Hà Tiên thập vịnh Mạc Thiên Tích

HỌC MỖI NGÀY. Hà Tiên thập vịnh là mười bài thơ vịnh thắng cảnh Hà Tiên của Mạc Thiên Tích do Đông Hồ dịch. GSTS. Nguyễn Văn Luật gửi chuyển tiếp từ Tin Chu (chtinrgkg@gmail.com). Chúng tôi giới thiệu tác phẩm Song ngữ Việt Anh này và mong muốn nhận được các hiệu đính, dịch, họa, bình đối với thi phẩm. Mạc Thiên Tích (鄚天錫)tự là Sĩ Lân (士麟),còn gọi là Mạc Thiên Tứ (鄚天賜), là danh thần đời chúa Nguyễn. Ông sinh năm Mậu Tuất (1718) và mất năm Canh Tý (1780). Ông là con Tổng binh Mạc Cửu – người không đội trời chung với triều Mãn Thanh, khi nhà Minh bị diệt, đã gần như cùng lúc với Trần Thượng Xuyên ở Cù lao Phố, Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho, Mạc Cửu cũng rời bỏ Trung Hoa để đến dựng nghiệp ở Hà Tiên, sau đó với nhãn quan chính trị sâu rộng đã hết lòng phò chúa Nguyễn và được chúa Nguyễn phong là Tông Đức hầu. Khi Mạc Cửu qua đời (1735), lúc ấy Mạc Thiên Tích 29 tuổi, đã nối nghiệp cha lập được nhiều công lao chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa to lớn, được chúa Nguyễn Phúc Trú phong chức Tổng binh Đại đô đốc. Ông tiếp tục sự nghiệp khai khẩn miền Tây Nam Bộ, biến vùng đất Hà Tiên trở thành đất văn hiến, phồn vinh, nhiều lần chống trả lại các cuộc xâm lấn của các lân bang Xiêm La và Chân Lạp. Thi sĩ Đông Hồ đã có thơ ca ngợi công trạng của hai cha con họ Mạc đối với non sông Việt “Chẳng đội trời Thanh Mãn/ Lần qua đất Việt bang/ Triều đình riêng một góc/ Trung hiếu vẹn đôi đường/ Trúc thành xây vũ lược/ Anh Các cao văn chương. Những người như Mạc Cữu, Mạc Thiên Tích cũng như Alexandre Yersin (1863-1943) đã chọn đất Việt làm quê hương và đã làm rạng dạnh cho xứ sở.

HÀ TIÊN THẬP VỊNH
Mạc Thiên Tích
(Đông Hồ dịch)

1. Kim Dự Lan Đào

Một dẫy non xanh nước bích liền.
Giăng ngang mạch đẹp sông tiên.
Đông Nam sóng biển bằng trang cả.
Trên dưới trăng trời sáng rực lên.
Rồng cá vẫy vùng trong cõi nước.
Đá cây xan xát khắp ven miền.
Nghìn thu tiếng gió quanh chân sóng.
Đậm nhạt trăng treo nét lạ nhìn.

2. Bình San Điệp Thúy

Cây xanh ngăn ngắt vút cao cao.
Ngọn dựng bình dăng đẹp mĩ miều.
Mây sáng vây quanh hình nu1o rõ.
Đất trời bền vững nền linh tý,
Mây khói vời xa nỗi ước ao.
Danh thắng Hà Tiên đâu dám bảo.
Cây ngàn mơn mởn biết xanh gieo.

3. Tiêu Tự Thần Chung

Lác đác trời tàn nhạt ánh sao,
Chuông chùa xa vắng tiếng đưa vào.
Mơ màng cõi tục người tiên lẫn
Đồng vọng bờ cây bến nước xao.
Hạc để tiếng vương cành gió thoảng.
Quạ đưa lời gởi ngọn trăng cao.
Gối nghiêng giấc tỉnh đêm mê mộng
Sớm giục canh gà tin khát khao.

4. Giang Thành Dạ Cổ

Gió cuốn trời cao mây lạnh tung,
Sông dài vây tỏa khí anh hùng.
Lâu thuyền dãi bóng trăng sương lạnh,
Trống mõ cầm canh sóng nước trong.
Kim giáp đã nhờ đêm chặt chẽ
Cẩm bào cho được chốn thung dung.
Lược thao đem đáp tình minh chúa.
Nước Việt biên thùy vững núi sông.

5. Thạch Đông Thôn Vân

Xanh xanh ngọn đá chạm thiên hà
Động bích long lanh ngọc chói lòa.
Chẳng hẹn khói mây thường lẩn quất.
Không ngăn cây cỏ mặc la đà.
Phong sương càng dãi màu tươi đẹp
Nhật nguyệt chi ngừng bóng lại qua
Chót vót tinh hoa đây đã hẳn.
Theo chiều gió lộng vút cao xa.

6. Châu Nham Lạc Lộ

Bóng rợp mây dâm phủ núi non.
Bay la bay lả trắng hoàng hôn.
Góc trời thế trận giăng cây cỏ.
Đóa ngọc hoa rơi khắp bãi cồn.
Trăng dãi non treo làn thác đổ.
Chiều tà cát lẫn ánh mây tuôn.
Trên đường bay nhảy bao xuôi ngược
Nghĩ cảnh dừng chân bến nước còn.

7. Đông Hồ Ấn Nguyệt

Khói lạnh mây tan cõi diểu mang.
Một vùng phong cảnh giữa hồng quang.
Trời xa mặt sóng in đôi bóng.
Biển bạc vành gương dọi bốn phương.
Rỗng đã sánh cùng trời bát ngát,
Sâu còn so với biển mênh mang.
Cá rồng tỉnh giấc chi tan vỡ,
Một tấm lòng băng vẫn chói chang.

8. Nam Phố Trừng Ba

Một vùng xanh ngát một doành khơi.
Bãi nối màu thu tiếp sắc trời.
Mưa khéo mây đem về kết tụ
Gió nào cho sóng động tăm hơi.
Biển hâng hẩng sáng triều tuôn dẫy,
Buồm nhẹ nhàng đưa khỏi thoảng trôi.
Vực thẳm cá rồng còn ẩn náu.
Êm đềm nước ngậm bóng trăng soi.

9. Lộc Trĩ Thôn Cư

Lều tre giấc tỉnh gió lay mình,
Tiếng quạ ồn chi trước mái tranh.
Ráng xế treo ngang khung cửa tím
Cây vườn che lợp luống rau xanh
Tánh rần mộc mạc hươu nai dại
Lòng thích thơm tho nếp tẻ thanh.
Ai đó hỏi thăm nơi chốn ở.
Lưng trâu tiếng sáo lặng làm thinh.

10. Lư Khê ngư bạc

Bóng chiều nắng ngả dòng sông thẳm,
Rạch Vược đèn ngư khói chập chùng
Bến cũ nhấp nhô thuyền đỗ sóng
Vờ xa san sát lưới phơi trăng
Cánh tơi sáo thấm sương pha buốt,
Mái trúc chèo khuya nước sáng trưng.
Lồng lộng vời trông cười thử hỏi
Cá rồng vùng vẫy chốn nầy chăng.

TEN POEMS OF HA TIEN

Chinese original by Mac Thien Tich

Vietnamese by DONG HO

1. THE FORTRESS MOUNTAIN

A series of green mountain blue water links
Transversally hangs the Deities river
Southeast sea waves all are flat.
Up down the celestial moon brightens strongly
Dragon fish freely swim in aquatic world
Stones & trees are self-close along the coast
Eternally the wind blows around wave foot
Contrast the moon hangs with strange traits.

(100.0)

2. THE BINH SAM MOUNTAIN

Very green trees stand up high.
Their tops are beautiful & charming
Clear cloud surrounds clearly mountain picture
The universe is sustainable the holy first Earth stem
Smoke far way induces wishes
The tourist attraction of Ha Tien no one dare say
Forest trees very young know green sowing

(100.0)

3. The TAM-O’- SHANTER PAGODA

Sparsely, the sun sets light starlight
Far pagoda bell just sounds in
Dream the world life mixed with Deities.
From fields, tree hedges & wharfs flutter
The crane lets the wind lightly blow.
Crows send messages to the high moon
Inclining pillow wakes up from nightmare dream
Hasten the hour to aspire news

(100.0)

4. THE STRONGHOLD OF GIANG THANH

The wind whirls high sky & cold clouds.
Long river encircles the hero will
Long boats exposed to the moon & cold dew
Drums & tocsins mark times clear water wave
Golden shields thanks to close night
Brocade robe gained a free place
Tactics we helped the great lord
Viet Nam border is sustainable with the country

(100.0)

5. THE THACH DONG MOUNTAIN

Greener and greener rock top touches the Galaxy
Blue cave sparkle pearls blindingly dazzling
No dating smog lurks about
Not prevent the flora unsteadily wear
Wind and dew more expose their beauty
Sun and moon just stop then pass by
Very high the essence yet surely
Go with the wind to far high.

(100.0)

6. The DA DUNG mountain

Shady cloud covers mountains & hills
It flies low white at dusk.
Sky corner matrices web the flora
Pearly flower falls everywhere the dune
The moon hangs on the waterfall
At dusk sand mixed with cloud down
On the road back and forth how many times
Think of stop in the wharf existing

(100.0)

7. The DONG HO Lagoon

Smoke cold cloud disperses in magic world
On an area, scenery is in amid red light
The far sun waves print two shadows.
Silver sea looking glass brim lightens four corners
Empty compared with vast sky
Deep also compared with immense sea
Dragon fish wakes up whatever broken
A heart frozen is still blazing

(100.0)

8. Chilly Beach

An area very green is a watercourse
Colorful dune contacts sky color
Rainwater brought by cloud condenses
Which wind makes wave shaking?
Sea at dawn tides rise up
Sails lightly shoot floating
Deep abyss dragon fish still hide
Softly water feels deep moonlight

(100.0)

9. The MUI NAI hamlet

Bamboo canvas wake the wind shook
Crow yells so loudly before thatched roofs.
Eve cloud hung transversally violet doorframe
Garden trees cover green vegetable beds
Snake character is simple as wild deer stag
The heart likes the scent of green rice.
Who inquires habitats
Buffalo back the flute keeps silent

(100.0)

10. Silver fish at LU KHE

In eve shadow, sunlight inclines on deep river
Bass arroyo fish light smoke rolls
Old wharf up and down boats anchored.
Far seems close nets exposed to the moon.
Wings torn mina impregnated cold dew
Bamboo oars in late night stir clear water
Immensely watch smile and try to ask
Dragon fish freely swim this place

(100.0)

Đây là 10 bài thơ miêu tả 10 thắng cảnh của Hà Tiên.  Để người trong cũng như ngoài nước dễ nhận ra các thắng cảnh này, đề nghị chúng ta cùng dịch các tựa đề, nhưng giữ nguyên các địa danh. Ví dụ như:

Kim Dữ Lan Đào – Kim Du Wave Breaking Islet
Bình San Điệp Thúy – Binh San All Green Mountain
Tiêu Tự Thần Chung – Tieu Tu Temple Early Bell
Giang Thành Dạ Cổ – Giang Thanh River Night Drums
Thạch Động Thôn Vân – Thach Dong Cloud Swallowing Cave
Châu Nham Lạc Lộ – Chau Nham Heron Returning Mountain
Đông Hồ Ấn Nguyệt – Đong Ho Moon Impression Lagoon
Nam Phố Trừng Ba – Nam Pho Wave Calming Beach
Lộc Trĩ Thôn Cư- Loc Tri Hamlet
Lư Khê Ngư Bạc – Lu Khe Fishing Boat Mooring Creek

Aloha from Rach Gia City, 23-07-2011

HÀ TIÊN THẬP VỊNH 

Hà Tiên thập vịnh là tên một tập thơ chữ Hán đầu tiên của Tao đàn Chiêu Anh Các được Mạc Thiên Tứ cho khắc in năm Đinh Tỵ (1737) ở Hà Tiên (Việt Nam). Đây là tác phẩm được Phan Huy Chú đánh giá là “êm ái, xinh đẹp, đáng học”

Các đề tài trong thi phẩm được tác giả cố ý xếp theo thứ tự từng đôi một, như sau:

  • Lộc trĩ thôn cưLư Khê ngư bạc: Hai bài có những cái đối nhau: Lư (cá vược) đối với lộc (nai), khê (khe nước) đối với mũi núi (trĩ). Tác giả cũng đã khéo mượn cảnh ngư bạc để đối lại cảnh thôn cư, để minh chứng rằng vùng đất mới Hà Tiên, nghề nào cũng phong phú.

1. Kim Dữ lan đào, hay Kim Dự lan đào (金 嶼 攔 濤) , là tên hai bài thơ của Mạc Thiên Tứ; một bằng chữ Hán được xếp trong tập Hà Tiên thập vịnh được khắc in 1737; một bằng chữ Nôm được xếp trong tập Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh. Cả hai bài đều mô tả cảnh đẹp của núi Kim Dự, một trong mười thắng cảnh của đất Hà Tiên (Việt Nam) xưa.

Thi sĩ Đông Hồ giải nghĩa: Kim dữ là hòn đảo vàng. Lan là khép cảnh cửa lại, ngăn chặn, như cánh cửa khép lại. Đào là sóng gió. Vậy, Kim dữ lan đào là hòn đảo vàng ngăn chặn sóng gió từ ngoài biển không lọt vào được bên trong.

Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức mô tả núi Kim Dữ lớn (Đại Kim Dữ) như sau:

Đại Kim Dữ ở vùng bãi biển phía nam trấn, chu vi 193 trượng 5 thước ta. Đảo nầy ngăn sóng giữ, ấy là hạt ngọc biển của trấn. Nơi bờ có bắc cái cầu ván để thông lối ra vào, phía sau có viện Quan Âm, là chỗ Tống Thị Sương[4]thêu tượng Phật Bà tịnh tu; phía trái có điếu đình, khi có gió mát trăng trong, khách du ngoạn thường buông câu ngâm vịnh. Phía trước có đặt trại thủ bị, phía tây nam xây lũy đá bao quanh để giữ giặc biển. Đây là cảnh Kim dữ lan đào [đảo Kim (vàng) ngăn sóng], một trong 10 cảnh đẹp ở Hà Tiên.[5]

Trải bao năm tháng, đồn lũy xưa trên đỉnh núi chỉ còn là phế tích. Giờ đây, ở nơi đó, người ta đã cho xây dựng một toà kiến trúc bề thế, đó chính là khách sạn Pháo Đài. Còn dưới chân núi, con đường bằng đá (đường Cầu Đá) ngày xưa nay đã được mở rộng và trải nhựa. Năm 2003, người ta cũng đã xây dựng cầu bê tông nối liền đôi bờ của cửa biển Hà Tiên. Đứng từ đỉnh, người ta có thể chiêm ngưỡng cảnh biển, cảnh Đông Hồ và phố chợ Hà Tiên. Núi này nay thuộc phường Pháo Đài, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

2. Bình San điệp thúy (chữ Hán: 屏山疊翠) có nghĩa Núi dựng một màu xanh

Bài thơ miêu tả cảnh đẹp của núi Bình San hay Bình Sơn, một trong mười thắng cảnh của đất Hà Tiên (Việt Nam) xưa. Nay núi thuộc phường Bình San, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

Bình San là một dãy núi như bức bình phong che chắn gần hết mặt phía Tây thành Hà Tiên xưa. Điệp Thuý có nghĩa là ngút ngàn, lớp lớp một màu xanh trập trùng. Núi này còn có tên gọi là núi Lăng, vì trên núi có lăng mộ Mạc Cửu, con cháu họ Mạc và các vị quan văn võ khác.

3. Tiêu Tự thần chung (chữ Hán: 蕭寺晨鐘) có nghĩa Chuông sớm ở chùa vắng…

Theo Nghiên cứu Hà Tiên, trong Hà Tiên thập vịnh in năm 1737, bài thơ có tên Tiêu Tự hiểu chung. Khi họa vận mười bài thơ này vào năm 1753, Nguyễn Cư Trinh đổi tựa lại là Tiêu Tự thần chung.

Sách Gia Định thành thông chí chép:

Địa Tạng Sơn (núi Địa Tạng) Ở về phía bắc của trấn, cách núi Phù Dung 5 dặm. Trên núi có chùa Địa Tạng, vì vậy nên có tên là núi Địa Tạng. Chùa nầy công đức trang nghiêm, ai vào cửa chùa bỗng thấy tắt hẳn tục niệm tham sân, thật là cảnh giới làm bậc thang để đến non Thứu. Đây là cảnh Tiêu tự thần chung (chuông mai chùa vắng) là một trong số 10 cảnh đẹp của Hà Tiên.

 

4.Giang Thành dạ cổ (chữ Hán: 江城夜鼓), có nghĩa tiếng trống đêm Giang Thành

Sông Giang Thành bắt nguồn từ Vương quốc Campuchia, xưa người Khmer gọi sông này là Prêk Ten, vì bên cạnh nó có một thôn ấp cổ tên là Tà Ten[1]. Sông chảy vào Việt Nam theo hướng Bắc Nam, dài khoảng 23 km, nằm trên địa phận xã Tân Khánh Hòa, xã Phú Mỹ, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, rồi đổ vào vũng Đông Hồ ở thị xã Hà Tiên, trước khi ra vịnh Thái Lan.

Sông Giang Thành nối liền với kênh Vĩnh Tế, tạo thành tuyến đường thủy quan trọng từ thị xã Châu Đốc đến thị xã Hà Tiên. Nó cũng góp phần đưa nước ngọt từ sông Hậu về tỉnh Kiên Giang phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt. Chỗ sông Giang Thành và kênh Vĩnh Tế gặp nhau gọi là ngã ba Giang Thành; và đây chính là một thắng cảnh của trấn Hà Tiên xưa, mà Mạc Thiên Tứ đã chọn làm đầu đề.

5. Thạch Động thôn vân (chữ Hán: 石洞吞雲), có nghĩa động đá nuốt mây

Thạch Động còn được gọi là Vân Sơn, là một ngọn núi nhỏ nằm ở xã Mỹ Đức, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Đây là một khối đá vôi Pecmi sót khổng lồ, đứng sừng sững trên một đồi cát kết Đêvôn-cacbon sớm (cao 10 m), ở ngay ven đường Hà Tiên đi Campuchia.

Từ trung tâm thị xã Hà Tiên theo con đường nhựa đi về hướng biên giới Tây Nam, khoảng 3 km sẽ gặp núi Thạch Động nằm cạnh bên đường, với nhiều cỏ dại và cây xanh. Leo hết những bậc thang là một hang cao và rộng, có nhiều thạch nhũ với những hình thù lạ mắt. Ở đó còn có một ngách hang ăn sâu xuống lòng đất, khiến không biết từ bao giờ ngách hang sâu này cùng với những vân đá tượng hình cô gái lờ mờ trên vách đứng, đã hình thành nên câu truyện cổ tích Thạch Sanh chém chằn. Ngoài ra, trong hang còn có chùa cổ Tiên Sơn. Tương truyền trước khi có chùa, đây là am tu của đạo sĩ Huỳnh Phong Chơn Nhơn (sau tu theo Phật, nên đổi hiệu là Huỳnh Phong Hòa thượng), dưới thời Mạc Cửu. Nhờ hai cửa hang ở trên cao (cửa phía Đông và cửa phía Tây), nên trong hang lúc nào cũng thoáng mát, và cũng nhờ nó mà người viếng cảnh nhìn thấy toàn cảnh thôn Vân, cửa khẩu Xà Xía, và mũi Nai ở phía xa…

6. Châu Nham lạc lộ ( chữ Hán: 珠岩落鷺), có nghĩa là Cò về núi ngọc

Châu Nham tục gọi là Bãi Ớt, cách trấn về phía đông 22 dặm rưỡi. Đỉnh núi tròn trịa, sườn đá lởm chởm, chạy thẳng đến bờ biển; có những gành đá chênh vênh, vũng sâu bùn cát, quanh bọc 2 bên tả hữu. Trong đó có đá tinh quang, ở dưới nhiều sò vằn đỏ. Tương truyền khi Mạc Cửu còn hèn mọn đến dưới Châu Nham nhặt được viên ngọc đường kính gần cả tấc ta (gần 3,3 cm) quý vô giá, ông kính dâng lên chúa. Bên bờ Châu Nham có vực sâu, là nơi hang ổ của tôm, chim cò bơi lội kiếm ăn từng bầy. Đây là cảnh Châu Nham lạc lộ, một trong 10 cảnh ở Hà Tiên.

7. Đông Hồ ấn nguyệt (chữ Hán: 東湖印月,) có nghĩa hồ phía đông in hình trăng

Đông Hồ rộng khoảng 1.047 ha (có nguồn ghi 14 Km2[2]), là nơi hợp lưu giữa kênh Vĩnh Tế với sông Giang Thành trước khi đổ ra vịnh Thái Lan. Lẽ ra nơi đây phải được gọi là đầm, phá hay vũng; nhưng người xưa đã quen gọi là hồ, vì lẽ từ trên cao nhìn xuống, núi Tô Châu (đại Tô Châu, tiểu Tô Châu), núi Kim Dữ và núi Bình San vây quanh, không còn trông thấy cửa biển, nên nó trông giống một cái hồ hơn.

8. Nam Phố trừng ba (chữ Hán: 南浦澄波), có nghĩa bãi Nam sóng lặng

Sau khi quân Xiêm tràn sang đánh phá dữ dội Hà Tiên vào năm 1771, văn thơ thì mất mát, còn người thì tản lạc; lâu dần rồi không ai còn nhớ Nam Phố mà Mạc Thiên Tứ đã nói trong thơ hiện ở đâu.

Đến năm 1960, thi sĩ Đông Hồ mới công bố lần đầu Nam Phố chính là Bãi Ớt. Ông viết:

Người khách du lịch đến Hà Tiên vào mùa gió Tây Nam, lúc nào nhìn ra mặt biển cũng thấy cảnh sóng bạc trùng trùng. Như vậy mà, có một chỗ gọi là Nam Phố (tục danh là Bãi Ớt) ở trên đường Rạch Giá – Hà Tiên, cách trấn lỵ Hà Tiên độ 11 cây số. Vì nhờ vị thế nằm khuất vào hai đồi núi nhô ra, che cho cánh bãi không bị sóng gió lọt vào, khiến cho cảnh bãi biển, tuy là trong mùa động Nam mà vẫn yên lặng êm đềm như mặt nước hồ thu.

9. Lộc Trĩ thôn cư (chữ Hán: 鹿峙村居), có nghĩa xóm quê Mũi Nai

Lộc Trĩ, là tên chỉ một mỏm núi nhô ra mặt biển, đi thuyền từ ngoài biển nhìn vào phảng phất giống như hình đầu con nai nằm ghếch mõm ngó ra mặt biển. Theo Đông Hồ thì có lẽ nhân tên NômMũi Nai nên mới có tên Hán là Lộc Trĩ.

Sách Gia Định thành thông chí giới thiệu Lộc Trĩ (Mũi Nai) như sau:

Lộc Trĩ cách trấn về phía tây 43 dặm. Cây cối lửng lơ lưng núi, ngọn núi nhọn đứng chọc trời cao, vượt qua đất bằng mà gối đầu bờ biển. Suối ngọt, đất tốt, nhà cửa nhân dân ở vây quanh dưới bóng núi. Trong 10 cảnh đẹp của Hà Tiên thì Lộc Trĩ thôn cư (xóm quê Mũi Nai) là một cảnh vậy.

10. Lư Khê ngư bạc (chữ Hán: 鱸溪漁泊), có nghĩa thuyền đánh cá đỗ bến Vược…

Giải thích từ đầu bài: Lư là cá vược (còn được gọi là cá chẽm. Tên khoa học: Lates calcarifer). Khê là khe nước. Ngư bạc là thuyền câu hay thuyền chài đỗ bến.

Sách Gia Định thành thông chí chép:

Khe Lư Khê ở cách trấn về phía đông 7 dặm rưỡi, lại cách về phía đông núi Tô Châu 4 dặm rưỡi. Phía nam thông với biển cả, phía tây có điếu đình (nhà ngồi câu) là di tích của Mạc Quận công khi rảnh đến ngồi câu.

Khe rộng 2 trượng rưỡi, sâu 5 thước ta, dài 5 dặm rưỡi, dòng khe uyển chuyển lên bắc chảy quanh ra Đông Hồ. Bờ phía đông có dân cư thôn Tiên Thuận ở đấy. Thỉnh thoảng có người dắt bạn (đêm), chèo thuyền đi dưới bóng cây sạch mát, rượu thịt ê hề, hừng đông tỉnh giấc Tô Tử; canh gỏi tươi ngon, hơi thu động niềm Trương công. Dân địa phương hay khách lạ tạt qua đều vui cảnh ấy, nên trong 10 cảnh ở Hà Tiên, có cảnh Lư Khê nhàn điếu (rảnh câu Lư Khê) ấy là ghi chép một việc lạc thú vậy.

Rạch Lư Khê, xưa có hai nhánh trổ, một nhánh đổ ra biển, một nhánh thông với vũng Đông Hồ. Nơi hợp lại của hai dòng nước tạo thành một ao rộng, nước sâu trong vắt và nhiều cá. Ngược dòng Lư Khê, hai bên là những ngọn núi nhỏ nhấp nhô cùng với những túp lều tranh lúp xúp của dân chài. Về sau, khi quốc lộ 80 được xây dựng, cửa rạch Lư Khê thông ra biển đã bị lấp, con rạch chỉ còn một nhánh trổ ra vũng Đông Hồ.

HÀ TIÊN THẬP CẢNH KHÚC VỊNH (nôm)
Tác phẩm của Mạc Thiên Tích.

1. Kim Dự lan đào

Kim Dự đây là núi chốt then.
Xanh xanh giành trấn cửa Hà Tiên.
Ngăn ngừa nước dữ khôn vùng vẫy.
Che chở dân lành khỏi ngửa nghiêng,
Thế cả vững vàng trên Bắc Hải,
Công cao đồ sộ giữa Nam Thiên.
Nước an chẳng chút lông thu động,
Rộng bủa nhơn xa khắp bách xuyên.

2. Bình San điệp thuý.

Một bước càng thêm một thú yêu,
Lằng cây vít đá vẽ hay thêu?
Mây tòng khói liễu bay chồng chập,
Đờn suối ca chim giọng thấp kiêu.
Ngọc luật Châu Công chăng phải trỗi,
Ngòi sương Ma Cật cũng thua nhiều.
Đến đây mới biết lâm tuyền quới,
Dám trách Sào Do lánh Đế Nghiêu.

3. Tiêu Tự thần chung
.
Rừng thiền xích xác án ngoài tào,
Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao.
Chày thỏ khắp vang muôn khói sóng.
Oai kình tan tác mấy cung sao
Não phiền kẻ nấu sôi như vạc,
Trí huệ người mài sắc tợ dao.
Mờ mịt gẫm dường say mới tỉnh,
Phù sanh trong một giấc chiêm bao.

4. Giang Thành dạ cổ

Trống quân giang thú ỏi oai phong,
Nghiêm gióng đòi canh dậy núi sông.
Đánh phá lũ gian người biết mặt,
Vang truyền lịnh sấm chúng kiêng lòng.
Phao tuông đã thấy an ba vạc.
Nhặt nhiệm chi cho lọt mảy lông.
Thẻ lụn sớm hầu trưa bóng ác,
Tiếng xe rầm rạc mới nên công.

5. Thạch Động thôn vân.

Quỉ trổ thần xoi nổi một tòa,
Chòm cây khóm đá dấu tiên gia.
Hang sâu thăm thẳm mây vun lại.
Cửa rộng thinh thinh gió thổi qua.
Trống lổng bốn bề thâu thế giái,
Chang bang một đãy chứa yên hà.
Chưn trời mới biết kho trời đấy
Cân đái hèn chi rỡ ỷ la.

6. Châu Nham lạc lộ.

Biết chỗ mà nương ấy mới khôn.
Bay về đầm cũ mấy mươi muôn.
Đã giăng chữ nhất dài trăm trượng.
Lại xấp bàn vây trắng mấy non.
Ngày giữa ba thu ngân phấn vẽ.
Đêm trường chín hạ tuyết sương còn.
Quen cây chim thể người quen chúa
Dễ đổi ngàn cân một tấm son.

7. Đông Hồ ấn nguyệt.

Một hồ lẻo lẻo tiết thu quang.
Giữa có vừng trăng nổi rõ ràng.
Đáy nước chơn mây in một sắc.
Ả Hằng nàng Tố lố đôi phang.
Rạng banh đã hứng thuyền Tô Tử
Lạnh lẽo càng đau kiểng Nhạc xương.
Cảnh một mà tình người dễ một.
Kẻ thì ngả ngớn kẻ sầu thương.

8. Nam Phố trừng ba.

Dòng Nam vững rạng khách dầu chơi.
Hai thức như in nước với trời.
Bãi khói dưới không hương lại bỏ.
Hồ gương trong có gấm thêm rơi
Sóng chôn vảy ngạc tình khôn xiết.
Nhạn tả thơ trời giá mấy mươi.
Một lá yên ba dầu lỏng lẻo.
Đong trăng lường gió nước vơi vơi.

9. Lộc Trĩ thôn cư.

Lộc trĩ ai rằng thú chẳng thanh ?
302 Nguyễn Văn Sâm
Nửa kề nước biếc nửa non xanh.
Duỗi co chẳng túng càn thôn hẹp.
Cúi ngửa vì vưng đức giáo lành.
Lưu lác(1) hưởng dư ơn nước thạnh.
Ê hề sẵn có của trời dành.
Đâu vui thì đấy là an lạc.
Lựa phải chen chơn chốn thị thành.

10. Lư Khê nhàn điếu.

Bến Vược thuyền ngư chật mấy tầng.
Trong nhàn riêng có việc lăng xăng.
Lưới chày phơi trải đầy trời hạ,
Gỏi rượu hi ha toại nghiệp hằng.
Nghề Thuấn hãy truyền bền trác trác.
Dấu Nghiêu còn thấy đủ răn răn.
Suy trong mười kiểng thanh hòa lịch
Họa kiểng Bồng Lai mới sánh bằng.

Tổng vịnh.
Mười kiểng Hà Tiên rất hữu tình.
Non non nước nước gẫm nên xinh.
Đông Hồ, Lộc Trĩ luôn dòng chảy.
Nam Phố, Lư Khê một mạch xanh.
Tiêu Tự, Giang Thành, chuông trống ỏi.
Châu Nham, Kim Dự cá chim doanh.
Bình Sơn, Thạch Động là trường cột,
Đồ sộ muôn đời cũng để danh.

1 Lưu lác: Theo Huynh Tịnh Của thì là lưu loát, nghĩa là dư
giả, không thiếu vật gì, đối với ê hề ở câu dưới. Là chữ cổ,
còn thấy trong vở tuồng Trương Ngáo.

Theo Đông Hồ – Văn học Hà Tiên – ;
Lê Sum – Quốc âm văn tuyển (trang 27 – 29),
Nông cổ mính đàm số 159 ngày 29 – 9 – 1904.

Phụ lục II.

HÀ TIÊN THẬP VỊNH (hán)

Tác phẩm của Mạc Thiên Tích


1. Kim Dự lan đào.

Ngyên văn:
金 嶼 攔 濤
一 島 推 嵬 奠 碧 連
橫 流 奇 勝 壯 河 仙
波 濤 勢 截 東 南 海
日 月 光 迴 上 下 天
得 水 魚 龍 隨 變 化
傍 崖 樹 石 自 聯 翻
風 聲 浪 跡 應 長 據
濃 淡 山 川 異 國 懸

Phiên Âm:
Nhất đảo thôi ngôi điện bích liên.
Hoành lưu kỳ thắng tráng Hà Tiên.
Ba đào thế tiệt đông Nam hải
Nhật nguyệt quang hồi thượng hạ thiên.
Đắc thủy ngư long tùy biến hóa.
Bàng nhai bách thụ tự liên phiên.
Phong thanh lãng tích ưng trường cứ.
Nùng đạm sơn xuyên dị quốc huyền.

Dịch thơ:
Một dẫy non xanh nước bích liền.
Giăng ngang cho mạnh đẹp sông tiên.
Đông Nam sóng biển bằng trang cả.
Trên dưới trăng trời sáng rực lên.
Rồng cá vẫy vùng trong cõi nước.
Đá cây xan xát khắp ven miền.
Nghìn thu tiếng gió quanh chân sóng.
Đậm nhạt trăng treo nét lạ nhìn.
(Đông Hồ dịch).

2. Bình San điệp thuý.
Nguyên văn:
屏 山 疊 翠
籠 葱 草 木 自 岧 嶢
疊 嶺 屏 開 紫 翠 嬌
雲 靄 匝 光 山 勢 近
雨 餘 夾 麗 物 華 饒
老 同 天 地 鐘 靈 久
榮 共 烟 霞 屬 望 遙
敢 道 河 仙 風 景 異
嵐 堆 鬱 鬱 樹 蕭 蕭

Phiên âm:
Lông thông thảo mộc tự thiều nghiêu.
Điệp lĩnh bình khai tử thúy kiều.
Vân ái táp quang sơn thế cận.
Vũ dư giáp lệ vật hoa nhiêu
Lão đồng thiên địa chung linh cửu
Vinh cộng yên hà chúc vọng dao.
Cảm đạo Hà Tiên phong cảnh dị.
Lam đồi uất uất thụ tiêu tiêu.

Dịch thơ:
Cây xanh ngăn ngắt vút cao cao.
Ngọn dựng bình giăng đẹp mĩ miều
Mây sáng vây quanh hình núi rõ.
Mưa tàn thêm nổi bóng non theo.
Đất trời bền vững nền linh tú,
Mây khói vời xa nỗi ước ao.
Danh thắng Hà Tiên đâu dám bảo.
Cây ngàn mơn mởn biếc xanh gieo.
(Đông Hồ dịch).

3. Tiêu Tự thần chung.

Nguyên văn:
蕭 寺 晨 鐘
殘 星 寥 落 向 天 拋
戊 夜 鯨 音 遠 寺 敲
净 境 人 緣 醒 世 界
孤 聲 清 越 出 江 郊
忽 驚 鶴 唳 繞 風 樹
又 促 烏 啼 倚 月 稍
頓 覺 千 家 欹 枕 後
雞 傳 曉 信 亦 寥 寥

Phiên âm:
Tàn tinh tiêu lạc hướng thiên phao.
Mậu dạ kình âm viễn tự xao.
Tịnh cảnh nhân duyên tinh thế giới.
Cô thinh thanh việt xuất giang giao.
Hốt kinh ngạc lệ nhiễu phong thụ,
Hựu súc ô đề ỷ nguyệt sao.
Đốn giác thiên gia y chẩm hậu.
Kê truyền hiểu tín diệc liêu liêu.

Dịch thơ:
Lác đác trời tàn nhạt sánh sao,
Chuông chùa xa vẳng tiếng đưa vào.
Mơ màng cõi tục người tiên lẫn
Đồng vọng bờ cây bến nước xao.
Hạc để tiếng vương cành gió thoảng.
Quạ đưa lời gởi ngọn trăng cao.
Gối nghiêng giấc tỉnh đêm mê mộng
Sớm giục canh gà tin khát khao.
(Đông Hồ dịch)

4. Giang Thành dạ cổ.

Nguyên văn:
江 城 夜 鼓
天 風 迴 繞 凍 雲 高
鎖 鑰 長 江 將 氣 豪
一 片 樓 船 寒 水 月
三 更 鼓 角 定 波 濤
客 仍 竟 夜 鎖 金 甲
人 正 干 城 擁 錦 袍
武 略 深 承 英 主 眷
日 南 境 宇 賴 安 牢

Phiên âm:
Thiên phong hồi nhiễu đống vân cao,
Tỏa thược trường giang tương khí hào.
Nhất phiến lâu thuyền hàn thủy nguyệt,
Tam canh cổ giác định ba đào
Khách nhưng cánh dạ tỏa kim giáp
Nhân chính can thành ủng cẩm bào.
Vũ lược thâm thừa anh chủ quyến,
Nhật Nam cảnh vũ lại an lao.

Dịch thơ:
Gió cuốn trời cao mây lạnh tung,
Sông dài vây tỏa khí anh hùng.
Lâu thuyền dãi bóng trăng sương lạnh,
Trống mõ cầm canh sóng nước trong.
Kim giáp đã nhờ đêm chặt chẽ
Cẩm bào cho được chốn thung dung.
Lược thao đem đáp tình minh chúa.
Nước Việt biên thùy vững núi sông.
(Đông Hồ dịch)

5. Thạch Động thôn vân .
Nguyên văn:
石 洞 吞 雲
山 峰 聳 翠 砥 星 河
洞 室 玲 瓏 蘊 碧 珂
不 意 煙 雲 由 去 往
無 垠 草 木 共 婆 娑
風 霜 久 歷 文 章 異
烏 兔 頻 移 氣 色 多
最 是 精 華 高 絕 處
隨 風 呼 吸 自 嵯 峨

Phiên âm:
Sơn phong tủng thúy để tinh hà.
Động thất linh lung uẩn bích kha
Bất ý yên vân do khứ vãng.
Vô ngân thảo mộc cộng bà sa.
Phong sương cửu lịch văn chương dị
Ô thố tần di khí sắc đa.
Tối thị tinh hoa cao tuyệt xứ.
Tùy phong hô hấp tự tha nga.

Dịch thơ:
Xanh xanh ngọn đá chạm thiên hà
động bích long lanh ngọc chói lòa.
Chẳng hẹn khói mây thường lẩn quất.
Không ngăn cây cỏ mặc la đà.
Phong sương càng dãi màu tươi đẹp
Nhật nguyệt chi ngừng bóng lại qua
Chót vót tinh hoa đây đã hẳn.
Theo chiều gió lộng vút cao xa.
(Đông Hồ dịch)

6. Châu Nham lạc lộ
Nguyên văn:
珠 岩 落 鷺
绿 蔭 幽 雲 綴 暮 霞
靈 岩 飛 出 白 禽 斜
晚 排 天 陣 羅 芳 樹
晴 落 平 崖 寫 玉 花
瀑 影 共 翻 明 月 岫
雲 光 齊 匝 夕 陽 沙
狂 情 世 路 將 施 計
碌 碌 棲 遲 水 石 涯

Phiên âm:
Lục ấm u vân xuyến mộ hà,
Linh nham phi xuất bạch cầm tà.
Vãn bài thiên trận la phương thụ.
Tình lạc bình nhai tả ngọc hoa.
Bộc ảnh cộng phiên minh nguyệt tụ
Vân quang tề táp tịch dương sa.
Cuồng tình thế lộ tương thi kế.
Lục lục thê trì thủy bạch nha.

Dịch thơ:
Bóng rợp mây dâm phủ núi non.
Bay la bay lả trắng hoàng hôn.
Góc trời thế trận giăng cây cỏ.
Đóa ngọc hoa rơi khắp bãi cồn.
Trăng dãi non treo làn thác đổ.
Chiều tà cát lẫn ánh mây tuôn.
Trên đường bay nhảy bao xuôi ngược
Nghĩ cảnh dừng chân bến nước còn.
(Đông Hồ dịch)

7. Đông Hồ ấn nguyệt.
Nguyên văn:
東 湖 印 月
雲 霽 煙 消 共 渺 茫
一 灣 風 景 接 洪 荒
晴 空 浪 靜 傳 雙 影
碧 海 光 寒 洗 萬 方
湛 闊 應 涵 天 蕩 漾
凜 零 不 愧 海 滄 凉
魚 龍 夢 覺 衝 難 破
依 舊 冰 心 上 下 光

Phiên âm:
Vân tể yên tiêu cộng diểu mang,
Nhất loan phong cảnh tiếp hồng hoang
Tình không lãng tịnh truyền song ảnh,
Bích hải quang hàn tiển vạn phương.
Trạm khoát ứng hàm thiên đãng dạng.
Lẫm linh bất quí hải thương lương.
Ngư long mộng giác xung nan phá.
Y cựu băng tâm thượng hạ quang.

Dịch thơ:
Khói lạnh mây tan cõi diểu mang.
Một vùng phong cảnh giữa hồng quang.
Trời xa mặt sóng in đôi bóng.
Biển bạc vành gương dọi bốn phương.
Rộng đã sánh cùng trời bát ngát,
Sâu còn so với biển mênh mang.
Cá rồng tỉnh giấc chi tan vỡ,
Một tấm lòng băng vẫn chói chang.
(Đông Hồ dịch)

8. Nam Phố trừng ba.
Nguyên Văn:
南 浦 澄 波
一 片 滄 茫 一 片 清
澄 連 夾 浦 老 秋 晴
天 河 帶 雨 烟 光 結
澤 國 無 風 浪 沫 平
向 曉 孤 帆 分 水 急
趨 潮 容 舫 載 雲 輕
他 知 入 海 魚 龍 匿
月 朗 波 光 自 在 明

Phiên âm:
Nhất phiến thương mang nhất phiến thanh.
Trừng liên giáp phố lão thu tình.
Thiên hà đái vũ yên quang kiết
Trạch quốc vô phong lãng mạt bình.
Hướng hiểu cô phàm phân thủy cấp.
Xu triều dung phảng tải vân khinh.
Tha tri nhập hải ngư long nặc.
Nguyệt lãng ba quang tự tại minh

Dịch thơ:
Một vùng xanh ngát một doành khơi.
Bãi nối màu thu tiếp sắc trời.
Mưa khéo mây đem về kết tụ
Gió nào cho sóng động tăm hơi.
Biển hâng hẩng sáng triều tuôn dẫy,
Buồm nhẹ nhàng đưa khói thoảng trôi.
Vực thẳm cá rồng còn ẩn náu.
Êm đềm nước ngậm bóng trăng soi.
(Đông Hồ dịch)

9. Lộc Trĩ thôn cư.
Nguyên văn:
鹿 峙 村 居
竹 屋 風 過 夢 始 醒
鴉 啼 簷 外 却 難 聽
殘 霞 倒 掛 沿 窗 紫
密 樹 低 垂 接 圃 青
野 性 偏 同 猿 鹿 靜
清 心 每 羨 稻 粱 馨
行 人 若 問 住 何 處
牛 背 一 聲 吹 笛 停
Phiên âm:
Trúc ốc phong qua mộng thủy tinh.
Nha đề thiềm ngoại khước nan thinh.
Tàn hà đảo quải duyên song tử
Mật thụ đê thùy tiếp phố thanh,
Dã tính thiên đồng viên lộc tĩnh
Thanh tâm mỗi tiễn đạo lương hinh.
Hành nhân nhược vấn trú hà xứ.
Ngưu bối nhất thanh xuy địch đình.

Dịch thơ:
Lều tre giấc tỉnh gió lay mình,
Tiếng quạ ồn chi trước mái tranh.
Ráng xế treo ngang khung cửa tím
Cây vườn che lợp luống rau xanh
Tánh gần mộc mạc hươu nai dại
Lòng thích thơm tho nếp tẻ thanh.
Ai đó hỏi thăm nơi chốn ở.
Văn học Nam Hà
315
Lưng trâu tiếng sáo lặng làm thinh.
(Đông Hồ dịch)

10. Lư Khê nhàn điếu.
Nguyên Văn
鱸 溪 閒 釣
遠 遠 滄 浪 含 夕 照
鱸 溪 烟 裏 出 漁 燈
橫 波 掩 映 泊 孤 艇
落 月 參 差 浮 罩 層
一 領 簑 衣 霜 氣 迫
幾 聲 竹 棹 水 光 凝
飄 零 自 笑 汪 洋 外
欲 附 魚 龍 却 未 能

Phiên âm:
Viễn viễn thương lang hàm tịch chiếu
Lư khê yên lý xuất ngư đăng.
Hoành ba yểm ánh bạc cô đính.
Lạc nguyệt sâm si phù tráo tăng
Nhất lãnh thoa y sương khí bách
Kỷ thanh trúc trạo thủy quan ngưng.
Phiêu linh tự tiếu uông dương ngoại
Dục phụ ngư long khước vị năng

Nguyễn Văn Sâm

Người tự hào giữ ải địa đầu của vùng đất Nam Hà.
Mạc Thiên Tích.

Nguyễn Văn Sâm

Mạc Thiên Tích (1) sanh năm 1706 (mồng 7 tháng 3 Bính Tuất) tại Trũng Kè (2) cha là Mạc Cửu (3), mẹ người Việt, họ Nguyễn. Ông chủ danh Tông, tên thật là Thiên Tích, sau đổi thành Thiên Tứ (cũng đều có nghĩa ban cho), tên tự Sĩ Lân. Mạc Cửu vốn là người Trung Hoa không chấp nhận nhà Thanh nên sang khai khẩn đất Hà Tiên và qui phục Chúa Nguyễn từ năm Giáp Ngọ (1714) được Tộ Quốc Công Nguyễn Phúc Chu phong chức Tổng Binh cho cai quản vùng đất đang khai thác. Năm Ất Mão (1735), Mạc Cửu mất, Thiên Tích thay cha, được Đĩnh Quốc Công Nguyễn Phúc Trú phong chức Hà Tiên Trấn, Tổng Binh Đại Đô Đốc, Tông đức Hầu. Thiên Tích “tánh tình trung hậu, chân thật, nhân từ, nghĩa dũng, đầy đủ tài đức, thông kinh sử, không có sách nào không đọc, thêm vào lại giỏi tài thao lược, hậu đãi hiền tài” (1)

Năm Đinh Dậu 1775, sau khi quân Tây Sơn chiếm Gia Định chúa Định Vương Nguyễn Phúc Thuần bị giết ở Cà Mau, Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương bị bắt ở Ba Vạt, quân Nguyễn hầu như rắn mất đầu, Mạc Thiên Tích vẫn hết lòng phò tá người kế vị và được Nguyễn Vương nhờ hướng dẫn Hoàng tử Xuân sang Xiêm cầu viện. Lúc nầy Vua Xiêm là Trịnh Tân, một thương gia người Triều Châu nhờ loạn lạc nên chiếm được ngôi vua, vốn có hiềm khích với Thiên Tích nên bức bách ông, không giúp đỡ, cũng không cho trở về Gia định. Năm 1780 (ngày 05 tháng 10 năm Canh Tý) Thiên Tích vì quá phẫn uất nuốt vàng tự tử tại Vọng Các. Về sau, năm 1804, con cháu họ Mạc đem tro tàn về mai táng tại núi Bình San (làng Mỹ Đức, Hà Tiên)

Cuộc đời Mạc Thiên Tích về văn học quan trọng nhất ở chỗ ông đã thiết lập nên Chiêu Anh Các  Chiêu Anh Các có nghĩa là gác mời những người tài hoa anh hùng, được thành lập vào năm Bính Thìn (1736) nhân dịp một danh sĩ Trung Quốc người Việt Đông là Trần Trí Khải tự Hoài Thủy sang Hà Tiên và được Mạc Thiên Tích ngỏ ý mời họa “Hà Tiên thập vịnh” do ông sáng tác. Trí Khải họa lại và sau đó về Trung Quốc có gởi sang những
bài họa khác của các văn nhân bổn quốc. Trong khi ấy, ở Hà Tiên, Thiên Tích cũng
hợp một số người Việt ở Thuận Quảng (để xướng hoạ. Do đó nhóm Chiêu Anh Các được thành lập. Trên giấy tờ gồm 37 vị nhưng chắc chắn ở Hà Tiên không có đủ con số nầy. Chiêu Anh Các ngoài việc xướng họa thơ còn lập đền thờ Khổng Tử và lập nghĩa thục để truyền bá văn chương đạo lý.

Tác phẩm:
1. Hà Tiên thập vịnh (1) (Hán) viết xong năm Bính Thìn (1736) (2) khắc in tại Hà Tiên mùa hạ năm Đinh Tỵ (3) (1737) Nguyên tập gồm: Bài tự của Mạc Thiên Tích nói về nguyên lai Chiêu Anh Các và tập thơ. Bài bạt của Dư Tích Thuần tự Kim Ngũ ca tụng cảnh Hà Tiên và người cai trị tài giỏi. Bài bạt của Trần Trí Khải tự Hoài Thủy nói về Mạc Thiên Tích và nguyên nhân có 10 bài họa của mình. người họa Hà Tiên thập vịnh. Tuy nhiên ta biết chắc chắn một điều trong số nầy chỉ có sáu người Việt Nam. Theo Lê Quý Đôn – Kiến văn tiểu lục (mục Thiên chương) đó là Trịnh Liên Sơn, Phan Thiên Quảng, Trần Trịnh, Đặng Minh Bản, Mạc Triều Đáng và Nguyễn Nghị (Lê Quý Đôn trong Kiến văn lục, có chép lại bài họa Thạch Động thôn vân của ông nầy). 1 Theo bài tân tự của Trịnh Hoài Đức trong “Minh Bột di ngư thi thảo” nhan đề tập nầy: “Bát Tiên thập cảnh toàn tập”. 2 Theo bài tựa của Mạc Thiên Tích. 3 Về sau, Nguyễn Cư Trinh lúc vào Long Hồ có họa thêm 10 bài năm 1755, nhưng khi ấy sách đã khắc in khá lâu nên không có trong Hà Tiên thập vịnh. 10 bài này Lê Quý Đôn cho chép lại trong “Phủ Biên tạp lục”. Xem phần phụ lục của Nguyễn Cư Trinh. Mười bài xướng của Mạc Thiên Tích tả mười cảnh đẹp ở Hà Tiên. Ba trăm mười (310) bài họa của 31 vị có chân trong Chiêu Anh Các. Vậy tổng cộng Hà Tiên thập vịnh gồm 320 bài vịnh mười cảnh.

2. Minh bột di ngư (Hán). Do Mạc Thiên Tích sáng tác. Sách gồm 32 bài đường luật tả cảnh “Lư Khê nhàn điếu”: cảnh câu cá nhàn rỗi ở bến Lư, và một bài phú rất dài hơn 100 câu là Lư khê nhàn điếu phú. Không có bản in đầu tiên và tài liệu nên ta không biết xuất hiện vào năm nào. Tập nầy về sau, năm 1821 được Trịnh Hoài Đức tái khắc bản với nhan đề “Minh bột di ngư thi thảo” và viết một bài tân tự rất quan trọng ghi được tâm sự của tác giả: (Mạc Thiên Tích) ngụ mối u hoài cảm khái tự chốn thâm tâm, chớ nào phải vì chén rượu câu thi mà xướng họa hão đâu … chính vì Ngài canh cánh nỗi cảm hoài cố quốc đô thành khuôn cảnh “Thử ly” (đồng lúa oằn oại thay cảnh đô thành của nhà Châu bị giặc khuyển Nhung chiếm cứ). Cảnh mất nước. Ngài tư tưởng, uất ức: “dằn lòng trung phẫn hư vô, gởi dòng sóng bạc, mòn mắt tử phần muôn dặm, trông đám mây ngàn”, nên Ngài mượn lối thi thơ để giãi bày tâm sự, ta há nên bình nghị Ngài về chỗ vui chơi, nhàn hạ như ai đâu” (1).

3. Thụ Đức hiên tứ cảnh (Hán): Đây là một tập thơ xướng họa theo thể thuận nghịch đọc gồm:- Bài tự của Phương Thu Bạch . – 4 bài xướng của Mạc Thiên Tích, tả bốn cảnh xuân hạ thu đông ở nơi dọc sách (Thụ Đức hiên) – 88 bài họa của 32 vị trong Chiêu Anh
Các. Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục ghi bài họa gồm 88, vậy một vài vị đã họa không đủ số. Mặt khác những bài Lê Quý Đôn trích lại cho ta nhận xét các bài thường không giữ thể thuận nghịch độc.
4. Hà Tiên vịnh vật thi tuyển.
5. Châu thị trinh liệt tặng ngôn.
6. Thi truyện tặng Lưu tiết phụ.
7. Thi thảo cách ngôn vị tập

1 Bản dịch của Ngạc Xuyên Ca Văn Thỉnh – “Đại Việt tạp chí” số 12 ngày 01 – 04 – 1943.
2 Danh sách 32 vị nầy xem trong Kiến văn tiểu lục, mục Thiên chương. Ba mươi hai vị nầy khác với những tác giả họa Hà Tiên thập vịnh. (Nôm) Những bài thơ Nôm nầy – tác phẩm thứ 8 – chưa được khắc bản ấn hành, chỉ được truyền khẩu trong vùng Hà Tiên, theo Đông Hồ dân gian còn gọi bằng tên khác: “Hà tiên quốc âm thập vịnh” 2. Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh gồm: 334 câu lục bát song thất; bắt đầu bằng hai câu lục bát, kế đến 2 câu thất, mô tả mười cảnh đẹp ở Hà Tiên. 10 bài thơ luật Nôm xen giữa mô tả từng cảnh một.

1 bài thơ luật Tổng vịnh

Cũng như Hà Tiên thập vịnh, Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh tả mười cảnh sau:
1. Kim dự lan đào: Đảo vàng ngăn sóng lớn .
2. Bình san điệp thúy: Núi dựng một màu xanh.
3. Tiêu tự thần chung: Chuông sớm ở chùa vắng.
4. Giang thành dạ cổ: Trống đêm ở đồn bên sông .
5. Châu nham lạc lộ: Đàn cò đáp xuống núi châu báu.
6. Đông hồ ấn nguyệt: Hồ phía đông in hình bóng trăng.
7. Nam phố trừng ba: Bãi nam sóng lặng.
8. Thạch động thôn vân: Động đá nuốt mây.
9. Lộc trĩ thôn cư: Nông trại ở mũi Nai
10. Lư khê ngư bạc: thuyền đánh cá đỗ bến Vược1

1 Một vài đầu đề của Mạc Thiên Tích có tính cách cổ điển như “Lan đào”, “Thần chung”, “Ngư ca” … ở Việt Nam năm 1736 Ngụy Tiếp, hiệu Ngọc Dung tự Xuyên Chu đến Kinh đô
(Thăng Long) có sáng tác “An Nam kinh đô bát cảnh” (Còn gọi là Thăng Long bát cảnh) cũng có vài đề tài tương tự. Cũng khoảng thời gian nầy Ngô Thời Sĩ có mười bài vịnh cảnh đẹp ở chung quanh núi Bàn A (Thanh Hoá) đề tài cũng trùng vài mô thức đó.

Chiêu Anh Các để lại nhiều thơ, nhưng tác giả hầu hết đều thuộc người Trung Quốc và chưa sống ở Việt Nam, thơ văn lại gò bó trong việc họa vần, hạn đề nên không phản ảnh nếp sống, tâm tư người Việt. Chúng ta ngày nay, mặc dầu ghi nhận sự hiện hữu của nhóm thi nhân nầy nhưng không thể xét về mặt tư tưởng cũng như ngôn từ như là đối tượng của việc nghiên cứu một trường phái ở  Việt Nam để tìm hiểu về một giai đoạn của lịch sử văn học Việt. Chúng ta có thể xem xét riêng trường hợp Mạc Thiên Tích và Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh vì tác giả sống ở Việt Nam, hòa đồng cuộc đời với dân tộc Việt, sự khảo sát, do đó lợi ích vì giúp ta hiểu thêm một người Việt, cũng như tư tưởng của một người gắn bó với vùng đất mới, ưu tư vì nó, lo lắng vì nó.

Đại cương tư tưởng của Mạc Thiên Tích nổi bật ở những điểm:

A. Nói lên được niềm kiêu hãnh của mình.
Thừa hưởng sự nghiệp đồ sộ của cha, giữ vai trò quan trọng đối với Chúa Nguyễn, nhận tước lớn của triều đình lúc mới ba mươi tuổi, Mạc Thiên Tích chắc chắn có sự tự hào riêng. Thơ ông, mặc dầu xuất phát từ cảm hứng, từ tinh thần sùng thượng văn chương, vẫn bộc lộ niềm kiêu hãnh của một vị tướng trẻ đang nắm quyền tuyệt đối ở địa phương và rất có thế giá với triều đình. Nền tự hào nầy thể hiện ở chỗ Mạc Thiên Tích ca tụng đất Hà Tiên, ông coi: a. Hà Tiên như cửa ải của Nam Hà. Về địa thế cũng như chiến lược, Hà Tiên đóng vai trò cửa ải án ngữ đường vào nội địa Đàng Trong. Quân Cao Miên hay Xiêm La muốn quấy rối Chúa Nguyễn không thể không đụng đầu với họ Mạc. Có thể nói vai trò của Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích cũng như vùng đất biên thùy dưới quyền họ làm “phên che giậu chống” cho đất Chúa Nguyễn. Các vị chúa như Phúc Chu, Phúc Trú chỉ có thể yên ổn mặt Nam với sự trung thành và lòng tận tâm của họ Mạc. Nhận thức được vai trò quan trọng của mình, Mạc Thiên Tích luôn luôn ca tụng vùng đất thuộc quyền như một nơi hiểm yếu, chớn chở do thiên nhiên tạo dựng, quân giặc không thể tấn công được. Trong đoạn mô tả cảnh “Kim dự lan đào”, “Bình San điệp thuý”, tác giả bộc lộ niềm kiêu hãnh đó, nhiều khi đến mức độ tuyệt đối, thách đố cả các sức mạnh siêu nhiên: “dầu quỷ thần hẳn âu chớn chở”:

“Giữa trời một đỉnh cao xây,
Sáu ngao ấy giá, năm mây là lầu.
Trải nghìn thu con vua ngậm đá.
Suy hình hài như thả ngọc phong.
Kim thang đứng sựng giữa dòng.
Công cao nhạc lộc tuổi đời kiền khôn,
Chốn hải môn, tiết còn rành rạnh1,
Chốn miếu đường một cảnh vơi xa.”
(Kim Dự lan đào)
Hoặc
“Thợ trời sao khéo tạo hình;
Đá giăng lưng hạm cây đoanh khúc rồng”.
(Bình San điệp thuý)

Mặc dù thiên nhiên hiểm yếu, thuận lợi cho người cai quản, nhưng nếu chủ tướng bất tài, chểnh mảng việc phòng bị, không biết tổ chức quân sự, địa thế chiến lược cũng mất. Do đó Mạc Thiên Tích ngầm nói lên công lao với Chúa Nguyễn bằng cách mô tả những công trình xây dựng của mình như đắp thành để ngăn nước, lập hải cảng quân sự để tăng cường khả năng chiến đấu …
“Bồi thành dài, mặt chóng nước xa.
Ghe phen  chiến hạm vào ra,
Thu hào vỡ mật, phục ba kinh lòng”.
(Kim Dự Đào lan).

Về quân sự ông đã thực hiện được sự canh phòng hoàn hảo: chiều vừa xuống quân lính đã bố trí cơ đội phân minh cẩn thận canh chừng suốt đêm. Bài Giang thành dạ cổ, tác giả dùng một đoạn thật dài để nói về sự việc nầy:

“Dụt vạc sôi, bốn phương thạnh phước,
Phép nhà binh mỗi chước mỗi hay
Ác vàng vừa lặn hang Tây,
Liễu dinh tiếng trống vang dầy sơn xuyên.
Lịnh một truyền cửa viên giải áo.
Vạc lậu đồng vừa báo sơ canh.
Nhung hàng cơ thứ phân minh”.

Kết quả sự cực nhọc của quân sĩ trong việc canh phòng: quân giặc không giám động tịnh: “Giao nghe nhởm gáy, chuột rình nép hơi.” Việc xếp đặt thứ tự trong cơ quan đầu não dưới quyền cũng được chú ý cặn kẽ, người trên kẻ dưới phân minh, có thể nói tổ chức ở đây qui củ, hoàn bị giống như nơi có truyền thống lâu đời, nơi kinh đô, đô hội: “Biết phân ngôi, biết phân chủ khách, Tuy giang thôn, nào khác Trường An.” b. Hà Tiên như vùng đất đẹp đẽ, thanh tú. Nếu vùng đất thuộc quyền chỉ quan trọng ở thiên nhiên hiểm trở, được bố phòng cẩn mật, có tổ chức qui củ, có lẽ Mạc Thiên Tích cũng chưa hãnh
diện mấy vì như vậy Hà Tiên sẽ như một biên thùy xa xăm không ai muốn đến và người cai quản chẳng khác nào một vị tướng quân bị lưu đày. Hà Tiên trái lại, dưới mắt Mạc Thiên Tích không hoang vắng tiêu sơ, mà đẹp đẽ, thanh tú, đó đây phô bày phong cảnh hữu tình, thần tiên.

* Cảnh “Bình San điệp Thuý” lúc nào cũng um tùm, phơi phới, sinh động với ngàn hoa ong bướm, mát mẻ, xanh tươi với cây xanh, mây phủ thu hút mọi người.

Lược đông phong chải đầu điệp thuý,
Lúc mưa xuân rơi phỉ muôn cành.
Rờn rờn trúc lục thông xanh.
Chồi Xuân non bện, là quỳnh phới gie.
Ong với ve om sùm cụm liễu,
Bướm dập dìu lẽo đẽo chòm hoa.
Mây liền ba khóm một tòa,
Dưới trên bích mát, gần xa xanh giè”.

* Cảnh “Nam phố trừng ba” mặt nước phẳng lặng như tấm lụa xanh trải rộng một bức vóc long sa mà tay nhân tạo không thể dệt nên. Cảnh Nam Phố đẹp như cảnh phượng hoàng
trì trong ngự uyển, điểm nhiễm có con cá đớp mực, bơi lội thung thăng có những con hạc tránh khói bay lượn quanh quẩn, có những đàn nhạn đàn âu tụ tập, vui vầy hớn hở đón mừng quang cảnh buổi xuân thiên minh mị.”

“Đố ai dệt được long sa cho tài,
Phẳng lặng thay bãi dài biển rộng.
Mây phượng trì một giống quan tinh.
Đã hay ai lai láng dòng xanh,
Cá phung nước mực hạc quanh khói trà.
Nhạn gần xa hãy còn hiệp lũ
Chốn bãi nồm bay phủ mừng Xuân!”

* Cảnh “Kim Dự lan đào” dễ mê hoặc lòng người vì trời cao, biển rộng, núi vượt lên không kéo dài ra tận bãi tạo thành gành vịnh đẹp đẽ, quyến rũ. Du khách đến đây thấy lòng thảnh thơi như bước vào cõi tiên cảnh phật: “Khách thoạt nhìn sực nhớ Bồng Lai. Thú mầu quến rũ lòng ai, Say sưa biển rộng dùi mài non Tiên. Thế tự nhiên, gành câu vịnh lưới, Nước cùng non, trên dưới đều ưa”.

* Cảnh “Thạch Động thôn vân”: tác giả mô tả cảnh huyền ảo của một cửa động chập chùng đá dựng, quanh năm mây tỏa lung linh, người đứng phía trước có cảm tưởng như lạc bước Thiên Thai gần cũng đó, xa xôi cũng đó:
“Chập chùng đá lập cao dày,
Một hang khép mở năm mây ra vào.
Tưởng động đào năm mây lại sót.
Đoái tư bề ngun ngút khí linh.
Trời gần gang tấc chẳng chừng.
Kề tòa Bắc Đẩu dựa đình Tử Hư”

Bước vào động đá, cảnh thăm thẳm hiện ra, hang dài không biết đâu cùng, gió lộng, mây luồng, mỗi cơn gió thoảng, từng cùm mây tỏa ra lơ lửng, chập chờn tạo thêm sự huyền bí, kỳ ảo. Lúc trời yên tĩnh, mây tụ lại lưng chừng thạch động, gây cảnh lung linh, xa cách thế tục:
“Một hang thăm thẳm thay là,
Đã phun tấm gió, lại hà năm mây.
Khi tan bay hòa trời lóm khóm.
Khi tụ về một đám lung lưng.
……………………………………..
Khắp bốn phương gồm về một động,
Mây hư linh hồ rộng khắp xa.
Rỡ ràng sắc cỏ màu hoa.
Đào say thức ráng, mai lòa đóa trăng”

B. Chí khí họ Mạc .
Chọn mười đề tài đưa ra ngâm vịnh. Mạc Thiên Tích có lý do riêng của ông, bày tỏ niềm kiêu hãnh và phô diễn chí khí mình. Lê Quí Đôn trong Kiến Văn tiểu lục, mục Thiên Chương, sau khi chép lại hai bài xướng Lộc trĩ thôn cư và Lư khê ngư bạc đã hạ bút: “Khá biết chí khí của Họ Mạc!” Nhưng chí khí gì không thấy Lê qúí Đôn nói, chúng ta phải tựmình tìm hiểu thôi. Ta nên biết bài xướng bằng Hán văn của Mạc Thiên Tích cùng đầu đề và diễn ý tương tợ với bài vịnh quốc âm. Trong bài Lộc trĩ thôn cư nôm tác giả mô tả thanh bình, long thạnh dưới quyền quản trị của ông:

“Người bốn phương vầy làm một tác,
Tranh cỏ sưa lưu lạc dưỡng an.
Khóm non tiếng nước chan chan.
Thú vui bốn thú dân nhàn bốn dân
Dầu muôn dân đợi thời mây gió,
Lòng chưa nguôi chúa ngõ  tôi ngay.”

Như vậy chí khí họ Mạc không ở chỗ làm người tướng quân cai trị một mảnh đất nhỏ bằng
oai lực, mà nắm nơi điểm ra tay vỗ về, tạo lập êm ấm cho nhân dân vì chính ông tự sửa đổi mình trở thành bậc lãnh tụ tài giỏi. Ông cho rằng mình ra oai, đem tài thi thố, vùng đất Hà Tiên mặc dầu xa xôi cũng trở nên phồn thạnh như kinh đô Trung Quốc:
“Đồng Châu nội Vũ ra tay,
Khi câu nước trị, khi cày nhà an.
Người thanh nhàn vật thì long thạnh,
Dân bang kỳ ỷ sáng kỳ Tây”
Nhờ đó dân cư sống đời nhàn hạ:
“Bên sông có mấy nhà ngư,
Xa xem bóng ngỡ bức đồ đan thanh.
Sánh thị thành lấy làm nhàn nhã”

Bài Lư khê ngư bạc, hầu hết phô diễn ý đó, tác giả bên ngoài mô tả cảnh người chài lưới làm việc với những dụng cụ thô sơ, với công tác lao nhọc, bên trong hàm ý nói về mình như một vị tướng tài đánh Đông dẹp Bắc, quân giặc lớn bé đền kinh, nép mình sợ hãi, do đó vùng đất ông cai quản đựơc vô cùng yên ổn:
“Đăng, nò hai loại một môn,
Lụa kình nhử ngạc sóng cồn lao xao.
Thiếp ba đào kia người đóng đáy.
Tóm trăm loại một đãy lược thao.
Chia nhau lớn bé thấp cao.
Cá rồng mệt mắt, kình ngao lẫn tròng.
Đã càn sông lại càn tới rạch.
Chờ cạn cồn mỗi cách mỗi hay.”
Tư tưởng Mạc Thiên Tích luôn luôn hướng về việc bày tỏ vai trò mình, tài trí mình nên tác
phẩm thường ngụ ý đề cao, chẳng hạn ông khen mình: Gõ gươm thần vũ, dân lành khỏi nghiêng hay ca tụng đàn cò về núi Châu Nham: Biết chỗ mà nương ấy mới khôn. Thật ra đây chỉ là những cách nói: mình tài đức dân chúng biết lo xa, biết thấy trước cuộc sống dễ dàng của vùng đất Hà Tiên, kéo nhau về … Chí khí họ Mạc không nằm trong vài câu, năm ba chữ mà bàng bạc khắp mọi bài thơ, ẩn tàng trong các đề tài. Chọn một phong cảnh đặt một đầu đề, tác giả đều có dụng ý. Ông Đông Hồ đã thấy được tâm can của Mạc Thiên Tích khi viết: “Chọn và đặt tên mười đầu bài nầy ngoài việc vịnh danh thắng, ca tụng phong quang họ Mạc còn có dụng ý nói lên chí khí tâm sự của mình, tuyên truyền qui quyền thế lực của mình, phô trương trù phú phồn thịnh của đất nước do tay mình khai thác, mở mang, nghiễm nhiên hùng cứ một tiểu quốc độc lập ở chốn hải giác biên đình.
1. Kim Dự và Bình san là hai cảnh hải đảo sơn cương. Giới thiệu địa thế vững vàng như thái sơn bàn thạch.
2. Tiêu tự và Giang thành là hai cảnh kiến trúc qui mô, một biểu thị cho đạo đức là chùa chiền và một biểu thị cho quân sự là đồn luỹ.
3. Thạch động và Châu nham là hai cảnh sơn nham thạch cốc bí tàng phong phú, thiên bảo vật hoa.
4. Đông hồ và Nam phố là hai cảnh hồ hải khoáng hoạt tung hoành, tự nhiệm tiêu dao trong vân thủy yên hà.
5. Lộc trĩ và Lư Khê là hai cảnh sinh hoạt thôn trang nhà đủ người no, nhân dân an cư lạc
nghiệp1“
1 Đông Hồ – Văn học Hà Tiên – Sđđ, trang 36.

Mạc Thiên Tích ngâm vịnh như một phương tiện để bày tỏ niềm kiêu hãnh cũng như hé cho người khác thấy sự quan trọng của ông. Trong bài tựa Hà Tiên thập vịnh, đề năm Đinh tỵ (1737) ông ca tụng cha mình, gián tiếp đề cao người tiếp nối cơ nghiệp đồ sộ được để lại: “Trấn Hà Tiên, nước An Nam xưa vốn vùng hoang dã, xa xôi. Khi tiên quân
ta mở mang đến giờ, hai ba mươi năm qua, dân cư mới được yên ổn đo lường và trồng trọt …Mới biết rằng non sông Hà Tiên nầy đã được thấm nhuần phong hóa của tiên quân ta mà mà thêm phần tráng lệ.”1
Thơ Mạc Thiên Tích trôi chảy, nhiều ý thơ mới lạ, chữ dùng chính xác, âm hưởng thanh tao … Nhưng kỹ thuật đó không quan trọng, tư tưởng Mạc Thiên Tích mới quan trọng. đó là tư tưởng của người mang niềm kiêu hãnh riêng lúc nào cũng muốn bộc lộ, mang hoài bão lớn 2 nhưng ở vị thế đặc biệt nên chỉ dám nói xa gần. Hà Tiên Thập cảnh khúc vịnh vì vậy như một bức thơ, một sứ điệp của Họ Mạc gởi cho Chúa Nguyễn, nếu chỉ chú ý đến chỗ trang hoàng, đến màu hoa sắc là chúng ta sẽ sao lãng nội dung và không hiểu ý họ Mạc. Chúa Nguyễn ngày xưa đã biết được ẩn ý đó của Mạc Thiên Tích nên trọng vọng ông. Điều nầy giúp ta hiểu tại sao Mạc Thiên Tích dốc lòng trung thành với Nguyễn Ánh và giúp ta giải thích nguyên nhân gần nửa thế kỷ cuối đời, ông không sáng tác thêm tác phẩm Nôm nào nữa.

NGỌC PHƯƠNG NAM

About these ads

4 thoughts on “Hà Tiên thập vịnh Mạc Thiên Tích

  1. Hà Tiên Thập Vịnh
    Hà Tiên thập vịnh là tên một tập thơ chữ Hán đầu tiên của Tao đàn Chiêu Anh Các được Mạc Thiên Tứ cho khắc in năm Đinh Tỵ (1737) ở Hà Tiên (Việt Nam). Đây là tác phẩm được Phan Huy Chú đánh giá là “êm ái, xinh đẹp, đáng học”
    Các đề tài trong thi phẩm được tác giả cố ý xếp theo thứ tự từng đôi một, như sau:
    • Kim Dữ lan đào và Bình San điệp thúy: Cảnh Kim Dữ là địa điểm hiểm yếu của địa thế; thì đối lại, cảnh Bình San lại là cảnh trí an nhàn, thanh tú.
    • Tiêu Tự thần chung và Giang Thành dạ cổ: tiếng chuông chùa Tiêu nhằm đối lại tiếng trống ở đồn Giang Thành.
    • Thạch Động thôn vân và Châu Nham lạc lộ: cũng là cảnh động đá, nhưng cảnh Thạch Động thì diễm ảo, còn cảnh Châu Nham thì sáng sủa, phân minh.
    • Đông Hồ ấn nguyệt và Nam Phố trừng ba: Ở bài Đông Hồ, điểm nhấn là “nguyệt”(trăng); đối lại với cảnh Nam Phố, điểm nhấn là “trừng ba” (sóng lặng).
    • Lộc trĩ thôn cư và Lư Khê ngư bạc: Hai bài có những cái đối nhau: Lư (cá vược) đối với lộc (nai), khê (khe nước) đối với mũi núi (trĩ). Tác giả cũng đã khéo mượn cảnh ngư bạc để đối lại cảnh thôn cư, để minh chứng rằng vùng đất mới Hà Tiên, nghề nào cũng phong phú.
    1. Kim Dữ lan đào, hay Kim Dự lan đào (金 嶼 攔 濤) , là tên hai bài thơ của Mạc Thiên Tứ; một bằng chữ Hán được xếp trong tập Hà Tiên thập vịnh được khắc in 1737; một bằng chữ Nôm được xếp trong tập Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh. Cả hai bài đều mô tả cảnh đẹp của núi Kim Dự, một trong mười thắng cảnh của đất Hà Tiên (Việt Nam) xưa.
    Thi sĩ Đông Hồ giải nghĩa: Kim dữ là hòn đảo vàng. Lan là khép cảnh cửa lại, ngăn chặn, như cánh cửa khép lại. Đào là sóng gió. Vậy, Kim dữ lan đào là hòn đảo vàng ngăn chặn sóng gió từ ngoài biển không lọt vào được bên trong.
    Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức mô tả núi Kim Dữ lớn (Đại Kim Dữ) như sau:
    Đại Kim Dữ ở vùng bãi biển phía nam trấn, chu vi 193 trượng 5 thước ta. Đảo nầy ngăn sóng giữ, ấy là hạt ngọc biển của trấn. Nơi bờ có bắc cái cầu ván để thông lối ra vào, phía sau có viện Quan Âm, là chỗ Tống Thị Sương[4]thêu tượng Phật Bà tịnh tu; phía trái có điếu đình, khi có gió mát trăng trong, khách du ngoạn thường buông câu ngâm vịnh. Phía trước có đặt trại thủ bị, phía tây nam xây lũy đá bao quanh để giữ giặc biển. Đây là cảnh Kim dữ lan đào [đảo Kim (vàng) ngăn sóng], một trong 10 cảnh đẹp ở Hà Tiên.[5]
    Trải bao năm tháng, đồn lũy xưa trên đỉnh núi chỉ còn là phế tích. Giờ đây, ở nơi đó, người ta đã cho xây dựng một toà kiến trúc bề thế, đó chính là khách sạn Pháo Đài. Còn dưới chân núi, con đường bằng đá (đường Cầu Đá) ngày xưa nay đã được mở rộng và trải nhựa. Năm 2003, người ta cũng đã xây dựng cầu bê tông nối liền đôi bờ của cửa biển Hà Tiên. Đứng từ đỉnh, người ta có thể chiêm ngưỡng cảnh biển, cảnh Đông Hồ và phố chợ Hà Tiên. Núi này nay thuộc phường Pháo Đài, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
    2. Bình San điệp thúy (chữ Hán: 屏山疊翠) có nghĩa Núi dựng một màu xanh…
    Bài thơ miêu tả cảnh đẹp của núi Bình San hay Bình Sơn, một trong mười thắng cảnh của đất Hà Tiên (Việt Nam) xưa. Nay núi thuộc phường Bình San, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
    Bình San là một dãy núi như bức bình phong che chắn gần hết mặt phía Tây thành Hà Tiên xưa. Điệp Thuý có nghĩa là ngút ngàn, lớp lớp một màu xanh trập trùng. Núi này còn có tên gọi là núi Lăng, vì trên núi có lăng mộ Mạc Cửu, con cháu họ Mạc và các vị quan văn võ khác.
    3. Tiêu Tự thần chung (chữ Hán: 蕭寺晨鐘) có nghĩa Chuông sớm ở chùa vắng…
    Theo Nghiên cứu Hà Tiên, trong Hà Tiên thập vịnh in năm 1737, bài thơ có tên Tiêu Tự hiểu chung. Khi họa vận mười bài thơ này vào năm 1753, Nguyễn Cư Trinh đổi tựa lại là Tiêu Tự thần chung.
    Sách Gia Định thành thông chí chép:
    Địa Tạng Sơn (núi Địa Tạng) Ở về phía bắc của trấn, cách núi Phù Dung 5 dặm. Trên núi có chùa Địa Tạng, vì vậy nên có tên là núi Địa Tạng. Chùa nầy công đức trang nghiêm, ai vào cửa chùa bỗng thấy tắt hẳn tục niệm tham sân, thật là cảnh giới làm bậc thang để đến non Thứu. Đây là cảnh Tiêu tự thần chung (chuông mai chùa vắng) là một trong số 10 cảnh đẹp của Hà Tiên.

    4. Giang Thành dạ cổ (chữ Hán: 江城夜鼓), có nghĩa tiếng trống đêm Giang Thành…
    Sông Giang Thành bắt nguồn từ Vương quốc Campuchia, xưa người Khmer gọi sông này là Prêk Ten, vì bên cạnh nó có một thôn ấp cổ tên là Tà Ten[1]. Sông chảy vào Việt Nam theo hướng Bắc Nam, dài khoảng 23 km, nằm trên địa phận xã Tân Khánh Hòa, xã Phú Mỹ, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, rồi đổ vào vũng Đông Hồ ở thị xã Hà Tiên, trước khi ra vịnh Thái Lan.
    Sông Giang Thành nối liền với kênh Vĩnh Tế, tạo thành tuyến đường thủy quan trọng từ thị xã Châu Đốc đến thị xã Hà Tiên. Nó cũng góp phần đưa nước ngọt từ sông Hậu về tỉnh Kiên Giang phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt. Chỗ sông Giang Thành và kênh Vĩnh Tế gặp nhau gọi là ngã ba Giang Thành; và đây chính là một thắng cảnh của trấn Hà Tiên xưa, mà Mạc Thiên Tứ đã chọn làm đầu đề.
    5. Thạch Động thôn vân (chữ Hán: 石洞吞雲), có nghĩa động đá nuốt mây…
    Thạch Động còn được gọi là Vân Sơn, là một ngọn núi nhỏ nằm ở xã Mỹ Đức, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Đây là một khối đá vôi Pecmi sót khổng lồ, đứng sừng sững trên một đồi cát kết Đêvôn-cacbon sớm (cao 10 m), ở ngay ven đường Hà Tiên đi Campuchia.
    Từ trung tâm thị xã Hà Tiên theo con đường nhựa đi về hướng biên giới Tây Nam, khoảng 3 km sẽ gặp núi Thạch Động nằm cạnh bên đường, với nhiều cỏ dại và cây xanh. Leo hết những bậc thang là một hang cao và rộng, có nhiều thạch nhũ với những hình thù lạ mắt. Ở đó còn có một ngách hang ăn sâu xuống lòng đất, khiến không biết từ bao giờ ngách hang sâu này cùng với những vân đá tượng hình cô gái lờ mờ trên vách đứng, đã hình thành nên câu truyện cổ tích Thạch Sanh chém chằn. Ngoài ra, trong hang còn có chùa cổ Tiên Sơn. Tương truyền trước khi có chùa, đây là am tu của đạo sĩ Huỳnh Phong Chơn Nhơn (sau tu theo Phật, nên đổi hiệu là Huỳnh Phong Hòa thượng), dưới thời Mạc Cửu. Nhờ hai cửa hang ở trên cao (cửa phía Đông và cửa phía Tây), nên trong hang lúc nào cũng thoáng mát, và cũng nhờ nó mà người viếng cảnh nhìn thấy toàn cảnh thôn Vân, cửa khẩu Xà Xía, và mũi Nai ở phía xa…
    6. Châu Nham lạc lộ ( chữ Hán: 珠岩落鷺), có nghĩa là Cò về núi ngọc…

    Châu Nham tục gọi là Bãi Ớt, cách trấn về phía đông 22 dặm rưỡi. Đỉnh núi tròn trịa, sườn đá lởm chởm, chạy thẳng đến bờ biển; có những gành đá chênh vênh, vũng sâu bùn cát, quanh bọc 2 bên tả hữu. Trong đó có đá tinh quang, ở dưới nhiều sò vằn đỏ. Tương truyền khi Mạc Cửu còn hèn mọn đến dưới Châu Nham nhặt được viên ngọc đường kính gần cả tấc ta (gần 3,3 cm) quý vô giá, ông kính dâng lên chúa. Bên bờ Châu Nham có vực sâu, là nơi hang ổ của cá tôm, chim cò bơi lội kiếm ăn từng bầy. Đây là cảnh Châu Nham lạc lộ, một trong 10 cảnh ở Hà Tiên.

    7. Đông Hồ ấn nguyệt (chữ Hán: 東湖印月,) có nghĩa hồ phía đông in hình trăng…
    Đông Hồ rộng khoảng 1.047 ha (có nguồn ghi 14 Km2[2]), là nơi hợp lưu giữa kênh Vĩnh Tế với sông Giang Thành trước khi đổ ra vịnh Thái Lan. Lẽ ra nơi đây phải được gọi là đầm, phá hay vũng; nhưng người xưa đã quen gọi là hồ, vì lẽ từ trên cao nhìn xuống, núi Tô Châu (đại Tô Châu, tiểu Tô Châu), núi Kim Dữ và núi Bình San vây quanh, không còn trông thấy cửa biển, nên nó trông giống một cái hồ hơn.
    8. Nam Phố trừng ba (chữ Hán: 南浦澄波), có nghĩa bãi Nam sóng lặng…
    Sau khi quân Xiêm tràn sang đánh phá dữ dội Hà Tiên vào năm 1771, văn thơ thì mất mát, còn người thì tản lạc; lâu dần rồi không ai còn nhớ Nam Phố mà Mạc Thiên Tứ đã nói trong thơ hiện ở đâu.
    Đến năm 1960, thi sĩ Đông Hồ mới công bố lần đầu Nam Phố chính là Bãi Ớt. Ông viết:
    Người khách du lịch đến Hà Tiên vào mùa gió Tây Nam, lúc nào nhìn ra mặt biển cũng thấy cảnh sóng bạc trùng trùng. Như vậy mà, có một chỗ gọi là Nam Phố (tục danh là Bãi Ớt) ở trên đường Rạch Giá – Hà Tiên, cách trấn lỵ Hà Tiên độ 11 cây số. Vì nhờ vị thế nằm khuất vào hai đồi núi nhô ra, che cho cánh bãi không bị sóng gió lọt vào, khiến cho cảnh bãi biển, tuy là trong mùa động Nam mà vẫn yên lặng êm đềm như mặt nước hồ thu.

    9. Lộc Trĩ thôn cư (chữ Hán: 鹿峙村居), có nghĩa xóm quê Mũi Nai…
    Lộc Trĩ, là tên chỉ một mỏm núi nhô ra mặt biển, đi thuyền từ ngoài biển nhìn vào phảng phất giống như hình đầu con nai nằm ghếch mõm ngó ra mặt biển. Theo Đông Hồ thì có lẽ nhân tên Nôm là Mũi Nai nên mới có tên Hán là Lộc Trĩ.
    Sách Gia Định thành thông chí giới thiệu Lộc Trĩ (Mũi Nai) như sau:
    Lộc Trĩ cách trấn về phía tây 43 dặm. Cây cối lửng lơ lưng núi, ngọn núi nhọn đứng chọc trời cao, vượt qua đất bằng mà gối đầu bờ biển. Suối ngọt, đất tốt, nhà cửa nhân dân ở vây quanh dưới bóng núi. Trong 10 cảnh đẹp của Hà Tiên thì Lộc Trĩ thôn cư (xóm quê Mũi Nai) là một cảnh vậy.
    10. Lư Khê ngư bạc (chữ Hán: 鱸溪漁泊), có nghĩa thuyền đánh cá đỗ bến Vược…
    Giải thích từ đầu bài: Lư là cá vược (còn được gọi là cá chẽm. Tên khoa học: Lates calcarifer). Khê là khe nước. Ngư bạc là thuyền câu hay thuyền chài đỗ bến.
    Sách Gia Định thành thông chí chép:
    Khe Lư Khê ở cách trấn về phía đông 7 dặm rưỡi, lại cách về phía đông núi Tô Châu 4 dặm rưỡi. Phía nam thông với biển cả, phía tây có điếu đình (nhà ngồi câu) là di tích của Mạc Quận công khi rảnh đến ngồi câu.
    Khe rộng 2 trượng rưỡi, sâu 5 thước ta, dài 5 dặm rưỡi, dòng khe uyển chuyển lên bắc chảy quanh ra Đông Hồ. Bờ phía đông có dân cư thôn Tiên Thuận ở đấy. Thỉnh thoảng có người dắt bạn (đêm), chèo thuyền đi dưới bóng cây sạch mát, rượu thịt ê hề, hừng đông tỉnh giấc Tô Tử; canh gỏi tươi ngon, hơi thu động niềm Trương công. Dân địa phương hay khách lạ tạt qua đều vui cảnh ấy, nên trong 10 cảnh ở Hà Tiên, có cảnh Lư Khê nhàn điếu (rảnh câu Lư Khê) ấy là ghi chép một việc lạc thú vậy.
    Rạch Lư Khê, xưa có hai nhánh trổ, một nhánh đổ ra biển, một nhánh thông với vũng Đông Hồ. Nơi hợp lại của hai dòng nước tạo thành một ao rộng, nước sâu trong vắt và nhiều cá. Ngược dòng Lư Khê, hai bên là những ngọn núi nhỏ nhấp nhô cùng với những túp lều tranh lúp xúp của dân chài. Về sau, khi quốc lộ 80 được xây dựng, cửa rạch Lư Khê thông ra biển đã bị lấp, con rạch chỉ còn một nhánh trổ ra vũng Đông Hồ.

    From: Luat nguyenvan

  2. MẠC THIÊN TÍCH VÀ CHÚA NGUYỄN

    http://trangchu.hatien.vn/danh-lam-thng-cnh/ho-mac-ha-tien/64-ho-mac-va-ha-tien/96-mc-thien-tich-va-chua-nguyn

    Mạc Thiên Tích (1718-1780). Ông là con bà Bùi Thị Lẫm, người Biên Hòa. Bà là người vợ kế của Mạc Cửu (người vợ đầu không có con trai). Mạc Thiên Tích nhủ danh là Tông, còn có tên là Mạc Tứ, tên hiệu là Sĩ Lân,

    nghệ danh là Sĩ Lân Thị. Ông đã chánh thức đổi tên từ Mạc Tứ sang Mạc Thiên Tích. Năm 1735 ông được chú Nguyễn cho nối nghiệp cha, với chức vụ Hà Tiên Trấn Đại Đô Đốc, tước phong là Tông Đức Hầu (do nhũ danh đầu tiên của ông). Vợ ông cũng là một người Việt Nam.

    Ông đã giúp chú Nguyễn trong việc phòng giữ vùng Hà Tiên khỏi sự xâm lăng của Thái Lan, Chân Lạp và những nhóm cướp biển và mở mang kinh tế vùng này.

    Năm 1756 ông còn thi hành nhiệm vụ của một đặc sứ và giúp chúa Nguyễn mở rộng lãnh thổ miền Cửu Long. Sau khi vua Chân Lạp là Nặc Nguyên thần phục chúa Trịnh, Chúa Nguyễn đã cử Nguyễn Cư Trinh đem binh chinh phạt.

    Nặc Nguyên thua chạy đến Hà Tiên xin Mạc Thiên Tích cho tạm cư. Thiên Tích thuyết phục Nặc Nguyên theo về hàng phục chúa Nguyễn. Nặc Nguyên nghe theo. Vua Chân Lạp dâng đất Tầm Bôn (vùng Tân An), và Lôi Lạp (vùng Gò Công) để tạ ơn. Thiên Tích đã đưa Nặc Nguyên trở về ngôi vua Chân Lạp.

    Năm sau, Nặc Nguyên chết, hoàng tộc Chân Lạp lại tranh giành ngôi vua, con Nặc Nguyên là Nặc Tôn xin Thiên Tích trợ lực. Thiên Tích, với sự chấp thuận của Võ Vương (Người Đầu Tiên trong dòng họ Nguyễn Hoàng, xưng vương) đã giúp cho Nặc Tôn lên ngôi. Nặc Tôn dâng cho Võ Vương vùng Kam pong luôn, (phía bắc của Hà Tiên). Vùng này có tên Việt Nam là Tầm Phong Long.

    “Chú Thích: Tầm Phong Luông hay Tầm Phong Long là một địa danh thuộc Châu Đốc, tiếng khmer: kampong luon, kampong có nghĩa vũng nước, luôn hay luon có nghĩa là vua. Kampong luon có nghĩa là bờ sông có vua đến. Ngày xưa nơi nào vua Chân Lạp ghé ghe (Thuyền) nghĩ ngơi, người Chân Lạp gọi nơi đó là kampong luôn.”

    Về địa lý, địa danh Kampong Luôn hay Tầm Phong Long là một vùng rất rộng trải dài từ Vĩnh Long – Sa Đéc đến khỏi Long Xuyên – Châu Đốc, sang đất Kampuchia ngày nay. Như đã nói, vào thế kỷ 18, vua Chân Lạp (Nặc Tôn) dâng vùng đất này cho Việt Nam, vì vậy một vùng đất gần biên giới Việt Nam – Kampuchia có tên là Tầm Phong Long. Sau này Tầm Phong Long đổi thành Hồng Ngự, tên một quận thuộc tình An Giang.

  3. MẠC THIÊN TÍCH:

    Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam

    http://dictionary.bachkhoatoanthu.go/

    (tk. Mạc Thiên Tứ; tự: Sĩ Lân; 1706 – 80), nhà thơ, danh thần Việt Nam thời chúa Nguyễn Đàng Trong. Con tổng binh Mạc Cửu, người gốc Hoa. Năm 1735, thay cha coi trấn Hà Tiên, được phong đô đốc. Mạc Thiên Tích học rộng, có tài văn thơ, giao du với nhiều danh sĩ Đàng Trong, lập thành một tao đàn lấy tên Chiêu Anh Các. Tập “Hà Tiên thập vịnh” (1737) vịnh 10 cảnh đẹp Hà Tiên, phụ lục thơ hoạ của các nhà thơ trong và ngoài thị xã (một số là người Trung Quốc), gồm 320 bài. Tập “Minh bột di ngư” (chữ Hán) gồm bài phú “Lư Khê nhàn điếu” và 32 bài thơ luật Đường (thất truyền). Nhà thơ Đông Hồ sưu tập được 10 đoạn thơ lục bát gián thất bằng Nôm cũng vịnh cảnh đẹp Hà Tiên tương truyền của Mạc Thiên Tích (“Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh”). Tác phẩm của Mạc Thiên Tích gợi ý cho Nguyễn Cư Trinh sáng tác “Quảng Ngãi thập nhị cảnh”.

  4. Pingback: Mạc Cửu công thần đất Hà Tiên | Ngọc phương Nam

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s