việt Nam, quan hệ song phương tiến triển được dư luận quan tâm: Năm 1995, quan hệ hai nước thực hiện bình thường hóa và thiết lập quan hệ ngoại giao; Năm 2006, Việt Nam và Mỹ đạt Hiệp định về việc Việt Nam gia nhập WTO; Năm 2007, Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đi thăm Mỹ; Năm 2008, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đi thăm Mỹ, hai bên lần đầu tiên tổ chức đối thoại chiến lược về chính trị, an ninh và phòng vệ cấp thứ trưởng; Các năm 2009 và 2010 lại tổ chức đối thoại lần thứ hai và thứ ba. Năm 2010 Nguyễn Minh Triết đi Mỹ, cùng với Obama chủ trì Hội nghị các nhà lãnh đạo ASEAN – Mỹ, từ năm này hợp tác quân sự giữa hai nước ngày càng mật thiết, tại khu vực Biển Đông cũng bắt đầu có sự “hợp tác” chưa từng có; Năm 2010, Việt Nam và Mỹ lần đầu tiên tổ chức đối thoại chính sách quốc phòng cấp thứ trưởng, Tham mưu trưởng lục quân Mỹ George Casey thăm Việt Nam, hơn nữa tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Việt Nam với tư cách là nước Chủ tịch luân phiên, Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton phát biểu cứng rắn “can thiệp Biển Đông”, khiến một số người Việt Nam hết sức phấn chấn; Tháng 6/ 2011 tình hình Biển Đông căng thẳng đến cao độ, Bộ Ngoại giao Việt Nam lại tuyên bố hải quân Việt Nam và Mỹ sẽ diễn tập chung, nghe nói đây là “một cuộc diễn tập hàng năm, sẽ nâng cao quan hệ hải quân giữa hai nước”. Nói đến quan hệ giữa Việt Nam và Liên Xô, có người sẽ nghĩ đến viện trợ của Liên Xô đối với Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ một cách không tự giác, có người sẽ lập tức nghĩ đến hạm đội của Liên Xô từng đậu ở cảng Cam Ranh của Việt Nam. Cam Ranh là một cảng thiên nhiên nước sâu được trời phú, tầu vạn tấn có thể tự do ra vào, có thể đồng thời neo đậu khoảng 40 tầu cỡ lớn, bao gồm cả tầu sân bay, hoặc trên 100 tầu cỡ 40 nghìn tấn trở xuống, lại là bến cảng đã từng chứng kiến “Đại thế sự”: Sớm nhất là nước Pháp coi đây là điểm đậu đỗ và tiếp tế của tầu chiến, thời kỳ chiến tranh Nga-Nhật nước Pháp đã để cho tầu chiến của Sa hoàng Nga đến đậu, tiếp tế, từ năm 1940 nơi đây lại trở thành căn cứ hải quân cho hạm đội của Nhật Bản xâm lược Đông Nam Á. Từ những năm 50 của thế kỷ trước, Mỹ lại đầu tư lớn để mở rộng căn cứ Cam Ranh, nhằm đóng quân lâu dài tại miền Nam Việt Nam, xây dựng thành căn cứ chống Cộng ở Việt Nam, khiến Việt Nam vĩnh viễn trong tình trạng chia cắt. Trong quá trình tranh thủ Liên Xô, chống Mỹ giành độc lập, nhà lãnh đạo Việt Nam cảm nhận được thay đổi trong chính sách của Liên Xô. Vào cuối những năm 50 thế kỷ trước, Liên Xô với tư cách là một trong hai Chủ tịch của Hội nghị Giơnevơ, để thực hiện hòa hoãn với Mỹ, Liên Xô cuối cùng cũng lại đề nghị Việt Nam thừa nhận hai miền Nam Bắc phân chia vĩnh viễn, miền Nam và miền Bắc cùng gia nhập Liên hợp quốc với tư cách là hai quốc gia có chủ quyền. Tuy nhiên, cùng với Chiến tranh Lạnh giữa Liên Xô và Mỹ ngày càng quyết liệt cũng như quan hệ Xô-Mỹ ngày càng xấu đi, viện trợ của Liên Xô đối với Việt Nam không ngừng tăng lên, cộng thêm việc Liên Xô ra mặt ủng hộ kế hoạch của Việt Nam kiểm soát Lào và Campuchia, thành lập “Liên bang Đông Dương”, nhà lãnh đạo Việt Nam dần dần “ngả hẳn” sang Liên Xô. Năm 1969, Hồ Chí Minh qua đời, chính sách nói trên từ đó trở thành chính sách chủ đạo của lãnh đạo Việt Nam, đồng thời ký với Liên Xô “Hiệp ước hợp tác hữu nghị Xô-Việt” có tính chất liên minh quân sự rõ rệt. Năm 1979, Việt Nam giao căn cứ Cam Ranh cho Liên Xô sử dụng, hai bên đã ký hiệp ước cho Liên Xô thuê trong thời hạn 25 năm. Trên cơ sở đã được xây dựng từ trước, Liên Xô đã mở rộng quy mô cảng Cam Ranh, xây dựng bến cảng, sân bay và cơ sở viễn thông vệ tinh, số tầu đưa đến đóng tại Cam Ranh thường duy trì ở mức 20 – 30 tầu. Việt Nam và Liên Xô còn thành lập Bộ Tư lệnh căn cứ quân sự hỗn hợp ở Cam Ranh, từ đó Cam Ranh trở thành căn cứ quân sự lớn nhất của Liên Xô tại nước ngoài, cũng trở thành lô cốt tiền tiêu để Liên Xô kiềm chế Trung Quốc và cân bằng sức mạnh quân sự trên biển với Mỹ. Chính sách “nghiêng hẳn” về Liên Xô của Việt Nam tuy giúp Liên Xô có “một thời huy hoàng” xưng bá ở bán đảo Đông Dương, nhưng cũng khiến chi phí quân sự tăng cao, tình hình kinh tế xấu đi, đời sống nhân dân đi xuống, vị thế trên trường quốc tế ngày càng bị cô lập. Sau khi Liên Xô tan rã, chính sách nói trên cũng hết triển vọng. Năm 1991,
  10. Trung Quốc có thể bảo vệ được “lợi ích cốt lõi” tại Biển Đông hay không?

    Toshi Yoshihara & James R. Holmes

    Nguồn: http://quechoa.info/2011/09/12/trung-qu%E1%BB%91c-co-th%E1%BB%83-b%E1%BA%A3o-v%E1%BB%87-d%C6%B0%E1%BB%A3c-l%E1%BB%A3i-ich-c%E1%BB%91t-loi-t%E1%BA%A1i-bi%E1%BB%83n-dong-hay-khong/

    Đặt giả thuyết rằng Trung Quốc thực sự coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, bài viết của Toshi Yoshihara và James R. Holmes, Đại học Hải chiến Mỹ, phân tích khả năng thành công của Trung Quốc trong việc bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của mình tại Biển Đông. Khía cạnh mà tác giả tập trung phân tích chủ yếu nhằm vào năng lực quốc phòng của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

    Có cảm giác quanh các báo cáo rằng Trung Quốc đã tuyên bố Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của quốc gia. Các quan chức cao cấp của Trung Quốc được cho là đã đưa ra khái niệm này trong một cuộc gặp kín vào tháng 3 năm 2010 với hai chức sắc của Mỹ, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ James B. Steinberg và ông Jeffrey Bader, Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á thuộc Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ.[1] Tiếp đó, trong bài phỏng vấn với Tạp chí “The Australian”, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã tiết lộ rằng đoàn đại biểu Trung Quốc đã tái khẳng định tuyên bố của Bắc Kinh trong Đối Thoại Chiến Lược và Kinh Tế Mỹ-Trung lần thứ 2 được tổ chức tại Bắc Kinh vào tháng 5 năm 2010.[2] Từ đó xuất hiện rất nhiều các tranh cãi về của ngữ cảnh cũng như nội dung chính xác của các phát biểu tại các cuộc họp đó.[3] Từ đó, các quan chức Trung Quốc đã kiềm chế công khai mô tả Biển Đông theo thuật ngữ chính thức và cứng nhắc đó.

    Sự mơ hồ và tranh cãi xung quanh vấn đề này gợi nhớ đến một sự kiện tương tự cách đó 15 năm, khi khủng hoảng tại Eo biển Đài Loan lên tới đỉnh điểm. Vào thời điểm đó, một vị tướng của Trung Quốc đã nói với cựu đại sứ Hoa Kỳ, Chas Freeman rằng lãnh đạo Hoa Kì “nên lo cho Los Angeles hơn lo Đài Loan”. Phát biểu đó được cho là sự úp mở về một mối đe dọa hạt nhân.[4] Sự phủ nhận sau này của Trung Quốc về điều này đã tạo nên sự mập mờ về bản chất của cuộc đối thoại không chính thức này. Tuy nhiên, những sự kiện này cho thấy rằng Bắc Kinh thường khoanh đỏ những vấn đề mà họ coi là tối quan trọng đối với lợi ích của mình. Chúng cũng cảnh báo về việc xem các phát ngôn của Trung Quốc như thật.

    Đặt giả thiết cho cuộc tranh luận rằng Trung Quốc coi vấn đề Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của quốc gia. Việc khẳng định lợi ích đó đã đặt tầm quan trọng của vùng nước đó lên mức dành cho các vùng lãnh thổ như Tây Tạng, Đài Loan và Tân Cương mà Trung Quốc xem như một phần lãnh thổ quốc gia không thể tách rời của họ và sẽ bảo vệ bằng mọi giá. Điều này cho thấy một mục tiêu chính trị với phạm vi đáng ngạc nhiên. Để bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của mình, Trung Quốc có thể tăng cường các nỗ lực ngoại giao và quân sự ở mức cao nhất. Nhưng liệu Quân đội giải phóng nhân dân (PLA) có thể thực hiện điều đó và bằng cách nào?

    Liệu Bắc Kinh có các phương tiện quân sự, chiến lược và tinh thần chiến đấu quả cảm để bảo vệ được lợi ích quan trọng này của quốc gia? Đánh giá khả năng hiện tại và những khả năng tiềm ẩn của Trung Quốc sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách và các nhà phân tích xác định liệu mục đích của Bắc Kinh tại Biển Đông có nằm trong khả năng các phương tiện quân sự của họ hay không. Nếu không, cần xác định thời gian và nguồn lực mà Trung Quốc phải đầu từ để có thể bảo vệ được lợi ích cốt lõi của mình. Đánh giá được điều này sẽ gợi ý các nước liên quan chủ yếu trong khu vực có thể đối phó như thế nào với chính sách ngày càng tham vọng của Trung Quốc mà không khiêu khích một sự phản ứng thái quá từ Bắc Kinh.

    Phạm vi các mục tiêu chiến lược

    Trước tiên cần xác định Bắc Kinh hàm ý gì trong cụm từ “lợi ích cốt lõi” và chỉ đạo chiến lược nào xuất phát từ lợi ích đó? Nếu lãnh đạo Đảng cộng sản Trung Quốc thực sự xử lí vấn đề Biển Đông như đã từng làm với Đài Loan thì có thể thấy rõ một số ngụ ý chiến lược sau:

    Chủ quyền lãnh thổ là không thể chia cắt. Nếu lãnh đạo Trung Quốc coi chủ quyền trên biển không thể tách khỏi chủ quyển trên đất liền thì không thể để các tranh chấp về lãnh thổ không được giải quyết vô thời hạn.[5] Mặc dù Bắc Kinh đã có ý định gác lại các tuyên bố chủ quyền gây tranh cãi sang một bên vì mục đích khai thác chung nguồn tài nguyên thiên nhiên nhưng quan điểm của Trung Quốc về sự toàn vẹn lãnh thổ là bất khả xâm phạm. Vì thế dù thế nào thì Trung Quốc phải tìm được cách giải quyết cho vấn đề này.

    Trung Quốc cần sức mạnh vũ trang để chiếm giữ các vùng lãnh thổ mà Trung Quốc đang có tranh chấp. Theo đó, nếu Biển Đông là lợi ích cốt lỗi cần được đảm bảo trong bất cứ hoàn cảnh nào thì Trung Quốc phải chuẩn bị những điều cần thiết nhằm đánh bại nỗ lực từ các nước bên ngoài để có thể biến nguyên trạng hiện tại thành một thực tế chính trị lâu dài. Bắc Kinh cần có đủ khả năng để chiếm giữ toàn bộ và nguyên vẹn tất cả vùng lãnh thổ đang có tranh chấp đồng thời ngăn cản ý định đảo ngược các lợi ích của Trung Quốc từ kẻ thù.

    Trung Quốc phải áp đặt một trật tự mới trong khu vực. Để củng cố sự thống nhất quốc gia và bảo vệ tất cả các lợi ích cốt lõi của mình, Trung Quốc phải thiết lập một trật tự mới trong khu vực bất chấp những thách thức từ những nước láng giềng và các cường quốc bên ngoài. Nước này có thể thiết lập trật tự khu vực đó bằng sự đồng thuận hoặc ngoại giao cưỡng bức, tùy thuộc vào hoàn cảnh. Tuy nhiên để ngăn chặn các mối đe dọa đến trật tự mà Trung Quốc thiết lập, việc xây dựng một lực lương hải quân thống trị ở khu vực là điều khôn ngoan.

    Những gợi ý này sẽ thúc giục các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc hướng tới quan điểm tối đa hóa lợi ích cốt lõi của quốc gia. Nếu Bắc Kinh hành động dựa trên các gợi ý này thì Biển Đông sẽ trở thành một cái hồ của Trung Quốc trong đó PLA chặn mọi đường vào của hải quân nước ngoài.

    Một sự diễn giải khiêm tốn hơn căn cứ vào lịch sử Hoa Kỳ cũng có khả năng xảy ra. Một số người ở Trung Quốc xem Biển Đông, Hoa Đông và Hoàng Hải mà những người dân thường Trung Quốc gọi một cách đơn giản là ”Tam Hải” (ba vùng biển) hoặc ”Cận Hải” (các vùng biển gần) theo cách tương tự mà những người Mỹ thế kỷ 19 xem biển Caribbean và Vịnh Mexico là hai khu vực mà Hoa Kỳ phải chiếm hữu để hiện thực hóa tiềm năng chính trị và thương mại của nước này.[6] Ngoại trừ một số ít các đảo chiếm từ Tây Ban Nha năm 1898, Washington không có tuyên bố lãnh thổ nào ở Caribbe hay vùng Vịnh và cũng không ngăn cản các tàu chiến của châu Âu tại khu vực này. Chính quyền Mỹ chủ yếu muốn ngăn chặn những nỗ lực của Châu Âu để có được các căn cứ Hải quân xuyên qua các làn đường biển dẫn đến eo đất Trung Mỹ, vị trí tương lai của một kênh đào xuyên đại dương.

    Đó là chính xác là mục đích mà tổng thống Theodore Roosevelt muốn nói đến trong “Hệ luận” năm 1904 của ông đối với học thuyết Monroe. Roosevelt tuyên bố quyền hạn chế để can thiệp vào công việc của các quốc gia Caribe kém phát triển không có khả năng trả các khoản vay cho các ngân hàng Châu Âu. Các chính phủ Châu Âu thường gửi tàu chiến để chiếm các phòng thuế hải quan ở những quốc gia này để trả nợ cho những chủ nợ của họ. Để có thể làm như vậy, họ đã chiếm hữu lãnh thổ ven biển thuộc châu Mỹ nơi mà họ có thể biến thành căn cứ Hải quân dọc theo các làn đường biển Caribe. [7] Một viễn cảnh như thế là điềm xấu đối với các nhà chiến lược hàng hải Hoa Kì.

    Tại sao việc chặn trước sự xâm nhập châu Âu quan trọng như vậy? Đối với nhà tư tưởng về sức mạnh biển Alfred Thayer Mahan, Eo đất (Isthmus) tạo nên một “cổng vào” Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ ”.[8] Đào một kênh ngang qua Nicaragua hoặc Panama và bảo vệ các cửa ngõ hướng đến kênh đào đó là mối quan tâm lớn nhất của Mahan. Ông tiên đoán rằng ” các quốc gia thương mại táo bạo ” như nước Đức dưới thời Kaiser sẽ đấu tranh giành các thuộc địa có vị trí địa chính trị, như các đế quốc Tây Ban Nha và Anh đã làm trong nhiều thế kỷ.[9] Mahan cho rằng Hoa Kỳ bây giờ đặt lợi ích vượt trội lên eo đất này, do cả lợi ích thương mại đang phát triển ở vùng Viễn Đông và vì vị trí địa lý đặc biệt của nó mà đã cản trở ” sự liên lạc nhanh chóng và an toàn giữa hai vùng bờ biển của chúng ta”.[10] Đối với ông, sự lưu thông tự do vận tải quân sự và thương mại giữa bờ Đông và bờ Tây, và giữa Bắc Mỹ và Châu Á, tạo thành lợi ích cốt lõi của Mỹ tại Vùng vịnh và biển Carribe.

    Để giữ vững lợi ích cốt lõi này, Mahan đòi hỏi lực lượng Hải quân Mỹ cần có 20 tàu chiến để có thể “chiến đấu, với những cơ hội chiến thắng hợp lý, lực lượng lớn nhất có thể được đem đến để chống lại nước này” ở các vùng biển phía Nam. [11] Một đội tàu “có khả năng tạo ra những cú đánh mạnh” và có thể giành lấy “quyền làm chủ trên biển” từ các đạo quân châu Âu được phái đến châu Mỹ.[12]

    Biển Đông là câu trả lời của Trung Quốc cho Biển Carribe và Vùng Vịnh. Với vai trò là con đường biển quan trọng đến Ấn Độ Dương và eo Malacca, Biển Đông cũng khá giống với các biển nửa kín của Mỹ. Bán đảo Malay và quần đảo Sumatra nổi lên là một không gian địa lý, tạo nên một eo đất lớn, mà dưới con mắt của người Trung Quốc giống như eo đất đã từng ám ảnh Mahan. Và Biển Đông cũng giống như biển Carribe của Mahan, là một vùng biển mà chỉ có một quốc gia biển lớn là Trung Quốc bao quanh nó. Hai biển kín là Baltic và biển Đen, mà tiếp giáp với một cường quốc lục địa nổi bật là Nga, cũng đặt ra một tình huống tương tự. Liên Xô đã xây dựng một lực lượng hải quân mạnh để biến những biển trên thành của mình. Dường như các tình huống tương tự tạo ra các chiến lược tương tự.

    NẾU TẬP TRUNG VÀO BIỂN ĐÔNG, TRUNG QUỐC CÓ THỂ XAO NHÃNG CÁC LỢI ÍCH Ở BIỂN HOÀNG HẢI VÀ BIỂN HOA ĐÔNG

    Nhưng mà nước Mỹ cuối thế kỷ vẫn nằm rất xa khỏi các mối đe dọa từ các cường quốc chính khác. Nước này có khả năng để ngỏ bờ biển Thái Bình Dương hoặc Đại Tây Dương của mình ít nhiều không cần phòng thủ để tập trung năng lượng của mình vào một sự mở rộng kín đáo. Trung Quốc thì lại không có lợi thế này. Nếu nước này chỉ tập trung hải quân vào việc xử lý các tranh chấp ở Biển Đông thì sẽ có thể mất những lợi ích quan trọng ở biển Hoàng Hải và Hoa Đông. Bắc Triều Tiên vẫn tiếp tục gây phiền nhiễu ở ngay cửa ngõ biển của Trung Quốc. Đối thủ kình địch là Nhật Bản thì đang khoe mình với một đội tàu đẳng cấp thế giới và một vị trí chiến lược trên các con đường giao thông vận tải (sea lines of communication SLOCs) của Trung Quốc. Tình thế bế tắc trên eo biển Đài Loan vẫn bị kéo dài, lần lữa, đòi hỏi sự quan tâm chính sách của Trung Quốc. Cùng lúc đó, lợi ích biển ngày càng lớn kêu gọi sự chú ý của Trung Quốc đến các vùng biển bên ngoài Đông Á và đến các nhiệm vụ như chống cướp biển. Bắc Kinh không thể thờ ơ trước những vấn đề như vậy, những vấn đề có thể vắt kiệt các nguồn lực của các đội quân Đông Nam Á.

    Đọc toàn bộ bản dịch tại đây ngiencuubiendong.vn

    PGS. về chiến lược trường ĐH Hải chiến Hoa Kỳ

    Quách Huyền (dịch) ,Đỗ Thủy (hiệu đính)

    Dẫn theo Nghiên cứu Biển Đông

  11. Chuyển giao quyền lực ở Trung Quốc
    Posted in Uncategorized by huyminh on 09/14/2011
    http://huyminh.wordpress.com/2011/09/14/chuyen-giao-quyen-luc-o-trung-quoc/
    [Đài Austrailia]

    Những hoạt động của ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường trong thời gian qua bắt đầu cho công luận quốc tế thấy được phần nào bộ mặt của thế hệ lãnh đạo kế tiếp của Trung Quốc.
    Tháng 8/2011 là một tháng bận rộn của ứng viên Chủ tịch nước và Thủ tướng tương lai Trung Quốc. Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, người được chọn để kế nhiệm Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, đã đứng ra đón tiếp Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden vào ngày 19/8. Trong thời gian đó, Phó Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường cũng có chuyến đến thăm Hồng Công.
    Bà Linda Jakobson, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á thuộc Viện Lowy Australia, cho biết đây không chỉ là cơ hội Trung Quốc giới thiệu cho thế giới biết đôi chút về hai nhà lãnh đạo tương lai của nước này mà cũng là để hai ông trải nghiệm và tiếp xúc với cộng đồng quốc tế.
    Theo Giáo sư thỉnh giảng John Lee thuộc Đại học Sydney , mục đích của những hoạt động trên nhằm tạo ra một bước chuyển tiếp quyền lực nhịp nhàng trước công luận. Nói cách khác, sự kiện trên là sự khởi đầu cho một chương trình kế nhiệm được sắp đặt kỹ lưỡng. Sau gần một thập kỷ đương vị, ông Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo sẽ rời khỏi vị trí Chủ tịch nước và Thủ tướng vào năm 2013. Từ nay tới đó, những người kế nhiệm tương lai sẽ tăng cường sự xuất hiện và từng bước cho thế giới nhìn rõ hơn về thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc. Ông Lee nhận định: “Tôi nghĩ họ (ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường) muốn xuất hiện nổi bật trước công chúng, đặc biệt là với báo chí phương Tây nhằm tạo ấn tượng về một thế hệ lãnh đạo thân thiện mới”.
    Tuy nhiên, khuynh hướng chính trị của ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường sẽ chỉ thật sự được biết đến khi quyền lực chính thức được trao vào tay họ.
    “Thái tử” Tập Cận Bình
    Trong vòng hai thập kỷ gần đây, có thể thấy chính trường Trung Quốc có sự ủng hộ và nâng đỡ đối với thế hệ “thái tử” – con cháu của các lão thành cách mạng.
    Ông Tập Cận Bình, 58 tuổi là con trai cựu Phó Thủ tướng Trung Quốc Tập Trọng Huân và cũng được xem là một “thái tử”. Chính vì thế, ông Tập có quan hệ thân thiết với giới lãnh đạo và nhận được sự ủng hộ của Quân giải phóng nhân dân (PLA). Ông Tập Cận Bình được đánh giá là hòa đồng và thực tế nhất so với các “thái tử” khác nên vì thế ông được tin tưởng là có khả năng hợp nhất các phe phái trong đảng Cộng sản. Giáo sư Yang Zhaohui, Đại học Bắc Kinh cho biết: “Có nhiều tiếng nói khác nhau trong đảng Cộng sản Trung Quốc, gồm phe cánh tả, cánh hữu, bảo thủ và cấp tiến. Vì vậy, mâu thuẫn rất căng thẳng. Trong bối cảnh đó, một lãnh đạo như ông Tập Cận Bình là rất phù hợp vì dường như phe nào cũng chấp nhận ông”.
    Sẽ không có cải cách
    Ông Tập Cận Bình và ứng cử viên cho ghế Thủ tướng Lý Khắc Cường đều chịu ảnh hưởng của Cách mạng Văn hóa. Gia đình họ đều từng bị thanh trừng và phải sống ở vùng nông thôn trong một thời gian. Sau khi Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền và mở cửa lại các trường đại học, ông Tập theo học ngành kỹ thuật tại Đại học Thanh Hoa, rồi lấy bằng tiến sĩ. Ông Lý theo học tại Đại học Bắc Kinh và giao du với nhiều nhân vật cấp tiến cũng như tham gia hiệp hội sinh viên.
    Mặc dù vậy, giới phân tích đánh giá ông Tập và ông Lý sẽ khó có thể thực hiện bất cứ cải cách chính trị nào. Giáo sư John Lee nói: “Điểm chung là cả hai ông cùng tin tưởng vào việc tiếp tục cai trị bằng quyền lực và duy trì sự độc đảng tại Trung Quốc. Vì vậy, tôi cho rằng sẽ không có nhiều thay đổi”.
    Giáo sư Willy Lam, tác giả của 5 quyển sách nổi tiếng về Trung Quốc, hiện đang giảng dạy tại khoa Trung Quốc học, Đại học Quốc tế Akita, Nhật Bản cho hay: “Những người kế nhiệm đã được chọn lựa một cách cẩn thận để thay thế những lãnh đạo hiện tại vì họ đáng tin cậy, bảo thủ và có thể đảm bảo đầu tàu quốc gia không bị nghiêng ngả”.
    Giáo sư Lam khẳng định họ không hề được chọn vì thành tích đổi mới hay mong muốn có một “đất nước Trung Hoa khác”.
    Nhẹ tay hơn với trí thức tự do
    Tuy nhiên, theo bà Linda Jakobson, có thể có vài thay đổi trong giới hạn nhất định. Đảm bảo ổn định tại Trung Quốc là nhiệm vụ tối cao của đảng Cộng sản và đó cũng là lý do việc đàn áp không nương tay đối với những cuộc bạo động của người thiểu số sẽ còn tiếp diễn dưới sự lãnh đạo mới. Dù vậy, những nhà hoạt động chính trị tại Bắc Kinh sẽ được nương nhẹ hơn vì những lo ngại về nguy cơ tiềm ẩn một cuộc nổi dậy mạnh mẽ hơn. Bà Linda Jakobson nói: “Tôi nghĩ rằng ông Lý Khắc Cường sẽ nương nhẹ hơn đối với những người có tư tưởng khác biệt và trí thức tự do”.
    Chính sách ngoại giao cứng rắn
    Về chính sách ngoại giao, không có dấu hiệu nào cho thấy ông Lý Khắc Cường có thể thay đổi đường lối hiện nay. Được biết, con gái của ông Lý Khắc Cường hiện đang theo học tại Đại học Harvard và ông cũng là người mong muốn phát triển quan hệ tốt đẹp với Mỹ. Thế nhưng, Quân giải phóng nhân dân (PLA) có thể quả quyết rằng việc tăng cường ảnh hưởng đối với chính sách ngoại giao sẽ làm hạn chế vai trò lãnh đạo nhân dân. Giáo sư John Lee nhận định: “Vấn đề ở chỗ PLA ngày càng có ảnh hưởng hơn và thế hệ lãnh đạo mới có thể sẽ càng có ít tiếng nói hơn trong việc ngăn chặn những tướng tá PLA chứng tỏ bản thân mình. Như vậy, viễn cảnh về một quan hệ tốt đẹp hơn giữa Mỹ và Trung Quốc không có vẻ sáng sủa lắm”.
    Ông Willy Lam cũng cho rằng chính sách ngoại giao của ông Hồ Cẩm Đào và kế hoạch phô diễn sức mạnh đầy tham vọng của Trung Quốc sẽ được tiếp tục. Ông nói: “Với việc hai hay ba tàu sân bay nữa được sản xuất trong thập niên tiếp theo, tôi nghĩ chính sách quân đội, kinh tế và an ninh của Trung Quốc sẽ còn ‘hiếu chiến’ hơn”.
    Theo ông, cạnh tranh và bất đồng có thể sẽ còn bị đẩy lên cao hơn, đặc biệt là những nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc như Nhật Bản, Philíppin, Việt Nam … Bên cạnh đó, rất có thể mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ xấu đi vì những kế hoạch tăng cường sức mạnh của thế hệ lãnh đạo mới.
    “Buông rèm nhiếp chính”?
    Sau khi trao lại chức vụ Tổng Bí thư và Chủ tịch nước, ông Hồ Cẩm Đào vẫn sẽ tiếp tục giữ vị trí Chủ tịch Quân ủy Trung ương, thống lĩnh tối cao các lực lượng vũ trang Trung Quốc.
    Giáo sư Lam giải thích rằng sự sắp đặt này nhằm đảm bảo các chính sách được tiếp tục thực hiện và xét cho cùng, ông Hồ Cầm Đào đã có 19 năm trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị nên là người dày dặn kinh nghiệm. Tuy vậy, theo ông, quan hệ của ông Hồ với những tướng lĩnh cao cấp trong PLA không được mật thiết bằng ứng viên chủ tịch Tập Cận Bình nên có khả năng ông Tập sẽ nhận được sự ủng hộ của các tướng lĩnh kỳ cựu và khiến ông Hồ rời khỏi Quân ủy Trung ương sau một vài năm ông này rời Bộ Chính trị. Giáo sư Lam kết luận: “Vì vậy, có vẻ là ông Tập Cận Bình sẽ là người toàn quyền quyết định về chính sách ngoại giao và quân sự của Trung Quốc.

    https://hoangkimvietnam.wordpress.com/
    CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
    Dạy và học ĐHNLHCM
    Gia đình nông nghiệp
    NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s